Chương 38: Thuyền Nan Vượt Sóng
Thuộc tiểu thuyết Pháo Đài Phượng Hoàng 1982
Tác giả: Hà Tinh Vân · Thể loại: Khoa Huyễn · Đăng ngày · 2109 từ · khoảng 11 phút đọc
Màn sương đêm dày đặc như một tấm chăn bông ẩm ướt trùm kín vùng biển ven bờ Cát Bà.
Gió bấc thổi từng cơn hun hút qua khe núi đá. Mặt nước vịnh Lan Hạ phẳng lặng trong bóng tối mịt mùng.
Tại một vụng nước kín nép sau rặng sú vẹt hòn Quai Chảo, tám chiếc thuyền nan nan nằm xếp hàng sát mép cát.
Đó là những chiếc thuyền câu nan truyền thống của ngư dân vạn chài Đồ Sơn. Thân thuyền đan bằng những thanh tre cật già ngâm nước muối ba năm, bên ngoài trét ba lớp nhựa đường trộn dầu rái đặc quánh. Thuyền nhẹ bẫng, mớn nước chỉ chìm sâu chưa đầy hai mươi phân. Thuyền không gắn máy nổ, chỉ có đôi mái chèo gỗ nghiến và cánh buồm vải nâu hình cánh dơi.
Lão ngư Bảy Quỳ đứng ở mũi chiếc thuyền đi đầu. Mái tóc hoa râm của người thủy thủ kỳ cựu bết chặt vào trán vì sương muối.
Bác Bảy Quỳ năm nay ngoài sáu mươi tuổi, ngực nở nang, hai bắp tay cuồn cuộn gân guốc. Mười năm trước, bác từng lái thuyền buồm chở đạn chi viện cho đoàn tàu không số của cha Giang ở vùng biển Cửa Nhượng.
Bác Bảy khẽ quay lại, ra hiệu cho mười sáu ngư dân trẻ trên tám chiếc thuyền:
"Các cháu kiểm tra lại dây chằng hàng. Buộc chặt từng bao than kíp lê vào sống thuyền. Che kín bạt lá cọ lên trên, tuyệt đối không để lộ vệt sáng nào."
Mỗi chiếc thuyền nan chở năm tạ than đá kíp lê chuyên dùng cho lò rèn cao tần, mười bao tải dừa già và các hòm gỗ đựng dây đồng bọc men cách điện do Thành ủy Hải Phòng gửi chi viện khẩn cấp.
Dưới đáy khoang thuyền, những người mẹ, người chị đất Cảng còn gửi kèm theo từng đôi bánh chưng xanh gói lá dong, can nước mắm chắt Cát Hải và những phong pháo Tết quấn giấy điều.
Một ngư dân trẻ ghé tai bác Bảy, thì thầm:
"Bác Bảy ơi, ngoài luồng Hòn Mắt có hai chiếc tàu tuần tiễu cánh ngầm của Mỹ chốt chặn. Chúng nó rọi đèn pha quét sáng rực cả mặt nước. Liệu thuyền nan của mình có lọt qua được không bác?"
Bác Bảy Quỳ cười khẽ, hàm răng đen nhánh màu khói thuốc lào ánh lên vẻ tự tin:
"Tàu cánh ngầm của chúng nó chạy bằng tuabin khí, cần luồng nước sâu cả chục sải tay mới hạ cánh ngầm lướt sóng được. Thuyền nan tre cật của dân vạn chài chúng ta lướt trên bãi rạn cạn Tai Mèo, nước chỉ ngập ngang đầu gối thì sắt thép nào đuổi theo cho nổi. Vỏ tre trét dầu rái không bắt sóng radar. Cứ bám sát chân vách đá mà bơi, quỷ thần cũng không phát hiện ra."
Bác Bảy giơ tay phát lệnh:
"Hạ buồm xuống một nửa! Xuất phát!"
Tám chiếc thuyền nan lặng lẽ trôi ra khỏi rặng sú vẹt.
Tiếng mái chèo khua nước êm ru như tiếng cá quẫy đêm đông: *oạp... oạp... lách cách...*
Đoàn thuyền men theo các dải đá tai mèo nhô lên khỏi mép triều kiệt. Sương mù đặc quánh cuộn tròn quanh mạn thuyền, che khuất tầm nhìn xa quá ba mươi mét.
Khi đoàn thuyền tiến vào vùng biển giáp ranh đảo Phượng Hoàng, từ phía ngoài khơi xa, tiếng rít chói tai của tuabin khí bắt đầu rền vang.
Chiếc tàu cánh ngầm Pegasus số hiệu PHM-1 đang tuần tiễu với tốc độ ba mươi hải lý một giờ.
*Vút... BÙNG!*
Một quả pháo sáng dù từ tàu tuần tiễu bắn vọt lên không trung. Ngọn lửa ma-nhê cháy sáng rực rỡ dưới chiếc dù vải trắng, hắt ánh sáng trắng bệch xuống mặt biển trong bán kính hai hải lý.
Cùng lúc đó, chùm đèn pha công suất lớn trên tháp pháo tàu Pegasus quét loang loáng qua các mỏm đá ngầm.
"Áp sát vách đá! Thả rong biển ngụy trang!" Bác Bảy Quỳ hạ giọng hô dứt khoát.
Tám chiếc thuyền nan lập tức tạt vào các hốc đá vôi carxtơ lõm sâu dưới chân vách núi.
Các ngư dân nhanh tay kéo những chùm rong mơ, rong đuôi chồn ướt sũng phủ kín lên mạn thuyền và cánh buồm. Toàn bộ con thuyền biến thành một gờ đá rêu phong nằm bất động giữa làn nước biển dập dềnh.
Chiếc tàu cánh ngầm Pegasus lướt qua cách hốc đá chưa đầy năm trăm mét.
Trên nóc tháp chỉ huy của tàu Mỹ, chiếc ăng-ten radar mảng pha băng tần X xoay tròn liên tục từng giây. Sóng điện từ quét lia lịa vào vách núi đá vôi.
Nhưng tre cật ngâm nước biển cùng lớp rong biển ướt sũng hoàn toàn triệt tiêu sóng phản xạ. Trên màn hình radar của tàu đối phương, hốc đá nơi đoàn thuyền ẩn nấp chỉ hiện lên như một gờ đá vô tri vô giác của bờ đảo.
Ngọn pháo sáng dù tắt ngấm, rơi tõm xuống lòng biển đen ngòm. Màn đêm dày đặc lại ập xuống trùm kín mặt nước.
Chiếc tàu cánh ngầm gầm rú lao về hướng đông nam.
Bác Bảy Quỳ nhổ bãi bọt thuốc lào xuống biển, vỗ vai người chèo lái phía sau:
"Thấy chưa! Mắt sắt của chúng nó bị tre cật Đồ Sơn bịt mắt rồi! Chèo nhanh lên các cháu, nước triều đang bắt đầu rút!"
Tám chiếc thuyền nan đồng loạt bung mái chèo, rẽ sóng lao vút qua cửa lạch hòn Tai Mèo.
* * *
Tại âu thuyền Hang Đầm Phá, Giang và Mai Vy cùng Đồn trưởng Nam đang đứng trên bờ đá chờ đợi trong căng thẳng.
Chiếc đồng hồ đeo tay của Giang chỉ hai giờ sáng.
Gió bấc ngoài cửa hang rít lên từng hồi buốt giá. Nam siết chặt khẩu súng ngắn bên hông, mắt không rời màn đêm mờ mịt ngoài vụng nước:
"Theo kế hoạch, đoàn thuyền dân gian phải tới từ nửa tiếng trước. Không biết bà con có gặp phải tàu cánh ngầm đối phương ngoài lạch không."
Mai Vy đứng bên cạnh, hai bàn tay đút sâu vào túi áo bông. Ánh mắt cô chăm chú quan sát từng gợn sóng lăn tăn dội vào mép đá:
"Mặt nước ngoài cửa hang có dao động sóng đẩy tới. Tần số sóng rất đều đặn, không phải sóng biển tự nhiên. Có thuyền đang vào hang!"
Lời Mai Vy vừa dứt thì từ trong màn sương đêm đen đặc, mũi chiếc thuyền nan đầu tiên từ từ rẽ làn nước phẳng lặng tiến vào lòng âu.
Trên mũi thuyền, bóng dáng vạm vỡ của bác Bảy Quỳ hiện rõ dưới ánh đèn măng-xông.
"Anh Giang ơi! Đảo Phượng Hoàng ơi!" Tiếng gọi trầm ấm của người lão ngư vang vọng khắp vòm hang đá.
"Bác Bảy! Đội thuyền của bà con về rồi!"
Giang reo to, bước nhanh xuống mép cầu tàu lát đá.
Bác Bảy Quỳ nhảy thoăn thoắt từ mũi thuyền lên bờ, ôm chặt lấy Giang. Hai bàn tay gân guốc của người thợ lặn già vỗ chan chát vào lưng người chỉ huy trẻ:
"Cháu Giang! Anh em bộ đội và cô Vy trên đảo vẫn khỏe cả chứ? Nghe tin giặc Mỹ mang tàu chiến bao vây đảo, bà con vạn chài đất Cảng ăn không ngon ngủ không yên. Cả hợp tác xã gom góp than đá, dừa già và phụ tùng cơ khí đưa ra cho các cháu đây!"
Bảy chiếc thuyền nan phía sau lần lượt ghé sát vào bờ đá.
Các chiến sĩ công binh và thợ máy ùa ra mép nước. Tiếng cười nói, tiếng chào hỏi ríu rít xua tan cái lạnh giá của đêm đông biên cương.
Từng bao tải than kíp lê nặng trịch được các chiến sĩ chuyền tay nhau vác lên bờ. Hàng trăm quả dừa già, những cuộn dây đồng sáng loáng và từng kiện hàng tiếp tế được xếp ngay ngắn trên thềm xưởng cơ khí. Viên thượng úy phụ trách kho dùng mũi dao găm rạch nhẹ miệng một bao dừa khô, bốc một quả lên gõ thử vào thành đá. Tiếng kêu côm cốp đanh giòn vang lên trong vòm hang. Cùi dừa bên trong dày dặn, lượng dầu tích tụ đậm đặc, đủ nguyên liệu cho tổ của Mai Vy chuẩn bị mẻ este hóa tiếp theo vào sáng sớm mai.
Một bà cụ tóc bạc phơ từ khoang chiếc thuyền nan thứ ba bước lên bờ, trên tay ôm bọc vải điều ấm áp:
"Cháu Giang, cháu Vy đâu rồi? Bác là mẹ thằng Tuấn thợ tiện xưởng Duyên Hải đây. Mẹ gói cho các cháu chục chiếc bánh chưng xanh ăn Tết sớm. Ăn để lấy sức mà đánh giặc, giữ lấy biển trời quê hương!"
Mai Vy bước lại gần, hai bàn tay cô run nhẹ khi đỡ lấy bọc bánh chưng còn ấm nóng mùi lá dong từ tay người mẹ đất Cảng.
Mùi nếp thơm, mùi đỗ xanh và hạt tiêu cay nồng ngào ngạt lan tỏa trong lòng bàn tay cô gái trẻ.
Mai Vy xúc động sâu sắc. Ở thế giới tương lai của cô, chiến tranh là cuộc đấu giữa các cỗ máy tính lượng tử, máy bay không người lái và tên lửa siêu thanh. Con người chiến đấu bằng các thuật toán lạnh lùng và những nút bấm cơ học xa cách hàng ngàn cây số.
Nhưng ở đây, giữa hòn đảo tiền tiêu năm 1983 này, cô đang chứng kiến một thứ sức mạnh hoàn toàn khác biệt.
Đó là sức mạnh của nhân dân.
Những con thuyền nan đan bằng tre nứa thô sơ, những người mẹ, người bác ngư dân bình dị không súng đạn trong tay, nhưng sẵn sàng liều mình cưỡi sóng vượt qua mạng lưới radar hiện đại nhất thế giới để mang từng cân than, chiếc bánh chưng ra tuyến đầu cho bộ đội.
Không có vệ tinh nào chụp ảnh được tấm lòng của nhân dân. Không có máy tính điện tử nào tính toán được ý chí quật cường của những con người bám biển.
Robert Vance và Hạm đội Bảy có thể phong tỏa các tuyến tàu hàng lớn, nhưng họ không bao giờ phong tỏa được hàng triệu con tim hướng về biển đảo quê hương.
Giang nắm chặt lấy bàn tay thô ráp của bác Bảy Quỳ, giọng anh nghẹn ngào vì xúc động:
"Thay mặt cán bộ chiến sĩ đảo Phượng Hoàng, cháu xin cảm ơn bà con cô bác đất Cảng! Có sự chi viện này của nhân dân, chúng cháu xin hứa sẽ giữ vững hòn đảo đến giọt máu cuối cùng!"
Bác Bảy Quỳ cười vang, vỗ vai Giang và chỉ vào các bao than kíp lê:
"Có than tốt rồi, máy tiện mới có rồi, các cháu đúc thêm nhiều vũ khí vào! Đánh cho tàu chiến Mỹ không dám bén mảng lại gần vịnh Bắc Bộ nữa!"
Đồn trưởng Nam cùng các chiến sĩ công binh nhanh chóng khiêng những hòm gỗ đựng dây đồng bọc men vào gian hang trong cùng để tránh hơi ẩm muối biển. Chú Tấn thợ nguội cầm chiếc kìm bấm khẽ tước thử một đoạn vỏ bọc cách điện của cuộn dây đồng số bốn, gật đầu tấm tắc:
"Đồng nguyên chất dẻo quẹo, lớp sơn cách điện hai lớp chịu nhiệt cực tốt! Với số dây này, tổ điện của tôi quấn lại toàn bộ ba cuộn dây thứ cấp cho máy phát điện dự phòng và bộ biến thế cao tần chỉ mất đúng hai ngày công."
Bên cạnh bếp than dã chiến, khói lá cọ và củi đước bắt đầu tỏa ra mùi ngai ngái quen thuộc. Nồi nước chè vằng lớn được bắc lên, sôi lục bục trên bếp lửa hồng. Bác Bảy Quỳ ngồi bệt xuống phiến đá kê gần cửa hang, đón lấy bát chè nóng nghi ngút khói từ tay một chiến sĩ trẻ, nhấp một ngụm rồi thở phào nhẹ nhõm.
Giang lấy cuốn sổ tay công tác bìa bạt màu xanh lá, ngồi dưới ánh đèn măng-xông đối chiếu từng số hiệu lô than kíp lê với viên thượng úy quân nhu. Tiếng ngòi bút chì vạch sột soạt trên nền giấy kẻ ô hòa cùng tiếng than va vào nhau lách cách bên vách đá.