Chương 9: Ai nói bốn ngày

Thuộc tiểu thuyết Căn Phòng Sạch Quá

Tác giả: · Thể loại: Trinh Thám · Đăng ngày · 2084 từ · khoảng 10 phút đọc

Người ta treo một bóng đèn tròn lên nhánh bàng thấp nhất, kéo dây từ nhà ông bảo vệ, và muỗi kênh tìm tới đó trước tất cả mọi người. 19 giờ. Ghế nhựa đỏ, ghế nhựa xanh, ghế đẩu, bậc cửa, thành bệ nước khô. Sáu chục con người, có thể hơn, cả dãy B và mấy người dãy C sang coi. Thầy Ba ngồi xe lăn hàng đầu, gậy nhôm dựng giữa hai đầu gối, Hoà đứng sau. Bà Út ôm cái rổ trống. Mười một người có phong bì đã ngồi lại với nhau không cần ai sắp. Diễm đứng ở mép tối cạnh cầu thang, đồng phục xưởng, nón cầm tay, thỉnh thoảng nhìn lên lầu hai rồi nhìn giờ. Bà Năm ngồi trên bậc tiệm mình, không lại gần. Cửa cuốn đã kéo lên một nửa. Người ta đặt giữa sân một cái bàn xếp, để Khoa có chỗ đặt hai điện thoại. Hắn mặc áo mới. Hắn chờ đủ người, hắng giọng, cảm ơn bà con, nói về tình chú cháu đúng 30 giây, rồi quay sang cô. "Em Ngân. Chìa đâu? Với lại cái hộp." Ngân bước ra chỗ sáng, trong một cái áo thun xám khác y hệt cái cũ, còn mùi xà bông, cuốn sổ dọn trong tay trái. Cò đi theo sau xách một thùng giấy, và mặt nó rất tệ. Cô đặt chìa lên bàn trước. Rồi cô nói: "Hộp ở đâu tôi biết." Sáu chục con người ngừng quạt. Cô chưa từng nói trước đám đông trong đời. Cô nghĩ sẽ khó. Nhưng hoá ra nó giống như đi dọc một bức vách và đọc tên từng món. Cô mở sổ. Cô lấy từ tay Cò từng thứ, đặt lên mặt bàn xếp, xếp hàng, cách đều, dưới bóng đèn. "Tôi dọn nhà sau tang mười năm. Hơn hai trăm căn. Tôi không phải công an. Tôi chỉ nói cái tôi thấy, ai thấy tôi sai thì nói." Cô nói về cái nệm. Cô nói gọn, không dùng một chữ nào làm người ta phải bịt miệng, chỉ nói: người nằm trên một cái nệm nhiều ngày thì nệm giữ lại, không giặt được, không che được, và cái nệm của ông Tư không giữ gì hết. Cô đặt tấm ảnh in ở tiệm photo lên bàn. "Ông không nằm trên giường. Người mở cửa sáng Chủ nhật thấy ông nằm ngay ngắn, đắp tới ngực. Nhưng ông không nằm ở đó." Cô nghe thấy một hơi thở chung đi qua cái sân. Hoà đứng yên sau chiếc xe lăn, hai tay trên tay đẩy. Thầy Ba nghiêng tai. "Vậy chớ ổng tự bay lên giường hả cô?" Ông già cởi trần hôm trước, nay có áo, nói từ hàng thứ hai, nửa đùa, và có mấy tiếng cười bị bóp lại rất nhanh. "Có người khiêng," Ngân nói. Tiếng cười dừng. Cô đợi cho nó dừng hẳn, vì cô phải lật trang. Cô nói về khoảng sàn cạnh bàn thợ, 1 mét 58, về bàn chải, về lực tay. Có hai dòng trong sổ cô không đọc. Cô cũng không nói về những vệt số tám. Cô đã hứa, nên cô đi vòng qua chúng, giống như chúng từng đi vòng qua một thứ khác, và trong một thoáng cô nhìn sang mép tối cạnh cầu thang. Diễm đang nhìn xuống đất. "Ông ngã ở đó, tối thứ Tư. Đồng hồ đeo tay dừng 9 giờ 47." Chiếc đồng hồ nằm trên bàn, trong túi ni lông, đúng giữa hàng. "Sau đó có một người vào phòng, tắt điện thoại của ông, treo tấm bảng này lên cửa cho không ai gõ. Ông Tư viết bút máy, không viết kiểu này. Người đó lấy cái hộp bánh quy đỏ, để quên chìa trong ổ. Tối thứ Bảy, khi bảng nghỉ sắp hết hạn, người đó mua Javel, nhấc ông lên giường, đắp mền, cọ sàn. Rồi đợi người khác tới mở cửa." "Ai?" Khoa nói. Hắn đã quên hai cái điện thoại. Cả sân chồm về phía trước, kể cả những người ngồi ghế. Cô đặt mẩu giấy *18k* lên bàn, và đặt chai Javel mới mua sáng nay cạnh nó, xoay nhãn giá ra. "Người có chìa. Người bán chai này. Người dùng được thùng hàng. Người nhấc nổi 25 ký. Người biết chỗ ông để hộp, trong khi không ai ở đây biết." Cô ngẩng lên khỏi cuốn sổ. Bóng đèn làm mắt cô hơi chói. "Hộp đỏ có 11 phong bì. Nó nằm trong tiệm 101, trong chồng gạo. Chiều nay lúc 4 giờ, dì Năm đóng cửa, kéo bao gạo ra, ngồi đếm. Tôi thấy." Không có tiếng gì cả. Thật lạ khi cái im lặng lại có hướng. Sáu chục cái đầu quay lại, chậm rãi, về phía bậc cửa tiệm tạp hoá, và tiếng ghế nhựa kêu ken két. Bà Út đứng phắt dậy, cái rổ tuột khỏi tay. "Năm ơi." Trong ngực Ngân có một cảm giác rất sạch. Bà Năm vịn khung cửa cuốn đứng lên, mất một lúc lâu, và không ai đỡ. Bà tháo cặp kính xuống cho nó thòng trên ngực, không nhìn ai, quay lưng đi vào trong tiệm, cúi qua nửa cửa cuốn. Có tiếng cái gì đó bị kéo lê trên nền. Cả sân nghe rõ tiếng bà thở. Bà đi ra. Bà ôm trước ngực cái hộp thiếc đỏ, cái lâu đài châu Âu tróc sơn áp vào tạp dề xanh, và bà đi từ bậc tiệm ra tới cái bàn xếp, 14 bước, trên hai cái đầu gối hư. Người ta dạt ra cho bà đi. Bà đặt hộp xuống bàn, ngay cạnh chiếc đồng hồ. Mở nắp. Bà lấy trong túi tạp dề ra một cuốn sổ tay nhỏ xíu, ném xuống. "Đếm đi." Giọng bà khàn hẳn, nhưng lớn. "Đếm đi, thằng Khoa. Mười một cái, ba mươi ba triệu, chưa ai mở, tên ai nấy ghi. Đếm! Hường, lại lấy của mày! Thằng Bảo vệ, của mày đây nè! Trời đất quỷ thần, tui già rồi tui ăn cắp 3 triệu của con nhỏ ôm con hả?" Cô gái ôm con bật khóc, không rõ vì sao. Khoa cầm một phong bì lên, nhìn nó như nhìn con dao, rồi hắn mở cuốn sổ tay nhỏ, dò ngón tay trên 11 dòng chữ bút bi, tên và số căn, cái nào cũng có dấu tích của chính bà Năm. Hắn đếm tới cuối. Đếm xong hắn không nói gì, và đó là lần đầu tiên trong tuần Ngân thấy hắn không nói gì. Bà Năm xoay người lại đối diện Ngân. Ở khoảng cách đó cô thấy mắt bà sưng húp, đỏ, và thấy nó không lảng tránh một li nào. "Con nói đúng. Tui lấy. Tui lấy thiệt. Thứ Sáu." "Tối thứ Tư..." "Thứ Sáu!" Bà đập tay xuống bàn, chiếc đồng hồ nảy lên trong túi ni lông. "10 giờ rưỡi sáng thứ Sáu! Tui lên đóng phong bì của tui, gõ cửa không ai mở, cái bảng đề nghỉ gì đó. Ông Tư có nghỉ bao giờ đâu con? Ba mươi năm ổng có nghỉ ngày nào! Tui sợ, tui xuống lấy chìa, tui tự lên, mười bậc nghỉ một lần. Tui mở cửa. Ổng nằm dưới đất, cạnh cái bàn, trong kẹt, đắp cái mền ca rô cũ. Tui kêu ông Tư, ông Tư. Tui sờ tay ổng. Lạnh ngắt." Bà giơ bàn tay phải của mình lên, nhìn nó, ngón tay thô, đốt sưng. "Lạnh ngắt. Mắt nhắm. Tui biết rồi. Tui ngồi xuống đất, tui không có đứng dậy nổi. Rồi tui nghĩ tới cái hộp, tui nghĩ thằng cháu ổng mà tới là mất hết. Ổng nói với tui hồi nào tới giờ, có gì thì dì Năm giữ giùm tiền người ta. Tui lấy cái hộp ôm xuống. Tui tính giữ qua chiều rồi đi báo. Rồi tui sợ. Tui sợ người ta nói tui giết ổng lấy tiền." Giọng bà vỡ ra. "Y hệt như bây giờ đó con." Có người nào đó ở phía sau nói nhỏ "Trời ơi." Cô nghe tiếng Cò thở ra. Ngân đứng yên. Cuốn sổ trong tay cô vẫn mở ở đúng trang chữ in. Mọi thứ trên cái bàn xếp vẫn nằm đúng chỗ của nó, thẳng hàng. Cô tìm thấy dòng tiếp theo. Cô nói bằng giọng đều đặn, vì cô không có giọng nào khác: "Đắp mền. Sáng thứ Sáu ông đã đắp mền. Dì nói không phải dì. Vậy ai đắp cho ông, ai nhấc ông lên giường? Dì có chìa từ đầu. Ông mất từ tối thứ Tư, tới thứ Sáu là hai ngày, dì..." "Ai nói với chị vậy?" Giọng đó khàn, không lớn, từ phía cổng sân, và không hề vội. Sáu chục cái đầu lại xoay. Một người cao, áo cảnh phục hơi nhăn sau một ngày dài, mũ kẹp nách, đang đi vào quầng sáng bóng đèn, tay phủi con muỗi. Ngân không biết anh đã đứng ở đó từ lúc nào. Thượng uý Đặng Hữu Phước nhìn cái bàn xếp. Nhìn cái hộp đỏ. Nhìn hàng đồ vật. Anh nhìn lâu nhất tấm ảnh cái nệm. Rồi anh nhìn cô, với cặp mắt của một người ngủ ít đã ba năm. "Chị Ngân. Chuyện chị làm việc không đăng ký mình nói sau. Tôi hỏi cái này trước. Ai nói với chị là ông Tư mất tối thứ Tư?" Cô không hiểu câu hỏi. Lần đầu tiên từ sáng thứ Hai, cô thật sự không hiểu một thứ gì đó. "Đồng hồ dừng 9 giờ 47. Thuốc ngừng thứ Tư. Cả dãy..." "Cả dãy không ký biên bản." Anh rút cuốn sổ công tác từ túi ngực, không mở, chỉ cầm. "Tôi ký. 8 giờ 10 sáng Chủ nhật tôi với anh y sĩ trạm y tế vô căn đó. Tin đồn bốn ngày tôi cũng có nghe, ngoài chợ người ta còn nói năm ngày. Dân nói thì kệ dân nói, tôi đâu đi đính chính." Anh ngừng lại, và giọng anh hạ xuống, nói riêng với cô giữa sáu chục người. "Chị làm nghề này. Chị mở cửa căn đó ngày thứ Hai. Chị nói tôi nghe, căn phòng đó có mùi của bốn ngày hông?" Cái sân có tiếng muỗi. Có tiếng bóng đèn kêu rất khẽ. Sình kênh. Mỡ hành. Nước xả vải. Một chút nhang. Cô nghe giọng mình nói: "Không." "Không," anh đồng ý. "Y sĩ ghi mất trong vòng một ngày rưỡi trở lại, tính tới sáng Chủ nhật, tức là đâu đó khoảng đêm thứ Sáu, sáng thứ Bảy. Có vết bầm ở vai ở hông, người già ở một mình thì chuyện đó thường. Không dấu hiệu ai tác động. Huyết áp, tuổi cao, cháu không yêu cầu gì thêm. Giấy báo tử ghi ngày 17, tôi đưa tận tay anh Khoa." Anh không quay đầu, nhưng sáu chục cái đầu khác quay. Khoa mở miệng, đóng lại, nhìn xuống hai cái điện thoại. "Giấy tờ anh đưa nhà đòn hết," hắn nói với cái bàn. "Ai mà đọc mấy cái đó." "Hồ sơ của tôi vậy," Phước nói, vẫn nhìn cô. "Ngã là ngã hồi nào tôi không biết, chứ ổng không có nằm chết bốn ngày, chị Ngân. Ông Tư nằm chết có một ngày." Mọi thứ trên mặt bàn xếp vẫn thẳng hàng. Cô nhìn chúng. Cái đồng hồ. Cái chai. Mẩu giấy. Cô có cảm giác như đang đứng trong căn phòng quen thuộc nhất đời mình và ai đó đã nhấc nguyên cái sàn đi. Một âm thanh nhỏ bên cạnh khiến cô quay đầu. Bà Năm chưa ngồi xuống. Bà vẫn đứng vịn mép bàn, và bà không nhìn ai cả. Môi bà mấp máy. Bà đang giơ bàn tay phải lên trước mặt, gập từng ngón, chậm, như người đếm tiền thối cho khách. "Chủ nhật," bà nói. Ngón cái. "Thứ Bảy." Ngón trỏ. "Một ngày rưỡi." Ngón tay thứ ba dừng lại giữa chừng. Bà ngẩng lên. Không nhìn Phước, không nhìn Ngân. Bà nhìn cái hộp đỏ, rồi bà nhìn bàn tay mình, cái bàn tay đã chạm vào một bàn tay khác trong kẹt bàn thợ, lúc 10 giờ rưỡi sáng thứ Sáu, và mặt bà từ từ mở ra. "Vậy là bữa đó," bà Năm nói, rất khẽ, như sợ làm ai thức. "Bữa đó ổng còn..."