Chương 1: Mùi thuốc cũ sau cơn mưa ngâu tại Đoàn Thọ Đường

Thuộc tiểu thuyết Bát Thuốc Cuối Của Bà Lang Xoan

Tác giả: · Thể loại: Huyền Huyễn · Đăng ngày · 2287 từ · khoảng 11 phút đọc

Sương mồng Chín tháng Bảy đậu trên bậu cửa sổ gỗ, nhòa đi vì hơi ẩm của một ngày mưa ngâu không dứt.

Đoàn Thị Nghi mở mắt. Trần nhà lợp ngói vảy cá sẫm màu, những kẽ hở giữa các thanh rui tre bám đầy mạng nhện xám xịt. Nàng hít một hơi thật sâu. Mùi đầu tiên nàng nhận ra là mùi bồ kết nướng ám vào vách nứa, loại mùi chỉ có ở những nhà thuốc vừa dùng để xông buồng bệnh. Tiếp đó là mùi nồng hắc của nhựa thuốc mới thái, cho thấy kho thuốc nằm ngay sát vách buồng này. Nàng nhận ra một chút mùi khói than hoa lẫn trong mùi tinh dầu bạc hà, chứng tỏ thuốc ở đây được sấy bằng than chứ không phải sao bằng củi lửa.

Nàng đưa lưỡi rà quanh miệng một vòng. Miệng đắng ngắt, thứ vị đắng khô khốc của cam thảo già bị sao cháy lửa trộn với vị tanh lợ của máu đã đông. Nàng nghiêng đầu, nhìn cái ống nhổ bằng sứ đặt cạnh chân phản, rồi khạc một ngụm đờm đặc vào đó. Thói quen của một bà lang không đổi, dù cái xác này không phải của nàng.

Nghi định ngồi dậy, nhưng cơ thể mười sáu tuổi này yếu như một dải lụa sũng nước. Nàng phải chống một bàn tay xuống mặt phản gỗ làm điểm tựa, rồi mới từ từ đẩy người lên. Đó là cách ngồi của một bà già đã qua tuổi sáu mươi, không phải của một thiếu nữ. Khi cổ tay mảnh khảnh hiện ra trước mắt, Nghi khựng lại. Bàn tay này trắng quá. Những ngón tay thuôn dài, mềm mại, không có một vết sẹo do dao cầu lỡ tay. Nó cũng chẳng có màu vàng ố của nhựa thuốc bám lâu ngày vào kẽ móng.

Nàng đã chết trong ngục Kẻ Chợ bốn tháng trước. Cái lạnh của nền đá ngục thất vẫn còn như thấm trong xương tủy. Vậy mà giờ đây nàng lại tỉnh dậy ở đây, trong căn buồng ngập mùi thuốc bắc cũ của Đoàn Thọ Đường. Cánh cửa lùa bằng gỗ kêu lạch cạch. Bà Hai Điểm bước vào, hai tay bưng một bát thuốc còn bốc hơi nghi ngút.

"Tỉnh rồi đấy à con? May giời phật, cái thang thuốc giải đêm qua thầy con bốc cuối cùng cũng có công hiệu."

Bà Hai Điểm đặt bát thuốc lên cái đôn gỗ cạnh phản. Bà vắt chiếc khăn mặt xuống, lau những vệt mồ hôi lạnh trên trán Nghi. Động tác của bà nhịp nhàng.

"Uống đi con. Thuốc này thầy dặn dì tự tay sắc. Vị cam thảo dây với mạch môn để dưỡng lại cái tâm tạng sau trận dại dột kia. Uống nóng cho nó dẫn thuốc."

Nghi nhận lấy bát thuốc. Sức nóng từ gốm nung truyền vào lòng bàn tay mềm yếu. Nàng không uống ngay. Nàng nghiêng nhẹ bát sứ, quan sát độ sánh của nước thuốc. Nước thuốc chảy chậm trên thành bát, để lại một lớp màng mỏng hơi xỉn màu. Nàng hớp một ngụm nhỏ, chỉ đủ để lấp đầy phần lõm của chiếc thìa sứ. Nàng không nuốt ngay mà đưa ngụm thuốc ấy đẩy về phía chân lưỡi, nơi cảm nhận vị đắng rõ nhất, rồi mới đưa sang hai bên cạnh lưỡi để tìm vị chua, cuối cùng mới ép lên vòm họng. Nàng đếm thầm trong đầu đến nhịp thứ năm mới từ từ để nước trôi xuống cổ.

Vị ngọt lờ lợ của cam thảo dây xuất hiện đúng lúc, mang theo chút cảm giác nhầy nhẹ ở cổ họng, chứng tỏ vị này dùng đúng hàng mới. Tiếp đó là vị mát đặc trưng của mạch môn lan tỏa, làm dịu đi cảm giác khô khát trong miệng. Thế nhưng, ngay khi dư vị của hai thứ đó vừa dứt, một vị đắng gắt xộc thẳng lên. Nó không phải cái đắng thanh của thuốc quý mà là cái đắng xé, hăng hắc như gỗ mục bị nướng quá tay. Cái sai chỉ nổi lên sau khi cái đúng đã được kiểm. Nàng giữ ngụm thuốc thứ hai trong khoang miệng, lông mày hơi nhíu lại.

"Nghi này, con tỉnh rồi dì cũng nói thật," bà Hai Điểm ngồi xuống cạnh phản, tay bà kéo lại mép chăn bông vừa bị tuột. Bà nhặt một sợi tóc rụng trên gối, thong thả đặt vào lòng bàn tay rồi cuộn lại. Bà sờ trán Nghi thêm một lần, đoạn đứng dậy đẩy cái đôn gỗ lại gần phía đầu phản hơn cho nàng dễ đặt bát thuốc. Bà vừa làm vừa tiếp lời, giọng nhã nhặn như đang dỗ dành:

"Chuyện nhà họ Vũ thoái hôn là cái số. Họ là nhà quan, mình là nhà thuốc, trèo cao quá thì ngã đau. Thầy con mấy hôm nay bạc cả tóc, vừa lo nợ hiệu, vừa lo cho con. Tiền thuốc thang đợt này tốn kém lắm, lại còn công xá mấy đứa tiểu đồng thức đêm sắc thuốc cho con. Phố xá người ta bắt đầu xầm xì chuyện sính lễ, con phải vững tâm mới được."

Nghi không đáp, chỉ nhìn theo những ngón tay của dì Hai đang bận rộn không ngừng.

"Hay là, xong đợt này, dì thu xếp cho con về lánh tạm bên ngoại một thời gian?"

"Hay cho nó lên chùa Hương dăm bữa," một giọng nói trầm đục vang lên từ phía cửa.

Ông Đoàn Bỉnh bước vào. Tà áo the cũ còn dính những hạt mưa li ti. Ông không nhìn thẳng vào mắt con gái. Ông chỉ đứng nhìn vào tủ thuốc trăm ngăn ở gian ngoài thấp thoáng qua khe cửa. Ngón tay cái bên phải của ông bè ra, thô ráp. Đó là dấu vết của ba mươi năm miết giấy bản gói thang.

"Tiền sính lễ nhà họ Vũ đã nhận mười lăm lạng bạc, giờ tính sao đây? Nợ hiệu thuốc bên phố Đông cũng đã đến hạn mười lạng nữa, sáu ngày tới không có tiền trả thì họ cắt hàng," ông Đoàn Bỉnh nói với bà Hai Điểm.

Bà Hai thở dài, chỉnh lại cái khăn xếp của ông: "Nhà còn đúng năm lạng bạc vụn, sáu đồng tiền công gói thang sáng nay cũng phải bỏ ra mua gạo rồi."

Ông Đoàn Bỉnh nhìn về phía Nghi, giọng cụt lủn: "Lên chùa cho tịnh tâm. Ở đây người ra kẻ vào, tiếng chì tiếng bạt nhà họ Vũ chả để con yên đâu."

Nghi không đáp. Nàng uống thêm một ngụm thuốc nữa, mắt để ở hộc tủ trống, lặng lẽ nghe cha và dì Hai bàn tính.

"Con đỡ rồi. Cho con xuống đất một lát," Nghi nói, giọng khàn đặc.

"Kìa con, vừa tỉnh..." Bà Hai Điểm định ngăn.

"Ngồi lâu mỏi lắm, thưa dì."

Nghi đặt bát thuốc xuống đôn. Nàng khéo léo giữ lại một ngụm cuối cùng trong miệng, không nuốt. Nàng chậm rãi bước xuống phản. Đôi chân trần chạm vào nền gạch bát tràng ẩm lạnh.

Nàng đi ra gian ngoài.

Đoàn Thọ Đường không còn vẻ sầm uất của một hiệu thuốc lâu đời từng có người chấm thuốc trong Viện. Tủ trăm ngăn dán nhãn chữ nho có những hộc kéo đã sờn rách. Cạnh quầy, một người làm đang cân thuốc. Anh ta đặt quả cân đồng nhỏ xíu lên đĩa, dùng lưỡi dao con gạt bằng mặt thuốc trong chén, rồi chăm chú đọc số vạch trên cán cân tre một cách chậm chạp. Phía bên kia, một người khác đang gói thang. Tờ giấy bản được gấp thành ba nếp đều tăm tắp, các vị thuốc được xếp chồng lên nhau theo thứ tự vị to nằm dưới vị nhỏ nằm trên. Anh ta dùng lạt giang quấn hai vòng quanh gói thuốc, thắt nút kiểu chân rết, siết vừa tay.

Tiếng thuyền tán bằng gang lăn qua lăn lại trên nền đá kêu ken két, đều đặn như nhịp thở của căn nhà. Một hộc tủ phía trên cao được kéo ra, tiếng gỗ cọ vào nhau khô khốc, nhãn chữ nho ghi "Hoàng Liên" dán trên mặt hộc đã ố vàng, bong tróc một góc. Người làm lục lọi bên trong rồi đóng sầm hộc tủ lại vì trống rỗng. Mùi thuốc sao, mùi bụi gỗ và mùi ẩm mốc của mùa mưa ngâu quện lại thành một thứ không khí đặc quánh. Nghi đi ngang qua những âm thanh và mùi vị ấy, nàng nhìn kỹ từng động tác nhưng không nói một lời.

Cạnh cái thớt gỗ nghiến kê giữa quầy, một cái dao cầu nằm im lìm. Theo bản năng, Nghi tiến lại gần, đưa tay chạm vào cán dao. Cảm giác gỗ lim nhẵn thín dưới lòng bàn tay làm nàng rùng mình. Cổ tay nàng xoay nhẹ. Cùi tay ghì xuống cán, người hơi nghiêng.

"Sắc dao mòn rồi, thưa cụ Chuẩn."

Nghi buột miệng gọi, rồi giật mình buông tay ra.

Cụ Chuẩn đang ngồi xổm bên bếp than ở góc buồng sao. Trước mặt cụ là cái chảo gang lớn đỏ lửa. Tay cụ cầm chiếc đũa cả lớn đảo liên hồi mẻ thuốc đang bốc khói nghi ngút. Cụ nghiêng nhẹ chảo để thuốc dồn về một phía, nhấc một mẩu nhỏ lên đưa sát mũi ngửi rồi lại vứt trả vào chảo. Cụ dùng cái quạt nan rách cán quạt mạnh vào cửa bếp lò cho than hửng lên.

"Gió hướng này làm than mau lụi quá, đứng tránh ra cho thoáng cái chân," cụ Chuẩn nói cộc lốc trước khi xoay người lại.

Cụ bị điếc tai trái nên động tác xoay người của cụ luôn chậm và nặng nề. Lông mày cụ sém một quãng. Đôi mắt già nua đục ngầu nhìn chằm chằm vào đôi tay trắng trẻo vừa mới buông cán dao của Nghi.

"Cô vừa bảo gì?" Cụ Chuẩn hỏi.

"Con bảo... con bảo sao dao hôm nay nhìn nặng thế," Nghi sửa lại nhanh, mắt lướt qua chỗ khác.

Cụ Chuẩn không đáp, chỉ nhìn cái dao cầu rồi lại nhìn Nghi. Cụ không biết chữ. Cả đời cụ chỉ đo thuốc bằng tay và ngửi mùi bằng mũi. Cái nhịp tay của Nghi lúc nãy khiến cụ thấy lạ lùng.

Đúng lúc đó, có tiếng chân dậm nước bì bõm từ ngoài hè phố. Một người đàn ông lực lưỡng gánh hai thúng hàng bước vào cửa hiệu. Anh ta đặt mạnh hai thúng hàng xuống nền gạch, tiếng đòn gánh kẽo kẹt rồi im bặt. Lớp lá chuối tươi phủ trên mặt thúng được bóc ra, để lộ những bao xác rắn đựng đầy dược liệu khô. Người gánh hàng bốc một vốc kim ngân hoa lên, bụi thuốc bay mù mịt dưới ánh nắng yếu ớt, anh ta tiện tay lau mồ hôi rồi chùi đôi bàn tay dính đầy bụi vào bắp chân.

Bà Hai Điểm tiến tới, bê một bao lên đặt vào chiếc cân đòn lớn. Bà chỉ cân ngẫu nhiên vài bao trong thúng chứ không kiểm tra toàn bộ. Nghi đứng bên cạnh, nàng nhìn thấy rất rõ: hàng được đưa thẳng vào kho mà không một ai mở bao ra để nếm thử, cũng không ai bẻ lấy một mẩu cát cánh xem cái lõi bên trong có bị mọt hay mục không. Mọi thứ diễn ra chóng vánh và cẩu thả.

"Hàng này lấy từ vùng nào về vậy dì?" Nghi hỏi nhỏ, giọng như chỉ hỏi cho biết.

"Thì vẫn chỗ cũ bên phố Đông chứ đâu, hỏi làm gì cho mệt người," bà Hai Điểm trả lời qua quýt, mắt vẫn dán vào cuốn sổ tay ghi chép.

Ông Đoàn Bỉnh bước vội ra. Vẻ mặt ông căng thẳng hiện rõ sau lớp kính một mắt. "Đủ vị chưa?" Ông Đoàn Bỉnh hỏi, giọng run run.

"Dạ, đủ cả cam thảo, kim ngân với sài đất. Quan Thái Y Viện dặn kỹ, sáu ngày nữa là Rằm tháng Bảy, thiếu một thang hay thuốc có vấn đề là họ gạch tên Đoàn Thọ Đường khỏi sổ y ngay đấy ạ."

Bà Hai Điểm tính nhanh và dứt khoát. Cả cái hiệu thuốc này đang nín thở vì một trăm thang thuốc phát chẩn ngày Rằm.

Nghi đứng nép bên cột gỗ. Nàng lặng lẽ đếm: tổng cộng có sáu thúng hàng được chuyển vào kho trong. Khi người gánh hàng cuối cùng bước ra, bà Hai Điểm kéo cửa kho, tra khóa rồi giắt chiếc chìa khóa đồng vào dải rút bao thắt lưng. Tiếng lạch cạch của ổ khóa khô dầu vang lên giữa gian nhà vắng.

Nghi lẳng lặng quay về buồng trong. Nàng ngồi xuống cạnh phản, cúi đầu nhổ ngụm thuốc đã ngậm từ nãy vào ống nhổ sứ. Nàng nghiêng ống nhổ ba lần để nước thuốc trôi đi, giữ lại phần cặn lắng ở góc sứ. Nàng lấy chiếc kẹp tóc bằng đồng hứng lấy chút ánh sáng le lói từ cửa sổ chiếu vào, gạt nhẹ đống cặn sang một bên để nhìn cho rõ.

Dưới ánh sáng mờ đục của buổi chiều mưa ngâu, nàng nghiêng ống nhổ ra chỗ sáng. Những hạt cặn đen li ti lắng xuống đáy. Nó lắng thành mấy hạt đen, còn nguyên xơ gỗ. Nó không phải là cặn của thứ mà dì Hai vừa nói tên.

Nghi nhìn cái cặn thuốc. Nàng lấy ngón tay quệt thử cái cặn rồi chùi vào vạt áo.