Chương 99: Giải Phẫu Trái Tim Bạc-Kẽm

Thuộc tiểu thuyết Pháo Đài Phượng Hoàng 1982

Tác giả: · Thể loại: Khoa Huyễn · Đăng ngày · 2070 từ · khoảng 10 phút đọc

14:00 chiều ngày 10 tháng 5 năm 1982, căn phòng thí nghiệm điện tử ngầm K-82 nồng mùi cồn công nghiệp và dầu cách điện biến thế.

Chiếc xe rơ-moóc chở thân con UUV Ghost Ray được chèn chắc chắn giữa tâm phòng. Trên sàn bê tông, bốn sợi dây cáp đồng tiếp địa được siết chặt vào các cọc kim loại cắm sâu xuống lòng đá bazan.

Xung quanh chiếc xe, kíp kỹ thuật mặc trang phục bảo hộ bằng sợi bông chống tĩnh điện. Không ai đeo đồng hồ kim loại hay mang theo vật dụng sắt từ. Mọi nguy cơ phóng tia lửa điện đều phải triệt tiêu từ đầu.

Mai Vy đội mũ trùm đầu bằng vải gai trắng. Đôi tay cô đeo găng cao su cách điện chuyên dụng:

"Khâu đầu tiên và nguy hiểm nhất là ngắt cụm ngòi nổ thủy tĩnh tự hủy. Theo sơ đồ nguyên lý dự án Ghost Ray, ngòi nổ nằm ngay phía sau vách ngăn áp lực khoang mũi. Một công tắc thủy ngân nhạy áp được giữ bằng chốt lò xo hợp kim nhớ hình."

Trần Hải Giang cầm chiếc cờ-lê tròng bằng hợp kim đồng-berili màu vàng mờ. Đây là loại dụng cụ gia công đặc biệt không tạo ra tia lửa khi va chạm kim loại.

"Chú Tấn giữ cố định đai ốc hãm ren ngoài mười hai ly," Giang nói khẽ. "Tôi sẽ vặn chốt ren định vị theo chiều kim đồng hồ đúng ba vòng để khóa cứng viên bi thủy ngân."

Chú Tấn gật đầu. Người thợ máy già đưa chiếc kẹp định vị ngậm chặt vào gờ thép không gỉ của nắp khoang mũi. Các ngón tay của ông giữ chắc như gọng kìm cơ khí.

Giang đặt đầu cờ-lê vào bulông hãm. Từng giác ren xoay nhẹ với tiếng rít khô khốc của dầu bôi trơn đông đặc:

*Cạch... cạch... cạch.*

Đúng ba vòng ren. Chiếc chốt khóa bằng đồng thau chìm hẳn vào thân ống ngòi nổ, ghì chặt viên bi thủy ngân vào đáy buồng chứa cách điện. Kim đồng hồ đo thông mạch trên bàn thử nghiệm lập tức nhảy về điểm ngắt vô cực.

"Ngòi nổ tự hủy đã được khóa an toàn!" Mai Vy thở phào, ghi chép nhanh thông số vào cuốn sổ bìa cứng.

Chú Tấn dùng tua-vít đồng tháo lần lượt ba mươi sáu con ốc lục giác viền mép nắp khoang thân. Gioăng cao su fluorocarbon chịu dầu mặn được gỡ ra cẩn thận. Tấm nắp composite sợi carbon bọc cao su tiêu âm được nhấc ra, để lộ cấu trúc bên trong con UUV.

Dưới ánh đèn huỳnh quang công xưởng, khối pin bạc-kẽm dung lượng lớn hiện ra choáng ngợp.

Đó là một giàn gồm một trăm hai mươi cell pin hình lăng trụ vuông được đúc kín bằng nhựa epoxy trong suốt màu hổ phách. Các bản cực dương bằng oxit bạc xốp và bản cực âm bằng kẽm nguyên chất xếp xen kẽ qua các màng ngăn xen-lu-lô xử lý kiềm. Từng thanh cái liên kết bằng đồng mạ bạc sáng loáng nối tiếp một trăm hai mươi ngăn pin lại với nhau.

Kỹ sư Lâm cầm hai que đo của vôn kế điện tử tiếp xúc vào hai đầu cực chính:

"Điện áp danh định một trăm tám mươi vôn một chiều! Dung lượng còn lại tới chín mươi phần trăm. Khối pin này có thể cấp nguồn liên tục cho hệ thống động lực bơm phụt nước trong ba ngày ba đêm."

"Cơ cấu chứa pin của họ làm rất kín," Mai Vy cẩn thận dùng giấy quỳ rà quanh các mối hàn nắp cell. "Không hề có hiện tượng rò rỉ dung dịch kiềm kali hydroxit đậm đặc. Độ tinh khiết hóa học của màng ngăn rất cao."

Hai Thuận cầm máy dò nồng độ khí bán dẫn rà quanh các vách ngăn:

"Nồng độ khí hydro dưới mức không phẩy một phần trăm. Không có khí rò rỉ nguy hiểm."

"Tốt lắm," Giang nói. "Ngắt ngay thanh cái liên kết số 1 để chia nhỏ cụm pin, hạ điện áp xuống ngưỡng an toàn."

Chú Tấn dùng kờ-lê cách điện tháo rời từng thanh đồng mạ bạc. Khối pin trăm vôn lập tức được chia thành bốn phân khu độc lập bốn mươi lăm vôn. Mọi nguy cơ chập mạch điện áp cao được loại trừ.

Giang đưa mắt quan sát tiếp khoang số 3 nằm ngay sau khối pin bạc-kẽm.

Tại đây, hai quả thủy lôi thông minh đáy biển MK-60 CAPTOR nằm gọn gàng trên ray trượt bằng hợp kim nhôm định hình. Mỗi quả thủy lôi dài gần hai mét, sơn màu xám tro hải quân. Bên trong lớp vỏ thép chịu áp là một quả ngư lôi tự dẫn chống ngầm MK-46 trang bị đầu tự dò âm học hai chế độ.

"Robert Vance định cài hai quả bẫy này ngay đáy luồng ngầm," Giang nói, tay sờ lên cơ cấu thả thủy lôi tự động. "Nếu con UUV này thả trôi hai quả CAPTOR xuống rãnh Cồn Cỏ, chỉ cần tàu ngầm Phượng Hoàng Đen của ta chạy qua, cảm biến từ trường và thủy âm của nó sẽ phóng ngư lôi bám đuôi ngay."

Lâm nhìn hai quả thủy lôi mà lắc đầu ngao ngán:

"Thủ đoạn phong tỏa quá thâm hiểm. May mà chúng ta giăng lưới tóm gọn nó trước khi cơ cấu nhả chốt kích hoạt."

"Chúng ta sẽ ngắt nguồn điều khiển ray phóng thủy lôi," Giang chỉ thị. "Hai Thuận cùng chú Tấn tháo chốt kẹp, đưa hai quả thủy lôi vào thùng thép bảo quản có đệm cát."

"Rõ, chúng tôi làm ngay!" Chú Tấn và Hai Thuận bắt tay vào việc tháo chốt ray trượt.

Giang cùng Mai Vy và Lâm tập trung giải phẫu khối hộp đen máy tính dẫn đường ở khoang số 4.

Nắp hợp kim titan bảo vệ hộp đen được mở ra sau khi tháo tám bu-lông chống rung cao su.

Một hộp nhôm phay nguyên khối màu đen nhánh xuất hiện. Trên mặt hộp khắc chìm dòng chữ mã hiệu quân sự của hãng sản xuất thiết bị quốc phòng Mỹ.

Bên trong hộp nhôm, bo mạch máy tính dẫn đường được phủ một lớp gel silicon trong suốt chống ẩm và chống sốc cơ học. Trái tim của hệ thống xử lý là một con chip vi xử lý mười sáu bit Motorola 68000 được bao bọc bởi hàng chục IC bộ nhớ EPROM mạ chân vàng. Đây là loại vi xử lý tối tân bậc nhất thời điểm hiện tại, sở hữu không gian địa chỉ mười sáu mê-ga-byte và kiến trúc thanh ghi ba mươi hai bit.

"Mạch dao động thạch anh mười mê-ga-héc đã nứt vi mô do xung điện hai nghìn vôn," Lâm dùng kính lúp soi kỹ linh kiện. "Nhưng các khối chip nhớ bán dẫn UV-EPROM mã hiệu 2764 vẫn còn nguyên vẹn, không bị xóa dữ liệu."

Mai Vy mở máy hiện sóng và bàn nạp ROM chuyên dụng mà cô tự chế tạo từ các linh kiện đo lường thu được:

"Em có thể cấp nguồn độc lập năm vôn để đọc mã nhị phân từ các chip nhớ EPROM này. Nhưng cấu trúc phần mềm dẫn đường của đối phương chắc chắn được mã hóa phức tạp."

"Để tôi hỗ trợ giải mã," Giang bước lại ngồi cạnh Mai Vy bên bàn máy tính thử nghiệm.

Trần Hải Giang nhắm mắt lại. Bộ Đồng Xử Lý Lượng Tử Não Bộ (Quantum Mental Coprocessor) lập tức kết nối song song với luồng dữ liệu nhị phân đang được trích xuất từ các chân vi mạch.

Từng chuỗi bit nhị phân không và một chảy qua trường ý thức lượng tử của anh như một dòng thác ánh sáng. Bộ đồng xử lý lượng tử bóc tách từng lớp cấu trúc ngôn ngữ máy của bộ vi xử lý Motorola 68000.

Các đoạn mã chỉ lệnh điều khiển bơm phụt nước vi mô, bảng tọa độ các điểm mốc ngầm ven biển miền Trung, và quan trọng nhất là thuật toán mã hóa của khối máy phát vô tuyến tần số cực thấp ELF hiện ra rõ ràng từng dòng.

"Tôi đã dịch ngược xong cấu trúc gói tin báo cáo," Giang mở mắt ra, cầm bút chì vẽ nhanh lên giấy sơ đồ khung dữ liệu truyền tin. "Cứ đúng sáu giờ một lần, con UUV này sẽ phóng một chiếc phao ăng-ten kéo dây dài năm mươi mét lên sát mặt nước để phát một chùm xung vô tuyến tần số cực thấp về tàu ngầm USS Hammerhead."

Mai Vy nhìn bản vẽ sơ đồ khung dữ liệu của Giang, hai mắt sáng ngời:

"Độ dài gói tin chỉ có ba mươi hai byte! Mỗi byte chứa mã nhận dạng thiết bị, tọa độ định vị quán tính, dung lượng pin còn lại và trạng thái vũ khí."

"Chính xác," Giang gật đầu quả quyết. "Byte số mười hai quy định trạng thái nhiệm vụ. Mã nhị phân một-không-một nghĩa là đang tuần tra an toàn, chưa phát hiện mục tiêu và chưa rải thủy lôi. Trường mã kiểm tra lỗi CRC-16 nằm ở hai byte cuối cùng."

Lâm gõ tay lên mặt bàn tính toán:

"Nghĩa là nếu chúng ta thay thế tinh thể thạch anh dao động mười mê-ga-héc bị hỏng, rồi nạp đoạn mã giả lập phát đúng chuỗi byte này kèm mã kiểm tra CRC-16 chuẩn xác, phía Robert Vance sẽ hoàn toàn tin rằng con Cá Đuối Ma vẫn đang hoạt động bình thường?"

"Đúng vậy," Giang nói. "Chúng ta sẽ thực hiện chiến thuật nghi binh điện tử. Chúng ta giữ nguyên khối máy phát vô tuyến và ăng-ten của UUV ngay tại căn cứ K-82 này. Định kỳ sáu giờ một lần, hệ thống sẽ tự động phát sóng báo cáo an toàn về cho USS Hammerhead."

Mai Vy lập tức bắt tay vào việc. Với đôi bàn tay khéo léo của một kỹ sư luyện kim và vật liệu điện tử, cô gắp một tinh thể thạch anh mười mê-ga-héc chuẩn quân sự từ hộp linh kiện dự phòng. Cô dùng mỏ hàn thiếc đầu nhọn hàn chắc vào vị trí chân mạch dao động bị nứt.

Mối hàn thiếc ngấu bóng, phẳng mịn trên mạch in.

Tiếp đó, Lâm kết nối bàn nạp ROM để ghi đè đoạn mã vi trình giả lập vào một con chip nhớ EPROM mới. Đoạn mã vi trình này đã được Giang tính toán cẩn thận mã kiểm tra lỗi CRC-16 để bảo đảm máy tính tiếp nhận của tàu ngầm Mỹ không phát hiện ra sự bất thường.

15:45 chiều, toàn bộ bo mạch điều khiển được lắp trở lại vào hộp nhôm phay. Nắp hộp được siết chặt bằng đệm cao su silicon chống ẩm.

Dây cáp ăng-ten tần số cực thấp ELF được kéo luồn qua ống dẫn sóng dẫn lên đỉnh núi đá của căn cứ K-82.

Chiếc đồng hồ điện tử đếm ngược bắt đầu chạy:

*Năm... bốn... ba... hai... một.*

Chiếc đèn led màu vàng trên mặt máy phát vô tuyến của UUV nhấp nháy ba lần. Khối phát sóng phóng ra một chùm xung điện từ mã hóa ngắn ngủi mang thông điệp an toàn giả mạo truyền thẳng vào tầng điện ly hướng về vùng biển ngoài khơi xa.

"Tín hiệu xung đã phát thành công!" Lâm nhìn màn hình hiện sóng, reo lên phấn khởi. "Tần số ổn định ở mức bảy mươi sáu héc. Công suất phát đạt một trăm oát."

Chú Tấn đứng bên cạnh, tay cầm chiếc kìm vặn khóa ốc hãm cáp ăng-ten lần cuối:

"Đã khóa chặt cáp ăng-ten vào giá đỡ đỉnh núi."

Giang nhìn qua đồng hồ đo tải dòng điện:

"Nghi binh đã vận hành đúng kế hoạch. Bây giờ hãy cất giữ cẩn thận con UUV và báo cáo kết quả lên Đại tá Lê Thắng."

Kế hoạch nghi binh điện tử dưới đáy biển sâu đã chính thức phát đi tín hiệu đầu tiên ra biển xa. Chú Tấn lau khô dầu mỡ dính trên chiếc kìm thép rồi cất gọn vào ngăn kéo tủ sắt bảo quản khí tài.