Chương 54: Bức Tường Nhiễu Âm

Thuộc tiểu thuyết Pháo Đài Phượng Hoàng 1982

Tác giả: · Thể loại: Khoa Huyễn · Đăng ngày · 2092 từ · khoảng 10 phút đọc

Biển đêm mịt mùng sương muối. Gió đông bắc thổi từng đợt lạnh buốt. Những con sóng bạc đầu chồm lên mũi xuồng cao tốc Hải Yến Một. Động cơ diesel đặt trong hầm kín chạy ở chế độ giảm âm. Bọt nước bắn tung tóe qua kính chắn gió.

Giang đứng ở khoang lái. Anh mặc áo phao cứu sinh dày cộp. Hai tay bám chặt tay vịn inox. Bên cạnh anh, chiến sĩ lái xuồng căng mắt nhìn vào khoảng tối mờ mịt phía trước. Chiếc máy thu sóng ngắn mười sáu mét đặt trên giá gỗ phát ra những tiếng rè lách tách ngắt quãng.

Tai nghe của Giang vang lên tiếng Mai Vy từ trạm trinh sát Cao Vọng. Giọng cô rành rọt qua màn nhiễu khí quyển.

"Hải Yến Một, giữ nguyên hướng ba trăm bốn mươi độ. Giảm tốc độ xuống sáu hải lý một giờ. Mục tiêu cách mũi xuồng bốn trăm mét."

Giang gạt nhẹ cần ga sang nấc nhỏ. Tiếng máy nổ trầm xuống thành tiếng thì thầm hòa lẫn tiếng sóng vỗ mạn thuyền. Xuồng rẽ màn sương đêm tiến vào vùng biển giáp ranh.

Hai chiến sĩ trinh sát bò lên boong trước. Họ cầm sẵn sào tre có móc kim loại và phao cứu sinh.

Phía trước mũi xuồng khoảng ba mươi mét, một vệt sáng lân quang nhấp nháy trên mặt nước dập dềnh. Một vật thể hình nón nhô lên khỏi ngọn sóng. Chiếc ăng-ten vi ba nhỏ như ngón tay đang quay tròn từng nhịp. Đó chính là phao trinh sát ngầm AN/SSQ-53B của Mỹ.

"Tiếp cận mạn trái," Giang ra lệnh khẽ.

Chiến sĩ lái xuồng lách nhẹ bánh lái. Thân xuồng lướt êm ép sát mục tiêu.

Giang quỳ xuống sàn boong ướt sũng. Anh đeo găng tay cao su cách điện dày ba milimét. Tay phải anh cầm chiếc kìm mũi nhọn bọc nhựa. Tay trái cầm đèn pin nhỏ bịt giấy đỏ để giảm ánh sáng lọt ra ngoài.

Chiếc phao dập dềnh theo sóng biển. Vỏ phao bằng hợp kim magiê màu xanh ô liu xỉn bám đầy rong rêu. Sợi dây cáp thủy âm kéo dài xuống lòng biển sâu cả trăm mét.

Đồng hồ trên tay Giang điểm từng giây. Mạch tự hủy của phao có thể kích nổ trong sáu mươi giây nếu cảm biến thủy tĩnh nhận biết phao bị nhấc lên khỏi mặt nước.

"Móc sào giữ phao," Giang thì thầm.

Chiến sĩ đi cùng luồn móc sào tre giữ chặt quai treo bằng đồng thau. Giang ghé sát người qua mạn xuồng. Ánh đèn đỏ rọi vào khớp xoay cổ phao.

Một lớp đệm cao su tròn nằm ngay dưới ăng-ten chóp nón. Dưới lớp đệm là hai chiếc chốt giật pin bằng đồng thau nhỏ như ruột bút chì. Đúng như bản vẽ Mai Vy phác thảo trên đỉnh Cao Vọng.

Giang dùng đầu kìm gạt nhẹ lớp cao su cách điện. Chiếc chốt ngắt pin màu vàng thau lộ ra. Anh kẹp chặt mỏ kìm vào thân chốt, ấn mạnh theo chiều kim đồng hồ.

Một tiếng tách nhỏ vang lên. Mạch tiếp điểm ngắt dòng điện từ khối pin thủy ngân vào tụ nổ.

Giang lập tức dùng kéo cắt ngọt sợi dây nối đất màu đen. Đèn tín hiệu nhấp nháy trên đỉnh ăng-ten lịm tắt. Bộ phận tự hủy đã bị vô hiệu hóa an toàn ở giây thứ bốn mươi hai.

"Kéo lên," Giang thở phào, ra hiệu cho đồng đội.

Hai chiến sĩ hợp sức nhấc chiếc phao nặng hơn mười lăm kilôgam cùng khối cuộn dây cáp thủy âm lên sàn xuồng. Họ phủ ngay tấm bạt cao su đen trùm kín thiết bị.

"Báo cáo Cao Vọng, thu hồi thành công mục tiêu," Giang nói vào ống đàm thoại. "Hải Yến Một quay về căn cứ."

Tiếng thở phào nhẹ nhõm của Mai Vy vang lên qua tai nghe: "Chúc mừng các anh. Cửa hang K-82 đang mở sẵn đón xuồng."

Chiếc xuồng quay mũi, tăng tốc lướt qua các khe đá ngầm tiến vào vòm hang đá vôi kín gió.

Tại xưởng lắp ráp ngầm K-82, không khí làm việc đang sôi sục. Bác Bảy và kíp thợ Ba Son đang dựng giàn giáo quanh sống lườn titan. Hàng chục đoạn xương sườn thép chữ T nằm xếp lớp trên sàn hang.

Nhưng một khó khăn lớn nảy sinh. Khi người thợ cầm búa tạ thử gõ gá lắp một đoạn sườn vào sống lườn, tiếng búa đập vào kim loại phát ra âm thanh vang rền. Tiếng chấn động dội vào vách đá vôi, truyền thẳng xuống nền đá hoa cương rồi dội ra đáy biển.

Bác Bảy buông búa, lau mồ hôi trán: "Gay go rồi chú Giang ơi. Để hàn và tán đinh ba mươi hai bộ khung xương sườn này, năm mươi người thợ phải gõ búa liên tục suốt cả tháng. Tiếng đập chan chát này truyền qua vách đá ra ngoài vụng biển xa hàng chục cây số. Mắt lưới phao của địch ngoài kia thế nào cũng bắt được."

Mai Vy vừa xuống khỏi đỉnh Cao Vọng, bước vào khu xưởng. Trên tay cô là chiếc máy phân tích phổ âm thanh xách tay.

"Bác Bảy nói đúng," Mai Vy đặt máy đo lên bàn gỗ. "Đá hoa cương dẫn sóng âm tốt gấp năm lần không khí. Tiếng búa tạ tán đinh có tần số từ năm trăm đến hai nghìn hertz. Đây chính là dải tần mà ống nghe thủy âm DIFAR của phao SSQ-53B bắt nhạy nhất."

Giang nhìn xung quanh vòm hang đá rộng lớn: "Có cách nào triệt tiêu rung chấn này không?"

Mai Vy nhìn vào chiếc phao trinh sát vừa thu hồi đặt trên bàn giải phẫu kỹ thuật. Cô tháo từng chiếc ốc vít bằng thép không gỉ ở cổ phao. Bên trong là một lớp vật liệu gốm xốp bao quanh cụm cảm biến áp điện.

"Chúng ta phải xây một bức tường bẫy âm dã chiến," Mai Vy nói, mắt ánh lên ý tưởng mới. "Âm thanh truyền trong hang đá dội đi dội lại nhiều lần mới thoát ra cửa biển. Nếu ta triệt tiêu tiếng vang ngay trên vách hang và bệ đỡ, năng lượng âm học sẽ tiêu biến thành nhiệt năng."

"Dùng vật liệu gì để ốp kín vòm hang rộng hàng nghìn mét vuông này?" bác Bảy hỏi.

"Dùng gạch gốm bẫy âm xốp từ tro trấu và vôi vỏ hàu nung," Mai Vy giải thích cặn kẽ. "Căn cứ có hàng chục tấn tro trấu thải ra từ các lò sấy và vỏ hàu chất đống ven biển. Ta nghiền mịn tro trấu carbon hóa trộn với bột vôi hàu nung và bột đá bọt núi lửa. Cho thêm một ít mật mía làm chất kết dính dã chiến rồi đóng thành từng viên gạch tổ ong nhẹ xốp."

Bác Bảy gật đầu tán thưởng: "Tro trấu carbon hóa có vô số lỗ rỗng li ti. Khi sóng âm đập vào các lỗ xốp đó, không khí bên trong ma sát liên tục làm suy giảm xung động."

"Đúng thế ạ," Mai Vy tiếp lời. "Ta dùng các tấm gạch xốp này xây một bức tường ngăn đôi cửa hang ngầm. Đồng thời kê toàn bộ bệ đóng tàu lên các lớp đệm cao su MiG-21 lót cát khô để triệt tiêu rung chấn truyền xuống nền đá hoa cương."

Ngay sáng hôm sau, toàn bộ lực lượng căn cứ K-82 bắt tay vào việc. Kíp công binh chia nhau ra các bãi cạn thu gom vỏ hàu cổ. Những đống vỏ hàu lớn được đưa vào lò nung đá vôi thủ công đốt bằng than đá.

Nhiệt độ lò nung đẩy lên hơn chín trăm độ C. Lớp canxi cacbonat trong vỏ hàu biến thành vôi sống trắng xốp. Thợ lò dùng xẻng dập nước tôi vôi, tạo thành lớp bột vôi mịn màng tỏa hơi nóng hầm hập.

Ở góc xưởng bên cạnh, kíp thợ trẻ sàng lọc tro trấu carbon hóa. Tro đen nhánh được giã nhỏ trong cối đá cuội, lọc qua lưới sắt hai milimét để loại bỏ đất cát.

Một chiếc chảo gang quân dụng cỡ lớn được bắc lên bếp. Nước mật mía nguyên chất hòa cùng nước vôi hàu sôi sùng sục. Mùi ngọt ngào của mật mía quyện với mùi vôi nồng bốc lên khắp gian hang.

Thợ nề và chiến sĩ bắt đầu phối trộn vôi hàu, tro trấu và bột đá bọt với nước mật mía sền sệt. Từng mẻ vữa màu xám tro được đổ vào khuôn gỗ ép tay đóng thành những tấm gạch bẫy âm dày mười centimet, mặt ngoài đục lỗ tổ ong chi chít.

Hàng nghìn tấm gạch gốm xốp nhẹ như bấc phơi khô nhanh chóng dưới gió biển.

Kíp thợ khẩn trương xây bức tường bẫy âm chắn ngang cửa ngách dẫn ra biển của hang K-82. Tường xây hai lớp so le, ở giữa nhồi chặt xơ dừa tẩm nhựa đường. Đồng thời, toàn bộ chân đế của đài gá lắp sống lườn titan được kích bổng lên để lót ba lớp đệm cao su dã chiến dày năm mươi milimét xen kẽ các khay cát thạch anh mịn.

Ba ngày sau, công trình hoàn tất. Bác Bảy cầm búa tạ mười cân, vung hết sức đập mạnh vào đầu sống lườn titan.

Một tiếng "bịch" đục ngầu vang lên rồi tắt lịm ngay lập tức. Âm thanh không còn tiếng vang rền lanh lảnh như trước.

Mai Vy đứng ngoài cửa hang ngầm, tay cầm đầu dò máy đo thủy âm nhúng xuống nước biển. Màn hình kim đồng hồ đo xung động gần như đứng yên tại vạch không.

"Độ giảm chấn âm thanh đạt chín mươi lăm phần trăm," Mai Vy mỉm cười quay vào báo tin. "Bức tường gạch gốm bẫy âm hoạt động rất tốt. Kíp thợ có thể thoải mái gõ búa tán đinh cả ngày lẫn đêm mà không sợ lộ rung chấn."

Bác Bảy cùng kíp thợ Ba Son mừng rỡ reo hò. Tiếng búa thép lập tức đồng loạt vang lên giòn giã khắp sàn xưởng ngầm.

Trong gian phòng kỹ thuật nhỏ cạnh bệ lắp ráp, Mai Vy và Giang bắt đầu mổ xẻ chiếc phao SSQ-53B vừa thu hồi.

Dưới ánh đèn bàn soi sáng, bộ bo mạch gốm vi dải tinh xảo hiện ra nguyên vẹn. Từng đường mạch in mạ vàng mảnh như sợi tóc liên kết các vi mạch khuếch đại tín hiệu dải tần mười gigahertz. Khối ăng-ten chóp nón tích hợp bộ lọc thạch anh nhảy tần nằm gọn trong lòng bàn tay.

Mai Vy dùng kính lúp và bút chì đo điện trở, cẩn thận vẽ lại từng khối chức năng của bo mạch lên giấy kẻ ô.

"Đây là bộ dao động thạch anh điều khiển bằng điện áp," Mai Vy chỉ vào con chip vuông nhỏ xíu. "Vance dùng một thuật toán tạo mã giả ngẫu nhiên gồm tám bit để điều khiển bước nhảy tần. Chúng ta đã nắm được dải bước sóng chính xác từ chín phẩy tám đến mười phẩy hai gigahertz."

Giang nhìn sơ đồ mạch trên bàn: "Ta có thể làm gì với thông số này?"

"Chúng ta sẽ chế tạo các phao phát xung nhử mồi dã chiến," Mai Vy đáp, ánh mắt rạng rỡ. "Chỉ cần dùng vài linh kiện bán dẫn cũ của đài radar hỏng, ta có thể tạo ra các máy phát xung vi ba giả lập tiếng ồn của động cơ tàu ngầm thả trôi ngoài vụng biển xa. Vance sẽ bị dẫn dắt bởi chính mắt lưới do ông ta giăng ra."

Giang nắm nhẹ vai cô: "Kế hoạch rất xuất sắc. Ngày mai anh sẽ cho kíp xuồng chuẩn bị linh kiện vỏ phao ngụy trang."

Ngoài xưởng ngầm, tiếng búa gõ định vị khung sườn titan số ba vang lên đều đặn. Bên trong vòm hang đá vôi được che chắn bởi bức tường bẫy âm xốp, con tàu ngầm Phượng Hoàng Đen đang từng ngày thành hình trong sự bảo bọc kiên cố của những bàn tay người lính thợ. Chú Tấn cất tiếng hò sông nước Nam Bộ quen thuộc hòa cùng nhịp búa gõ vang lừng. Đêm đảo tiền tiêu dần trôi trong nhịp lao động hăng say.