Chương 20: Tôi Tên Là Lâm Gia Huy

Thuộc tiểu thuyết Căn Hộ 404

Tác giả: · Thể loại: Kinh Dị · Đăng ngày · 1956 từ · khoảng 10 phút đọc

23:00. Lâm Gia Huy đứng trước cửa thang máy tầng 4. Hành lang im lìm. Ánh đèn tuýp trên trần nháy liên hồi, phát ra những tiếng kêu rè rè đều đặn. Anh không nhìn lên đèn. Tay anh cầm chắc chiếc chìa khóa tam giác bằng thép không gỉ. Anh đưa đầu khóa vào lỗ nhỏ trên khung cửa tầng, xoay nửa vòng dứt khoát. Tiếng chốt cơ lạch cạch nhả ra. Huy dùng hai tay kéo mạnh cánh cửa sang hai bên. Hố thang máy hiện ra, tối và sâu. Nóc cabin nằm thấp hơn ngưỡng cửa tầng chừng một mét, đúng chỗ rơ-le cưỡng bức anh đấu từ đêm trước đã giữ nó lại. Mẩu giấy anh dán trên tủ điện trên sân thượng hai đêm trước hẳn vẫn còn đó, vì chưa ai gỡ mạch ra cả. Huy bước ra mép sàn bê tông. Anh quàng sợi dây bảo hiểm qua ròng rọc cố định, siết chặt nút thắt quanh hông. Đôi ủng cao su của anh nện xuống nóc cabin thang máy một tiếng "bịch" khô khốc. Anh ngồi xổm, tháo nắp khoang kỹ thuật. Khoảng không gian bên trong chỉ cao hơn một mét chút ít. Mùi dầu mỡ và bụi xi măng xộc vào mũi. Huy bò vào trong. Ánh đèn pin gắn trên trán quét qua những vách bê tông xám xịt. Anh chuyển động chậm, tránh để các đầu bu-lông gỉ sét cào vào vết thương trên tay trái. Hạnh vẫn ngồi đó. Cô thu mình trong góc khuất nhất của khoang kỹ thuật. Ánh đèn pin không soi rõ mặt cô. Chỉ thấy một cái bóng gầy guộc, bất động. Cô ngẩng đầu lên khi thấy ánh sáng trắng quét qua. Giọng cô cất lên, vẫn nhỏ nhẹ, vẫn lễ phép: "Em ơi, em có biết chị tên gì không?" Huy dừng lại cách cô hai mét. Anh không trả lời câu hỏi đó. Anh nhớ lại những lần thất bại trước. Việc ném một cái tên vào bóng tối này không có tác dụng. Tòa nhà sẽ nuốt chửng nó trước khi nó kịp bám rễ vào ký ức của người đối diện. Anh hít vào một hơi, mùi rỉ sắt đọng lại nơi cuống họng. "Ngoài kia có người biết tên chị," Huy nói rõ từng chữ. "Chị đi với em ra đó." Cái bóng phía trước không nhúc nhích. "Em ơi, em có biết chị tên gì không?" Đúng câu đó. Đúng nhịp đó. Đúng khoảng lặng đó. Huy giữ nguyên tư thế bò, bàn tay phải tì xuống mặt sàn bê tông đầy cát. Anh không nhắc lại cái tên. Anh đã thử cách đó rồi, hai lần, và cả hai lần nó rơi vào chỗ không có gì đỡ. "Có một bà cụ bán chè dưới sân," anh nói. "Bà không nhớ mặt chị. Nhưng bà nhớ chị hay ngồi cái ghế nhựa xanh, kêu chè đậu đen ít đường, để dép ở bậc thềm thứ hai. Bà nhớ hết, trừ cái tên." Im lặng. "Hôm qua bà gọi điện cho con gái bà ở Bến Tre. Bà đọc cái tên đó qua điện thoại. Con gái bà ghi ra giấy rồi cất đi. Người đó chưa từng đặt chân tới toà nhà này." Cái bóng vẫn không động đậy. Nhưng câu hỏi cũng không vang lên lần nữa. Huy nói tiếp, giọng đều, như đang đọc một phương án xử lý sự cố cho khách hàng nghe: ở đây không có ai gọi chị cả, ở đây chỉ có chỗ để cất. Cái tên của chị không nằm trong cái khoang này. Nó nằm ở một tỉnh cách đây tám chục cây số, trong một cuốn tập học trò, và nó vẫn còn nguyên ở đó. Anh không van xin. Anh không hứa hẹn gì. Anh chỉ đưa ra một lý do để dịch chuyển, giống như đưa ra một lối thoát cho một bộ phận bị kẹt trong hệ thống. Hạnh im lặng. Sự im lặng trong hố thang máy mang một trọng lượng vật lý, ép vào màng nhĩ Huy. Anh không dùng những lời lẽ van xin. Anh nói như một người thợ đang đưa ra phương án xử lý sự cố kỹ thuật. Một lý do để chuyển dịch. Một lối thoát cho một bộ phận bị kẹt trong hệ thống. Sau một khoảng thời gian dài, cái bóng gầy guộc bắt đầu chuyển động. Tiếng vải thô cọ trên sàn bê tông nghe lẹt xẹt. Hạnh bò theo phía sau Huy. Anh không quay đầu nhìn lại. Anh cảm nhận được nhịp thở nhẹ, đứt quãng của cô ở ngay phía sau gót chân mình. Họ bò tới gần miệng khoang, nơi vách bê tông có một khoảng trống nhỏ. Đây là vị trí anh đã đánh dấu từ trước. Huy dừng lại. Anh lấy cuộn băng keo giấy và cây bút bi từ trong túi ngực ra. Ngón tay anh hơi run vì tỳ xuống sàn quá lâu. Anh kéo một đoạn băng keo dài chừng 10 cm, dán lên đùi mình để làm điểm tựa. Huy viết tên mình lên đó. LÂM GIA HUY. Nét mực xanh hiện rõ trên nền giấy vàng nhạt. Anh dán mẩu băng keo vào khoảng trống trên vách hố thang. Anh nhìn vào vệt mực vừa dán, giọng nói thấp nhưng dứt khoát: "Mẹ tôi viết cái tên này lên vách nhà dưới quê rồi. Chỗ đó cách đây gần trăm cây số. Cái hố này với không tới." Huy miết chặt mép băng keo vào mặt bê tông sần sùi. "Mẩu giấy này là bản sao. Tôi trả lại bản sao." Ngay khi ngón tay anh rời khỏi mẩu giấy, một âm thanh vang lên. Một tiếng cạo ngắn, dứt khoát, tiếng kim loại rạch vào bê tông. Nó phát ra cách anh chừng một sải tay, ở chỗ hàng vạch khắc dừng lại. Huy quay đèn sang. Cuối hàng có thêm một vạch nữa. Mép khắc còn sắc, bụi bê tông trắng chưa kịp rơi hết xuống sàn. Không có ai ở đó, và không có gì trong tay ai cả. Giao dịch đã xong. Huy ngồi im một lúc trong khoang, đầu cúi xuống vì trần thấp. Anh thử một việc. Anh nhẩm trong đầu ba chữ của mình, không đọc ra tiếng. Chúng vẫn còn đó. Vẫn ghép được thành một cái tên, vẫn là tên của anh. Anh không biết sáng mai chúng có còn ghép được nữa hay không, và anh cũng thôi không tìm cách biết. Cái phần chắc chắn duy nhất nằm trên vách nhà mẹ anh, viết bằng bút bi, ở chỗ chưa ai quét vôi đè lên. Huy trườn ra khỏi khoang kỹ thuật, nhảy lên nóc cabin. Anh bám vào mép cửa tầng, dùng sức cánh tay kéo người lên hành lang tầng 4. Anh đứng vững trên mặt sàn lát gạch bông cũ. Anh quay lại, chìa bàn tay phải xuống khoảng tối của hố thang. Luồng sáng đèn pin trên trán anh cắt qua bóng tối tới mép cabin rồi hết. Phía dưới đó anh không nhìn thấy gì. Huy giữ bàn tay lơ lửng ở đó. Anh đếm. Đó là thói quen của nghề, đếm để biết mình đã chờ bao lâu chứ không phải bao lâu thì mình tưởng. Tới sáu mươi thì cổ tay anh bắt đầu mỏi. Tới một trăm hai mươi thì vết rách dưới lớp băng trên cẳng tay trái nhói lên theo từng nhịp mạch. Không có bàn tay nào chạm vào tay anh. Không có tiếng vải cọ trên bê tông. Không có hơi thở. Anh cũng không nghe thấy tiếng gì đi ngược trở vào trong khoang. Hai khả năng đó nằm cạnh nhau, và anh không có cách nào đo được cái nào đúng. Cả đời anh làm nghề là để không bao giờ phải đứng ở chỗ này: chỗ mà không có đồng hồ nào, bút thử nào, bản vẽ nào trả lời giùm. Tới hai trăm bốn mươi, Huy rút tay lại. Anh đứng thẳng người trên hành lang. Anh không nhìn vào khe hở thang máy nữa. Anh nhìn thẳng vào khoảng không trước mặt, hít một hơi dài, rồi nói to: "Tôi tên là Lâm Gia Huy." Tiếng nói của anh đập vào những vách tường hành lang, dội lại, rồi chìm vào sự tĩnh lặng của chung cư Bến Nghé. Không có giọng nói nào đáp lại. Không có tiếng thì thầm trong đường ống. Chỉ có tiếng rơ-le trong tủ điện tầng nhảy một tiếng "tạch" khô khốc. Cánh cửa tầng từ từ khép lại. Những tấm thép rỉ sét nghiến vào nhau, che khuất hố thang máy đen ngòm. 4 giờ sáng. Ánh sáng mờ đục của ngày mới bắt đầu len lỏi qua những ô cửa sổ vỡ ở cầu thang bộ. Huy đứng một mình giữa hành lang. Anh cúi người gỡ sợi dây bảo hiểm, cuộn lại thành từng vòng đều đặn. Anh thu dọn kìm, tuốc-nơ-vít và chiếc chìa khóa tam giác vào túi đồ nghề. Anh dùng khăn tay lau sạch những vết dầu mỡ bám trên các đầu ngón tay. Anh làm việc chậm rãi. Mọi thao tác đều chuẩn xác như cách anh vẫn thường kết thúc một ca sửa chữa điện nước cho khách hàng. Anh khóa tủ điện tầng, kiểm tra lại các niêm phong. Khi túi đồ nghề đã kéo khóa xong, Huy xách nó lên. Từ phía cầu thang bộ đi xuống, một âm thanh vọng lên. "Lẹt xẹt... bịch..." "Lẹt xẹt... bịch..." Tiếng bước chân so le. Một tiếng là đế nhựa mòn kéo lê trên mặt gạch, một tiếng là bàn chân trần chạm xuống nền đá lạnh. Tiếng đó đi qua chiếu nghỉ mười bậc, rồi mười tám bậc, rồi mười tám bậc nữa. Huy đếm theo mà không định đếm. Xuống tới sân, nó lẫn vào tiếng một chiếc xe máy nổ sớm ngoài hẻm, rồi không còn nghe thấy nữa. Đêm nay cậu mở cửa cho nó rồi. Ông Tư Lành đã nói vậy, bằng cái giọng bình thản của người đã tính trước chuyện này hai mươi năm. Có một thứ vừa đi xuống cầu thang và ra khỏi toà nhà. Huy không biết đó là ai trong hai người. Huy đứng yên tại chỗ. Anh không quay đầu lại nhìn. Anh không nhìn xuống cầu thang bộ để xác nhận cái bóng đó là ai. Anh lẳng lặng đi về phía phòng 404. Cánh cửa gỗ mở ra. Căn phòng trống rỗng, nồng mùi ẩm mốc và bụi bặm. Trên chiếc bàn gỗ cũ kê sát cửa sổ, cuốn sổ tay của Hạnh nằm mở sẵn. Huy bước đến gần. Trang giấy trắng cuối cùng vốn chỉ có năm vạch đỏ của đêm qua giờ đã khác. Sáu vạch mực đỏ. Sáu vạch kẻ nằm song song, đều tăm tắp và dứt khoát. Nét mực tươi rói như vừa mới được vẽ lên. Huy nhìn vào những vạch đỏ đó một lúc rồi gấp cuốn sổ lại. Anh đặt cuốn sổ vào giữa ngăn bàn, đóng ngăn kéo lại. Trên tường bếp còn dán tờ lịch. Thứ Năm khoanh bút bi, chữ anh: cữ chạy thận của mẹ. Còn hai ngày nữa, và anh vẫn thiếu. Phòng này rẻ bằng nửa mọi chỗ khác trong thành phố, và anh vẫn chưa có chỗ nào để dọn đi. Bảy giờ sáng có mối thay phao cơ bồn nước bên khu B. Huy xách túi đồ nghề bước ra ngoài. Cánh cửa phòng 404 khép lại. Chốt khóa cơ sập xuống.