Chương 8: Mắt Thần Dưới Lòng Biển Sâu

Thuộc tiểu thuyết Pháo Đài Phượng Hoàng 1982

Tác giả: · Thể loại: Khoa Huyễn · Đăng ngày · 2033 từ · khoảng 10 phút đọc

Đầu tháng 11 năm 1982.

Gió mùa đông bắc tràn về. Từng đợt sóng dài xô mạnh vào thân thép xám tro của soái hạm USS Blue Ridge mang số hiệu LCC-19. Con tàu chỉ huy nổi bật giữa biển trời mây mù ngoài khơi vịnh Bắc Bộ. Trên boong thượng tầng, các giàn ăng-ten chảo vệ tinh và radar quét mảng pha xoay đảo liên tục.

Bên trong Trung tâm Tình báo Tác chiến Liên hợp, nhiệt độ luôn duy trì ở mức 18°C. Không khí khô khốc. Mùi ozone tĩnh điện phảng phất khắp các lối đi hẹp. Tiếng quạt tản nhiệt của dàn máy tính mainframe khổng lồ rù rì suốt ngày đêm. Các cuộn băng từ tính thỉnh thoảng lại quay giật cục, lưu giữ dữ liệu trinh sát điện tử ven bờ.

Đại tá Robert Vance đứng tựa hai tay lên bàn hải đồ.

Mặt bàn chiếu sáng màu lam nhạt. Viên đại tá bốn mươi tám tuổi mặc bộ quân phục kaki phẳng phiu. Trên ngực áo đính cuống huân chương Ngôi sao Bạc. Mái tóc hoa râm cắt gọn ôm lấy vầng trán cao. Đôi mắt xám thép của Vance dán chặt vào tấm hải đồ tỉ lệ một phần năm mươi nghìn, nơi cụm đảo đá vôi phía tây nam vịnh Bắc Bộ được phóng to.

Vance tốt nghiệp thủ khoa Học viện Hải quân Annapolis năm 1956. Gã từng bảo vệ luận án chiến lược phong tỏa hàng hải tại Newport.

Vance là mẫu sĩ quan phân tích dữ liệu thực chứng. Gã nhìn đại dương như một bàn cờ. Từng con sóng ngầm, từng dải tần số vô tuyến vi ba, từng biến đổi áp suất tầng nước sâu đều là các dữ kiện có thể lượng hóa. Vance từng tham gia chiến dịch thả thủy lôi cảng Hải Phòng năm 1972. Gã hiểu rõ một thực tế: người Việt Nam không bao giờ chịu khuất phục trước áp lực quân sự đơn thuần. Khi đối phương im lặng, họ thường chuẩn bị những cách đáp trả bất ngờ.

Có tiếng gõ cửa phòng tác chiến. Một thiếu tá tình báo bước nhanh vào, tay cầm tập hồ sơ kẹp viền đỏ:

"Báo cáo Đại tá, kênh liên lạc FLTSATCOM vừa giải mã báo cáo khẩn từ tàu ngầm tấn công USS Hammerhead."

Vance không quay đầu lại. Gã nhấp ngụm cà phê đen không đường:

"Stone phát hiện được gì?"

Viên thiếu tá trải dải băng giấy in nhiệt lên mặt bàn hải đồ:

"Hệ thống sonar thụ động AN/BQQ-5 của Hammerhead vừa ghi nhận một chuỗi xung chấn âm học tần số thấp."

"Dải tần bao nhiêu?" Vance khẽ nâng cặp kính trắng.

"Đúng hai mươi tám héc, thưa Đại tá. Tín hiệu phát ra từ cụm đảo đá vôi Phượng Hoàng, cách tàu ngầm hai mươi hai hải lý về phía tây bắc. Sóng chấn động truyền qua thềm đá ngầm đáy biển theo chu kỳ nhịp nhàng."

Vance đặt cốc cà phê xuống. Ngón tay trỏ của gã miết dọc theo dải phổ quang âm học.

Một tần số hai mươi tám héc.

Dải hạ âm này nằm dưới ngưỡng nghe của tai người. Nhưng nó có thể lan truyền hàng chục cây số trong nước biển và tầng đá trầm tích. Một xưởng sửa ca nô thông thường chỉ dùng máy phát diesel nhỏ hoặc máy hàn que. Những thứ đó phát ra tạp âm từ một trăm đến năm trăm héc.

Tần số hai mươi tám héc với biên độ dồn dập đòi hỏi một luồng khí nén cưỡng bức cực lớn. Hoặc đó là một buồng cộng hưởng nhiệt áp cao vận hành liên tục.

Vance bước đến bên máy đọc vi phim. Gã kéo cần gạt. Màn hình huỳnh quang màu xanh bật sáng, hiển thị bức ảnh viễn thám từ vệ tinh trinh sát quang học KH-11 chụp ba tuần trước.

Bức ảnh chụp luồng biển ven bờ Hải Phòng trong đêm bão số sáu.

Con tàu vận tải T-14 của đối phương chở bốn trăm tấn hàng rời cảng Cửa Cấm giữa lúc mưa to gió lớn. Máy bay trinh sát điện tử EP-3 bám sát tín hiệu radar của con tàu. Nhưng khi đến gần rạn đá Tai Mèo, con tàu đột ngột biến mất. Phi công báo cáo tín hiệu phản xạ bị vách đá dốc đứng chứa quặng sắt triệt tiêu.

Bộ phận tác chiến hạm đội từng cho rằng con tàu đã bị chìm hoặc tấp vào bãi cạn.

Chỉ riêng Vance nghi ngờ.

Một thuyền trưởng vận tải thông thường không bao giờ dám ép mạn tàu hàng vào sát vách đá ngầm trong đêm bão. Kẻ vạch đường cho con tàu phải hiểu rất rõ quy luật phản xạ sóng radar và luồng lạch. Họ không hề gặp nạn. Họ đã lợi dụng vách đá để giấu vết tích, rồi bí mật đưa hàng ra đảo Phượng Hoàng.

Hôm nay, hòn đảo đá vôi ấy lại phát ra dao động hạ âm hai mươi tám héc.

Viên thiếu tá tác chiến ngập ngừng:

"Thưa Đại tá, liệu đối phương có đang lắp một trạm radar cảnh giới tầm xa do Liên Xô viện trợ? Hoặc họ bố trí pháo bờ biển trong hang đá?"

Vance lắc đầu:

"Nếu là radar, thứ phát tán ra đầu tiên phải là bức xạ điện từ. Các máy bay trinh sát của chúng ta quét suốt một tuần qua không thấy tín hiệu vô tuyến nào. Còn pháo bờ biển thì không cần luồng khí nén nhịp nhàng như thế này."

Gã cầm viên phấn gõ nhẹ lên mép bảng:

"Dao động này sinh ra từ một buồng cộng hưởng dòng khí. Nó tương tự nguyên lý buồng đốt xung lực mà người Đức từng làm trên bom bay V-1. Nhưng Việt Nam năm 1982 đang thiếu thốn vật tư nghiêm trọng. Họ lấy đâu ra công nghệ chế tạo động cơ phản lực trên một hòn đảo hoang?"

Vance suy ngẫm trong giây lát rồi nói tiếp:

"Khả năng cao là họ đang dùng khí nén áp cao để thử nghiệm ống phóng lôi ven bờ. Hoặc họ dựng một trạm thủy âm ngầm trong hang đá để kiểm soát tàu thuyền ngoài cửa vịnh. Mục tiêu của họ chỉ là lập một cứ điểm phòng ngự thụ động."

Đó là nhận định của Vance. Gã suy luận logic dựa trên các báo cáo thực tế. Vance không thể ngờ rằng ở hòn đảo ấy, một kỹ sư trẻ và kíp thợ Ba Son đang đúc titan để chế tạo một cỗ máy tấn công chủ động chưa từng xuất hiện.

Vance quay lại bàn hải đồ, dùng bút dạ đỏ vạch một vòng tròn quanh đảo Phượng Hoàng:

"Không được đánh động đối phương. Nếu điều khu trục hạm áp sát ranh giới mười hai hải lý, họ sẽ lập tức tắt máy, giấu khí tài sâu vào lòng núi đá. Chúng ta cần nắm chắc bản chất mục tiêu."

Gã nhìn viên sĩ quan tác chiến, giao nhiệm vụ:

"Một: Lệnh cho máy bay P-3C Orion cất cánh đêm nay từ Cubi Point. Thả hai cụm phao thủy âm DIFAR phong tỏa luồng biển dẫn vào vụng Đầm Phá. Mọi biến động âm thanh đều phải ghi lại."

"Hai: Gửi điện mật mã hóa qua tần số cực thấp VLF cho tàu ngầm Hammerhead. Yêu cầu Trung tá Stone ém tàu vào rãnh ngầm Hòn Mắt, duy trì chế độ lặn im lặng cấp một. Nếu có mục tiêu rời đảo, Hammerhead phải bám sát, thu thập đặc tính âm thanh chân vịt."

"Rõ, thưa Đại tá!" Viên thiếu tá nghiêm trang nhận lệnh rồi lui ra.

Cánh cửa thép khép lại. Vance đứng một mình bên ô kính tròn nhìn xuống mặt biển. Đêm buông xuống rất nhanh, nuốt chửng những ngọn sóng bạc đầu.

Cách soái hạm hơn hai trăm hải lý về phía tây bắc.

Dưới độ sâu một trăm hai mươi mét của rãnh ngầm vịnh Bắc Bộ, bóng tối dày đặc bao trùm. Nước biển lạnh giá ép lên thân thép vỏ kép của tàu ngầm hạt nhân tấn công USS Hammerhead mang số hiệu SSN-663.

Con tàu dài gần một trăm mét lướt đi êm ru. Thân tàu bọc kín các tấm gạch cao su triệt âm anechoic. Lò phản ứng hạt nhân S5W vận hành ở chế độ đối lưu tự nhiên, không cần máy bơm làm mát cưỡng bức để giữ im lặng tối đa.

Trong khoang chỉ huy, ánh đèn đỏ chiến thuật tỏa ra sắc mờ ảo. Không khí ngột ngạt mùi amine khử thán khí và hơi dầu máy nén.

Trung tá David Stone đứng sau lưng hai nhân viên âm thính. Chiếc tai nghe ôm chặt lấy tai người thuyền trưởng bốn mươi hai tuổi.

Stone từng trải qua nhiều năm bám đuôi tàu ngầm Liên Xô ở biển Barents. Đối với gã, lòng biển sâu là một chiến trường câm lặng. Kẻ nào lộ tiếng động trước sẽ cầm chắc thất bại.

Viên sĩ quan thông tin trao cho Stone bức điện VLF vừa giải mã:

"Lệnh từ Đại tá Vance, thưa Thuyền trưởng. Chúng ta ém quân tại rãnh ngầm Hòn Mắt, phong tỏa cửa vụng Phượng Hoàng."

Stone đọc nhanh dòng lệnh, khẽ gật đầu:

"Giữ độ sâu một trăm hai mươi mét. Cho chân vịt quay vòng tua thấp nhất, tốc độ hai hải lý một giờ. Hệ thống sonar mảng cầu AN/BQQ-5 chuyển sang lọc tần số thấp."

Hai nhân viên âm thính thao tác trên bàn máy. Bộ lọc thạch anh bóc tách từng dải âm từ mũi tàu.

Đáy biển không hề tĩnh lặng. Tiếng đàn tôm búng càng nơi rạn san hô lách tách như mỡ sôi. Tiếng cá voi gọi nhau ngoài khơi xa dội lại trầm đục. Xa hơn là nhịp chân vịt của một tàu chở dầu Panama chạy qua tuyến hàng hải quốc tế cách ba mươi hải lý.

Nhưng hướng về đảo Phượng Hoàng, dải tín hiệu hai mươi tám héc đã tắt hẳn.

"Mục tiêu đã ngắt chấn động," nhân viên âm thính báo cáo. "Không còn dao động khí nén. Nhưng cảm biến nhiệt ghi nhận luồng nước ngầm ấm hơn môi trường một độ rưỡi C đang chảy ra khỏi vụng."

Stone khẽ nhếch mép:

"Họ xả nước làm mát. Đại tá Vance đoán đúng. Có cơ sở kỹ thuật đang chạy trong hang đá."

Gã bước sang bàn định hải, nhìn vào bản đồ địa hình đáy biển:

"Khu vực quanh đảo Phượng Hoàng toàn bãi cồn và rạn đá nông, sâu chưa tới mười lăm mét. Tàu ngầm hạt nhân không thể vào đó. Nhưng muốn ra khơi, mọi tàu bè mớn nước lớn bắt buộc phải qua luồng lạch sâu ngay trước mặt chúng ta."

Stone gõ ngón tay lên hải đồ:

"Thả hai phao thủy âm ngầm neo đáy tại cửa lạch. Chúng ta sẽ nằm yên dưới đáy rãnh này. Họ có thể giấu máy bay trên trời, nhưng dưới đáy biển sâu, không con thuyền nào qua mặt được Hammerhead."

Viên hoa tiêu nhập dữ liệu:

"Phao ngầm sẵn sàng ở ống phóng số ba và số bốn, thưa Thuyền trưởng."

"Phóng bằng áp lực nước êm. Ngắt máy phát phụ. Tàu vào trạng thái rình mồi."

Một tiếng thở nhẹ vang lên dưới đáy tàu. Hai khối kim loại nhỏ tách khỏi thân tàu ngầm, chìm xuống lớp bùn cát ngoài cửa vụng rồi bung cáp neo giữ đáy.

Chiếc tàu ngầm hạt nhân khổng lồ nằm bất động giữa rãnh sâu Hòn Mắt. Toàn bộ con tàu chìm vào im lặng. Kim chỉ thị của máy đo âm thanh khẽ rung theo nhịp sóng ngầm, kiên nhẫn đợi dấu hiệu cơ khí đầu tiên rời khỏi vụng đá vôi.

Trên mặt biển vịnh Bắc Bộ, bóng đêm buông xuống xám ngắt. Từng cơn gió bấc thổi qua các mỏm đá nhọn ngoài đảo xa, cuốn theo bụi nước mặn mòi lạnh buốt.