Chương 10: Mười hai giờ khác nhau

Thuộc tiểu thuyết Căn Phòng Sạch Quá

Tác giả: · Thể loại: Trinh Thám · Đăng ngày · 2401 từ · khoảng 12 phút đọc

Hoà là người tới trước. Bà Năm chưa chạm đất thì anh đã bỏ cái xe lăn, băng qua khoảng sân, một đầu gối quỳ xuống. Tay trái anh luồn dưới gáy bà, tay phải đỡ sau lưng, và bà già 70 ký nằm xuống nền xi măng chậm như người ta đặt một chén nước đầy. Anh nghiêng đầu bà, hai ngón tay đặt ở cổ, nói với ai đó "Gọi 115, nói bà già 63, tim", không to tiếng, và ba người cùng móc điện thoại. Ngân vẫn đứng cạnh bàn xếp. Hai tay cô để yên ở hai bên. Mười năm cô khiêng đồ của người đã chết, và lúc này cô không biết phải đặt tay vào đâu. Xe tới sau 17 phút. Không ai nói gì với cô trong 17 phút đó, và đó là phần cô nhớ lâu nhất. Bà Út ngồi bệt dưới đất, nắm bàn tay bà Năm, cái tay đã gập dở ba ngón. Hoà đếm nhịp thở. Người ta đứng thành vòng, và cái vòng có một chỗ hở rất rõ, đúng hình của cô, vì mọi người đều lùi ra khỏi nó mà không cần bàn nhau. Khi băng ca đi qua, con trai bà Năm, một người đàn ông cô chưa gặp lần nào, chạy từ ngoài cổng vào, mồ hôi ướt áo. Anh ta nhìn mẹ, rồi ai đó chỉ tay, và anh ta nhìn cô. Anh ta không nói gì, chỉ nhìn đủ lâu để nhớ mặt. Phước đếm lại 11 phong bì, ghi biên bản, giao cái hộp đỏ cho cô Hường giữ, bắt ký tên. Cô Hường ôm nó vào ngực bằng cả hai tay. Từng người một đứng dậy, khiêng ghế về, tiếng ghế nhựa khua trên xi măng. Họ đi ngang cô không quay đầu. Một bà cụ nào đó đi qua, dừng lại, nhìn cô từ dưới lên, nói không lớn không nhỏ: "Con gái con đứa," rồi đi tiếp. Phước gom hàng đồ vật trên bàn vào một túi ni lông, từng món, ghi vào sổ. "Sáng mai chị lên phường. Đem cái sổ của chị theo. Bà đó nói đắp mền, tôi ghi lại, tôi chưa biết nó nghĩa là gì. Căn đó đừng dọn thêm gì nữa." Anh gài nắp bút. "Chị có hỏi tôi một câu thì đỡ hết chuyện này, chị biết hông? Một câu. Tôi ở cách đây có 400 mét." Anh không nói bằng giọng trách. Cô thà anh trách. Khoa còn lại cuối cùng. Cô đã chuẩn bị cho hắn, cho cái miệng ngọt và số tiền bị giữ lại. Nhưng hắn đang đứng trơ giữa bãi ghế dọn dở, tay cầm chùm chìa cô đưa, mặt bóng mồ hôi, nhìn lên lầu ba. Một trong hai điện thoại của hắn reo, hắn không nhìn, và nó reo tới hết. "Anh Khoa. Đồ nghề tôi còn trên đó." Hắn quay lại, như vừa được đánh thức, nhìn cô một lúc mới nhận ra cô là ai. "Hả? Ừ." Giọng hắn lạc mất cái nhịp thường ngày. Hắn đẩy chìa vào tay cô. "Hợp đồng coi như thôi, công an cấm dọn rồi còn gì. 6 giờ sáng anh lấy lại. Ừ. Làm gì thì làm." Hắn đi về phía cổng, quên chào, quên cả cái bàn xếp. Cò nhìn theo chiếc xe cứu thương đã đi mất từ lâu. Nó nói, "Em đi coi bà," không phải xin phép. Nó không nhìn cô. Rồi nó đi bộ ra cổng, cao lêu nghêu, hai tay thọc túi áo khoác. 54 bậc. Cô mở cửa 304 lúc 20 giờ 50 và không bật đèn lớn. Cô bật cái đèn bàn của ông thợ đồng hồ, kéo sợi xích nhỏ. Tiếng tích tắc đón cô như mọi lần, đều đặn, rất dày, không biết gì cả. Cô ngồi xuống cái ghế đẩu, và 10 phút sau ba chiếc có chuông trong số 12 chiếc đồng hồ đánh 9 giờ. Không ai tra chìa vào ổ. Cô ngồi đó nghe cái không có tiếng rè rè ấy kéo dài. Bên kia vách, nhà Hoà im phắc. Tiếng ti vi ở đâu đó dưới lầu tắt đi. Cô nghĩ, không có bằng chứng gì, chỉ là nghĩ, rằng cả lầu ba lúc này đang nằm trong bóng tối và lắng tai. Rồi nó bắt đầu, ngay dưới chân cô. Cộc. Cộc. Cộc. Rất nhỏ, đều, không vội, từ dưới sàn đi lên. Cô cúi xuống đặt bàn tay lên mặt gạch, và cái rung nhẹ ấy chạm vào lòng tay cô. Cô đứng dậy, ra khỏi cửa, đi xuống một tầng lầu. Trước căn 204, một cái ổ khoá nhỏ mới toanh móc ngoài then cửa, tem giá còn dính. Bên trong có ai đó đang gõ lên cánh cửa bằng một đốt ngón tay, lịch sự như gõ cửa nhà người ta. "Ông Tư ơi." Giọng rất nhỏ, vui vẻ và lạc lõng. "Mở cửa giùm. 9 giờ rồi. Tui kiếm hổng ra cái chìa." Ngân ngồi xuống sàn hành lang, kề miệng sát khe cửa. Cô mất một lúc mới nói được. "Dạ, bà Bảy. Con đây." "Ai đó?" "Con dọn nhà. Ông Tư nhắn bà là tối nay lên dây xong rồi. Bà ngủ đi." Im một lúc. Cô nghe được tiếng thở, tiếng bàn tay già vuốt lên cánh cửa, tìm gì đó. "Mười sáu hả?" "Dạ. Mười sáu." "Đừng có hơn. Hơn là hư." "Dạ, con biết." Tiếng dép vải đi xa dần, rồi tiếng giường. Ngân vẫn ngồi đó, hai bàn tay trên đầu gối. Một sợi chỉ đỏ đã bị cắt sáng nay bằng một cây kéo, vì một câu nói của cô. Cô quay lên, lấy đèn pin, quỳ xuống. Cô mở sổ trang đầu tiên, trang từ sáng thứ Hai, chữ thằng Cò nguệch ngoạc và run. Dòng thứ nhất: *Ca 4 ngày.* Cô nhìn nó một lúc lâu, giống người đọc tới cuối lá đơn mới thấy mình điền sai từ ô đầu tiên. Cô lấy bút chì gạch ngang chữ đó. Cô lật tìm hai dòng đã lật qua trưa nay. *Không mùi. Ron sạch.* Cô đưa đèn xuống sát khoảng sàn trắng hơn, khều lại vệt ám nhạt ở đáy ron, cái vệt cô không gọi được tên. Giờ thì gọi được. Cô đã gặp nó ở những ca khác, ca của người sống, những ông bà nằm một chỗ nhiều năm mà con cái thuê cô tới cọ phòng. Đó là dấu của một người bệnh. Người ta cọ chỗ này vì có một người đã nằm đây mà thở, suốt những ngày người ta tưởng ông đã chết. Dơ thì tui lau. Sàn phải lau, nhà có người bệnh mà dơ là sao được. Con đi nhiều nhà, chưa thấy nhà nào sạch vậy. Cô đã nói câu đó với bà. Cô đứng lên, đi vào bếp, cầm cái muỗng cà phê nhỏ trên kệ, đứng nhìn nó trong lòng găng tay. Một người ở một mình có muỗng canh là đủ. Cái muỗng nhỏ này để đút cho một cái miệng chỉ còn mở được một bên. Từng chút, đút nhanh là sặc. Ổng ngó tui. Ổng khóc, tui lau. Bà đã kể hết. Ngay trong căn phòng này, tối hôm qua, với cái chìa cánh bướm cầm tay. Miệng ổng méo xẹo vầy nè. Bà đã vẽ lên không khí đúng một cơn đột quỵ, và cô đã dựng một cái cân, một bên đặt đồng hồ đeo tay, hộp thuốc, tin đồn, bên kia đặt người duy nhất đã thực sự ở đây. Rồi cô đọc số, và cô tự hào về giọng đều của mình. Em hỏi cái này, chị đừng la. Hay là bữa đó ổng chưa chết? Cô đặt cái muỗng xuống, đúng chỗ. Tấm bìa NGHỈ TỚI CHỦ NHẬT đã nằm trong túi của Phước, nhưng cô không cần nhìn. Cô đã nói trước sáu chục người: để không ai gõ cửa. Đúng. Diễm thấy nó tối thứ Năm. Bà Năm thấy nó sáng thứ Sáu. Có ai đó đã cắt miếng bìa, viết từng chữ, xỏ dây thun, và treo nó lên cánh cửa của một người đang nằm thở ở bên trong. Còn cái điện thoại, tắt lúc nào? Cô định viết một câu trả lời, rồi cô đổi thành dấu hỏi. Từ tối nay cô không đoán nữa. Không có ai giết ông. Mấy ngày đó ông chỉ nằm đó. Tối thứ Tư, thứ Năm, thứ Sáu, ông thợ đồng hồ nhỏ thó nằm giữa bàn thợ và 12 cái quả lắc, cách bức vách nhà Hoà một tầm tay, miệng đã méo nên không gọi được, trong khi trên tường người ta vẫn bóc lịch mỗi tối. Một bà cụ cho ông uống từng muỗng nước. Và có ít nhất một người đã xỏ dây thun tấm bìa đó vào nắm cửa, rồi đi. Cô viết một dòng mới, bằng bút chì, bên dưới cái chữ đã gạch. Tay cô không run. Nó chỉ chậm. *Ai nói bốn ngày?* Cò về lúc 1 giờ 10, đẩy cửa bằng vai, tay xách hai hộp cơm đã nguội. Nó ngồi xuống bệt cạnh cái thùng đồ, lưng dựa vào vách, chỗ dưới chiếc đồng hồ số 12. "Bà còn sống. Tim. Người ta để bà trên cấp cứu, mai coi có đặt gì đó hông, bác sĩ nói từ gì em hổng nhớ, nghe như tên thuốc trừ sâu. Con trai bả đuổi em, ổng hỏi mày là thằng nào, em nói em là thằng phụ việc của chị Ngân, ổng nói cút. Em cút ra hành lang, đứng tới khi ổng đi lấy nước rồi em vô nhìn một cái. Bà Út ngồi ở đó, bà hổng nói gì với em, mà bả cho em nửa ổ bánh mì trong túi. Bà Năm nằm nhỏ xíu à chị. Hồi đứng ở tiệm em tưởng bả to lắm." Nó đẩy một hộp cơm về phía cô. "Em mua canh mà đổ rồi. À, em có hỏi cô y tá. Em hỏi sờ tay lạnh ngắt, nhắm mắt, kêu hổng thưa thì có phải mất rồi hông. Cô nói người già nằm lâu, thiếu nước, huyết áp tụt là vậy đó, người nhà tưởng mất rồi, chở vô đây mới biết còn thở, tháng nào cũng có." Cô nhìn hộp cơm. Bàn tay phải của bà Năm, gập dở ba ngón. Nó không nói gì nữa. Nó có quyền nói. Cả buổi tối nay nó có quyền nói ít nhất ba câu, cô đã nghe trước cả ba câu đó trong đầu, bằng giọng của nó. Nó ngồi đó, kéo khoá áo khoác lên, tháo cái tai nghe ra, và ngáp. "Em hỏi đúng," Ngân nói. Cò im một lúc. Rồi nó dựa đầu vào vách. "Dạ," nó nói. "Chị ăn đi." Nó ngủ ngay sau đó, miệng hé, cao lêu nghêu gấp lại thành ba khúc. Cô lấy tấm bạt nhựa trải lên chân nó, rồi ngồi lại cái ghế đẩu. Cô ăn hết hộp cơm. Cô không biết mình đói. 2 giờ 49 phút, chiếc số 7 đứng lại. Cô không nghe thấy nó đứng. Cô chỉ nhận ra có một cái gì đó vừa bớt đi khỏi căn phòng, như khi một người đang thở cạnh mình nín lại. Cô ngẩng lên. Hàng giữa, chiếc thứ ba, quả lắc đưa thêm mấy nhịp càng lúc càng ngắn, rồi treo lơ lửng, thẳng đứng. Cô mở sổ, ghi: *số 7, 2:49*. 3 giờ 04, số 2. 3 giờ 11, số 10. Lúc 3 giờ 30 cô đã đứng dậy, đi tới đứng trước bức vách, cuốn sổ trong tay. Lên dây lần cuối tối thứ Ba, trong tay bà cụ, mười sáu vòng, mười sáu vòng. Chúng hết dần, cái sớm cái muộn, tuỳ cái máy già cỡ nào, tuỳ quả lắc nặng cỡ nào, và từng cái một giữ lại một giờ riêng của mình. 3 giờ 42. 3 giờ 58. 4 giờ 20. Tiếng mưa trên mái tôn thưa ra. Giờ thì cô nghe được từng giọt. Cô nhận ra rằng mình đang nín thở mỗi khi một chiếc chậm lại, như người ta canh một người ốm. 4 giờ 47. 5 giờ 03. 5 giờ 15. Tới 5 giờ 30 chỉ còn hai chiếc. Rồi chỉ còn một, chiếc số 9 hộp gỗ gụ. Mỗi nhịp của nó đi ra rất rõ trong căn phòng, gõ vào gạch, gõ vào vách, một mình, và trời ngoài cửa chớp đã có một vệt xám. Có tiếng gà ai nuôi trên sân thượng dãy C. 5 giờ 41. Cái đĩa đồng đưa sang trái, đưa sang phải, nhích thêm một chút rồi thôi. Im lặng đi vào căn 304 từ bốn phía. Cô đứng nhìn 12 mặt đồng hồ, 12 giờ khác nhau, 2:49, 3:04, 3:11, 3:42. Trông như một căn phòng đầy người vừa ngừng nói giữa câu. Sáu năm rồi, không, ba mươi năm rồi căn phòng này mới biết thế nào là không có tiếng. Trong cái im đó, cô nghe được thứ mà từ sáng thứ Hai tới giờ nó đã che đi: qua bức vách, sát lắm, ngay sau chiếc đồng hồ số 4, có tiếng một người trở mình. Rồi im. Một người thức, và cũng đang nghe sự im lặng này. Cô đứng như vậy một lúc. Rồi cô đi vào bếp. Trên kệ phía trên bồn rửa, cái ly thuỷ tinh vẫn úp trên tờ giấy ăn gấp vuông. Cô tháo găng ra, cả hai lớp. Hai tay trần. Cô nhấc cái ly, mở vòi, hứng nước, đứng bên bồn rửa của ông Tư Lễ và uống hết, chậm, nước máy có vị clo. Cô rửa ly. Cô úp nó lại đúng chỗ. Cò vẫn ngủ. 6 giờ thì Khoa tới, hoặc không tới. Cô không còn hợp đồng, không có quyền đụng vào cái gì ở đây, và trên đời này chỉ có một bà cụ dưới sàn nhà tin rằng việc đó đã làm xong. Cô đi tới cái hộp gỗ cuối bàn thợ, lấy ra chiếc chìa cánh bướm, kéo ghế đẩu lại sát bức vách, đặt chân ghế đúng vào hai vết mòn trên gạch. Cô trèo lên. Cô mở mặt kính chiếc số 1, tra chìa vào. Rè. "Một," Ngân nói.