Chương 2: Năm hộc thuốc trong kho Đoàn Thọ Đường
Thuộc tiểu thuyết Bát Thuốc Cuối Của Bà Lang Xoan
Tác giả: Miên Hạ · Thể loại: Huyền Huyễn · Đăng ngày · 1976 từ · khoảng 10 phút đọc
Mồng Mười tháng Bảy, trời chưa sáng.
Mưa ngâu vẫn dầm dề trên mái ngói, đổ xuống máng xối thành những tiếng bì bõm không dứt. Đoàn Thị Nghi thức dậy khi hơi lạnh còn quánh đặc trong buồng. Nàng không thắp đèn, men theo hơi ấm mỏng mảnh còn sót lại từ buồng sao thuốc mà đi.
Cánh cửa kho thuốc nhà họ Đoàn vốn có khóa đồng, chìa nằm trong dải rút của bà Hai Điểm. Nhưng Nghi biết một lối khác. Then gỗ thông từ buồng sao sang kho đã cũ, mòn vẹt ở đầu chốt đến mức lộ ra cả thớ gỗ trắng hếu. Nàng đặt lòng bàn tay lên mặt gỗ nhám, nén hơi thở, dịch nhẹ từng phân. Tiếng gỗ nghiến vào nhau khẽ khàng bị tiếng mưa át đi. Nghi dùng một mẩu gạch vỡ chèn dưới chân cửa để cánh gỗ không tự khép lại.
Trong kho tối om. Nguồn sáng duy nhất là ánh than hồng từ bếp buồng sao hắt qua khe cửa thành một vệt dài đỏ quạch trên nền đất. Nàng đứng yên, đợi mắt quen với bóng tối rồi bước về phía dãy hộc gỗ kê sát tường trái. Bảy hộc thuốc nằm im lìm trong bóng tối. Nàng đã tính từ lúc nghe tiếng dao cầu nghiến tối qua.
Nghi bắt đầu với hộc thứ nhất: Kim ngân hoa. Nàng dùng tay trái mở nắp gỗ, mùi thơm dịu nhẹ tỏa ra. Nàng bốc một nhúm hoa khô bằng ba ngón tay phải, đặt lên giữa lưỡi. Vị đầu hơi đắng, sau thanh, để lại một chút ngọt nhẹ ở cuống họng. Kim ngân chuẩn, hái lúc hoa còn đang chuyển từ trắng sang vàng, không lẫn tạp. Hoa tan chậm, hậu vị thanh khiết đọng lại rất lâu nơi đầu lưỡi. Nàng nhổ bỏ bã vào một cái hũ gốm không bên cạnh.
Hộc thứ hai: Cam thảo dây. Nghi bẻ một mẩu rễ bằng ngón cái, ngậm ngay đầu lưỡi. Vị ngọt đậm đến gắt, nhưng sau đó là một thứ vị nhạt nhẽo, vô hồn như nhai bã mía. Loại này đã bị rút hết nhựa chỉ còn vỏ khô. Nàng nuốt một ngụm nước bọt để kiểm chứng, vị ngọt giả tạo tan nhanh, chỉ còn lại cảm giác nham nhám. Dấu hiệu đúng của cam thảo là phải ngọt dần lên tận cuống phổi, nhưng mẩu này chỉ thấy khô khốc trên bề mặt.
Hộc thứ ba là Sài đất. Nghi lấy một nắm nhỏ bằng cả bàn tay, đưa lên mũi ngửi rồi mới nếm. Vị hơi chát, đúng chuẩn dược liệu vừa khô tới. Nàng đặt lá sài đất lên mặt lưỡi, cảm nhận sự khô ráo, không có vị chua của nấm mốc. Một chút cay nhẹ lan ra sau mười hơi thở, chứng tỏ dược tính vẫn còn nguyên vẹn. Nàng nhổ bã ra hũ gốm.
Hộc thứ tư là Cỏ mực. Nàng miết nhẹ những lá khô vụn, đưa lên đầu lưỡi. Vị chua nhẹ và nồng mùi cỏ khô rất đặc trưng. Chỉ cần ngậm chừng nửa phút, đầu lưỡi sẽ thấy một lớp màng mỏng hơi se lại, đó là dấu hiệu cỏ được thu hoạch đúng mùa vụ. Bốn hộc đầu đều đúng vị hoặc sai lệch không đáng kể.
Ánh than từ buồng sao bỗng bùng lên một tia sáng xanh rồi lịm dần, soi rõ những hạt bụi thuốc đang bay lơ lửng. Vệt sáng đỏ quạch trên nền đất đột ngột tắt lịm, buồng kho rơi vào bóng tối đặc quánh. Nghi phải dừng tay, đứng yên thở khẽ để định thần lại phương hướng.
Đến hộc thứ năm, tay Nghi khựng lại. Đây là hộc Phụ tử. Phụ tử vốn là rễ con của cây ô đầu, chứa độc kịch. Nghi dùng hai ngón tay kẹp một miếng phiến mỏng, đặt nhẹ lên phần bên trái lưỡi. Một cơn tê rần chạy dọc từ đầu lưỡi lan nhanh vào trong. Vị cay xộc lên, kèm theo đó là một luồng khí lạnh lẽo thấu xương. Miếng thuốc này chưa được ngâm đủ ngày để khử độc, và lửa sao cũng chỉ là lửa hờ bên ngoài. Phụ tử này ngâm chưa đủ ngày, là thứ giết người. Nghi lập tức nhả ra, nhưng cảm giác tê dại đã bám chặt lấy niêm mạc miệng. Cơn tê mỗi lúc một đậm, khiến đầu lưỡi nàng cứng đờ như một miếng gỗ mục.
Hộc thứ sáu: Hoài sơn. Nghi lấy một miếng trắng tinh, nhai thử. Vị nhạt, nhưng khi tan ra lại có cảm giác dính dính của bột sắn trộn vào. Đây là hộc thay bằng vị rẻ tiền để ăn bớt tiền thuốc. Hoài sơn thật khi tan phải có vị bùi của tinh bột tinh khiết, không được bết dính vào răng như thế này. Nàng nhổ ra ngay lập tức, cảm nhận sự gian dối đang lạo xạo trong khoang miệng.
Hộc thứ bảy là Liên nhục. Nghi cầm một hạt sen khô, đưa lên răng cắn mạnh. Bên ngoài vỏ đã sao vàng nhưng bên trong vẫn còn tâm xanh, lại có mùi hơi nồng của nước vôi chưa khử sạch. Đây là loại sao non lửa, không để lâu được, rất dễ mốc từ bên trong. Khi cắn vỡ, đáng lẽ phải có mùi thơm ngậy của mầm sen, nhưng ở đây chỉ có vị nồng gắt làm buồn nôn.
Nghi đóng nắp hộc cuối cùng. Khi tay phải nàng vừa hạ nắp gỗ xuống, cả bàn tay đột ngột run lên một nhịp. Nắp gỗ chạm vào thành hộc kêu lên một tiếng "cộp" khô khốc trong không gian tĩnh mịch. Cơn tê từ hộc thứ năm giờ đã lan xuống vòm họng. Nàng cúi xuống, thử liếm một hạt muối vương trên mặt kệ gỗ, hoàn toàn không thấy vị mặn. Lưỡi nàng đã mất cảm giác.
Nghi nhanh chóng lách qua khe cửa thông, trở về buồng sao.
Cụ Chuẩn đã dậy từ bao giờ. Cụ nhóm bếp từ lúc ba giờ sáng bằng loại than củi chắc cứng, lửa cháy đượm và không khói. Chiếc chảo gang nặng trịch, đen bóng đặt trên lò đỏ rực. Cụ Chuẩn dùng một thanh tre dẹt, bản to bằng ba ngón tay để đảo mẻ thuốc bên trong. Đôi tay cụ đưa đều, lực nhấn xuống lòng chảo rất mạnh. Cụ nhấc một mẩu dược liệu lên, đưa sát mũi ngửi rồi lại thả xuống chảo, nghiêng mạnh tay để thuốc cuộn đều từ đáy lên trên. Mẻ thuốc đang sao tới độ ngả vàng, mùi khói lẫn với mùi thảo mộc bốc lên nồng nặc. Cụ cầm chiếc quạt nan rách vành, phẩy nhẹ vào cửa lò để giữ cho nhiệt không được quá gắt.
Cụ ngồi xổm, đôi tay to bản sần sùi đang vốc thêm than. Nghe tiếng động, cụ xoay nửa người bên trái, hướng tai phải về phía Nghi để nghe cho rõ. Cụ với tay lấy bát nước gạo rang đặt trên mặt lò, đẩy sang phía nàng.
"Uống đi cho ấm cái bụng."
Nghi nhận lấy bát nước. Hơi nóng từ bát sứ truyền vào lòng bàn tay đang run rẩy của nàng. Nàng nâng bát lên nhấp một ngụm. Nước chạm vào lưỡi nàng chỉ là một thứ chất lỏng nhạt nhẽo. Vị mặn của muối hầm và mùi thơm của gạo rang đã biến mất hoàn toàn.
Cụ Chuẩn lại xoay người vào với chảo gang. Cụ lầm bầm:
"Gió lùa hướng này làm than ẩm quá, ngồi khuất góc kia mà vẫn thấy lạnh chân. Mấy đứa làm giờ làm ăn tắc trách, để củi ngấm nước mưa cả lượt."
Nghi đáp khẽ một tiếng "vâng". Cụ Chuẩn bỗng dừng tay, mắt nhìn đăm đăm vào đáy chảo.
"Hai tháng nay chảo sao nhẹ tay hơn trước."
Nói xong, cụ lại cắm cúi đảo thuốc, không nhìn nàng thêm lần nào.
Trời sáng hẳn. Mưa vẫn rây bột ngoài sân. Bà Hai Điểm bước vào buồng sao, váy áo gọn gàng, tay cầm một tờ giấy bản. Phía sau là ông Đoàn Bỉnh, gương mặt phờ phạc.
"Cụ Chuẩn, mẻ này xong thì cho sao ngay một trăm thang phát chẩn." Bà Hai Điểm bắt đầu chia việc. "Anh Tứ ra kho lấy ba mươi cân Kim ngân hộc một, hai mươi cân Cam thảo hộc hai. Phụ tử hộc năm lấy đủ mười lăm cân cho tôi. Anh Sáu đứng cân từng lạng cho chuẩn, không được thiếu một ly. Anh Tám chuẩn bị giấy gói, mỗi xấp hai mươi tờ. Chia làm bốn mẻ sao liên tục, mẻ đầu sao Kim ngân, mẻ sau vào Phụ tử ngay. Phải xong trước ngày kia để kịp đóng gói gửi đi cho hội quán."
Một người làm đứng cạnh lò hỏi vọng lên:
"Thưa bà, Cam thảo này có cần tẩm thêm nước gừng không ạ?"
Bà Hai Điểm trả lời ngay, không cần nhìn vào tờ giấy bản:
"Không cần, cứ sao khô theo đúng lượng tôi vừa đọc. Kim ngân cũng không cần rửa lại, cứ thế mà vào chảo. Sài đất thì để mẻ cuối, sao xong là vào gói luôn cho kịp chuyến xe sớm."
Một người khác bưng khay thuốc đi qua, bỗng khựng lại hỏi:
"Thưa bà, mẻ Hoài sơn này thấy hơi lạ, màu trắng quá, có cần kiểm lại sổ nhập không?"
Bà Hai Điểm không liếc mắt, đáp giọng sắc lẹm:
"Tôi đã duyệt nhập mẻ đó từ tuần trước, không có gì phải bàn. Cứ bốc đúng cân cho tôi."
Nghi đứng dậy, tay nàng vẫn giấu trong ống áo rộng. Nàng hỏi nhỏ, giọng bình thản:
"Thưa dì, hàng vào kho đợt này có ai bẻ thử một mẩu xem lõi trước khi nhập không ạ? Con thấy nhiều mẻ ngoài khô nhưng trong có vẻ chưa đạt."
Bà Hai Điểm dừng mắt trên mặt Nghi, nụ cười trên môi không đổi.
"Con vừa khỏe lại, cứ nghỉ đi. Thuốc trong kho dì đã tự tay kiểm, không sai được đâu."
Nghi quay sang ông Đoàn Bỉnh: "Thưa thầy, một trăm thang phát chẩn này là đơn lớn, nếu thuốc chưa chế kỹ, e là có điều không tiện."
"Thôi!" Ông Đoàn Bỉnh gạt đi, giọng mệt mỏi. "Con biết gì mà nói. Hiệu mình mất chân chấm thuốc trong Viện, túng thiếu đủ đường mới có được đơn này. Cứ làm theo lời dì con đi. Đàn bà con gái, đừng có can dự vào việc kho kệ."
Nghi im lặng. Nàng nhìn bà Hai Điểm đang nhanh nhẹn điều phối người làm. Bà tính toán rất nhanh, con số nhảy múa trên đầu môi bà, không sai một mảy.
Nghi bước ra sân sau. Mưa thấm vào áo nàng lạnh ngắt. Giàn phơi sài đất ngoài kia đang bị mưa dầm. Nàng vội bước tới, dùng hai tay kéo những tấm liếp tre vào sâu trong hiên để tránh nước. Những đầu ngón tay nàng lạnh buốt, chạm vào nan tre nhám xịt. Nàng cố sức lật mặt những nắm lá sài đất cho khỏi mốc. Bàn tay phải lại đột ngột run lên một nhịp cực mạnh, làm rơi một nắm lá xuống vũng nước dưới chân. Nghi nhìn xuống bàn tay mình, lòng bàn tay trắng bệch, không còn chút hơi ấm. Nàng thử bấu mạnh móng tay vào lòng bàn tay còn lại nhưng cảm giác đau đớn cũng trở nên xa xăm.
Nghi cúi xuống, nhặt nắm lá lên rồi đứng lặng nhìn vào buồng sao khói bay mù mịt. Một trăm thang thuốc phát chẩn sắp được bốc. Năm ngày nữa đến Rằm.
Nàng không còn nếm ra vị gì nữa.