Chương 2: Khoảng sàn chừa lại
Thuộc tiểu thuyết Căn Phòng Sạch Quá
Tác giả: Đỗ Hải Yến · Thể loại: Trinh Thám · Đăng ngày · 2112 từ · khoảng 11 phút đọc
"Tắt đèn đi. Đóng cửa lại. Đứng yên chỗ đó." Cò đóng cửa, đứng yên, và bắt đầu đọc kinh rất khẽ bằng một thứ tiếng không thuộc tôn giáo nào. Ngân quỳ xuống giữa gian ngoài, đặt đèn pin nằm hẳn trên sàn, đầu đèn sát mặt gạch, rồi bật lên. Đây là mẹo đầu tiên cô học được trong nghề, tự học, năm 21 tuổi, trong một căn phòng khác. Nhìn từ trên xuống thì sàn nhà nào lau xong cũng sạch. Nhưng cho ánh sáng đi ngang sát mặt gạch thì mọi thứ dựng đứng lên: bụi thành đồi, vết giày thành rãnh, và nước lau khô để lại một lớp phim mỏng ghi đúng đường cây lau đã đi, như tay người viết chữ. Cô đã đọc được người lau là đàn ông hay đàn bà, thuận tay nào, vội hay không vội, có khóc không. Cái cuối cùng thì đừng hỏi cô đọc bằng cách nào. Ánh đèn trườn qua gian phòng. Vệt lau hiện lên. Chúng là những hình số tám nằm ngang, nối nhau, đều tới mức đáng ngại. Cây lau đi chậm, từ cửa vào trong, rộng chừng một sải tay người nhỏ, lật mặt bông ở mỗi đầu số tám. Người lau thuận tay phải. Người lau thấp. Người lau đã lau cái sàn này rất nhiều lần, vì các lớp phim chồng lên nhau, cũ dưới mới trên. Dấu giày công an đóng trên lớp trên cùng, vài dấu rộng đế gai đi từ cửa thẳng vào gian trong, và dấu đó thì không ai lau. Cô bò theo đường số tám. Nó đi dọc chân bàn thợ, ôm sát hai cái chân bàn không sót một phân, bọc quanh cái ghế đẩu, đi tới khoảng giữa bàn thợ và bức vách treo đồng hồ, và ở đó nó rẽ. Cô dừng lại. Đường lau rẽ ngang, đi dọc một lằn thẳng, rồi quặt, rồi đi tiếp một lằn thẳng khác, rồi quặt lại, về đúng chỗ cũ. Lần nào cũng vậy, lớp nào cũng vậy. Nó chừa ra một khoảng. Cô đặt thước dây xuống: 1 mét 58 chiều dài, 62 phân chiều ngang, một đầu chui vào gầm bàn thợ. Bên trong khoảng ấy không có một vệt số tám nào. Bên trong khoảng ấy là một thứ khác. Cô cúi mặt sát xuống, và sợi tóc trong chén cơm hiện ra đúng chỗ của nó: Javel, đậm, cọ bằng bàn chải, những đường ngắn và dữ, đi tới đi lui, gạch ở đây trắng hơn gạch xung quanh nửa tông, hoa văn đỏ nhạt đi. Kẻ cọ chỗ này khoẻ, mạnh tay, thuận tay phải nhưng cổ tay khác hẳn. Cổ tay đàn ông, cô nghĩ, rồi sửa lại: chưa chắc. Dù sao cũng là một người thứ hai. Ngân nhích đèn. Cô nhìn vào ron gạch. Mười năm làm nghề dạy cô điều này trước mọi điều khác: xi măng ron là thứ ghi nhớ. Bốn ngày trong thời tiết này, ở một căn phòng đóng kín, thì ron gạch nhận hết. Javel cọ được mặt gạch, nhưng không rút được thứ đã ăn vào ron, chỉ có đục ra trét lại. Đó là phần việc tốn giờ nhất, phần khách không bao giờ muốn nghe giá. Nên cô biết chính xác mình sẽ thấy gì. Ron gạch trong khoảng ấy sạch. Nó bạc đi vì Javel, nhưng sạch. Cô lấy đầu tăm khều thử một đường, nhìn đầu tăm dưới đèn, ngửi. Vôi cũ. Xi măng. Thuốc tẩy. Và ở đáy rãnh một vệt ám rất nhạt, nhạt tới mức cô không gọi được tên. Một ca bốn ngày không để lại thứ nhạt như vậy. Có người cọ rất kỹ một chỗ gần như không có gì để cọ. Hoặc có người làm được cái việc cô chưa từng thấy ai làm được, kể cả cô. Cô đọc cho Cò ghi: ron sạch. "Bật đèn." Giọng cô ra hơi khác, nên cô hắng giọng và nói lại. Cò bật đèn, nhìn cái thước dây nằm trên sàn, nhìn cô, nhìn thước dây. "Một mét năm mươi tám là cái gì vậy chị Hai?" "Ghi đi rồi nói." Cô đi vào gian trong, tới cái giường. Nệm mút cũ dày 1 tấc, ga đã bị lột, vải bọc màu kem. Khoa nói nằm bốn ngày. Anh hàng xóm nói bốn ngày. Nằm ở đâu thì chưa ai nói. Cô không cần ai nói, bình thường cái nệm sẽ nói. Cái nệm là thứ đầu tiên cô khiêng ra khỏi mọi căn phòng, hai lớp bao, băng keo kín, xuống cầu thang bằng cửa sau. Nệm này có một vết ố nhỏ cỡ bàn tay, cũ, ngả vàng, chắc nước trà của năm ngoái. Ngoài ra không có gì. Cô lật nó lên. Mặt dưới có bụi của người già không còn lật nệm nổi. Cô thả nệm xuống. Mở tủ. Buồng bên trái quần áo. Ba cái áo sơ mi trên mắc, cài kín nút. Một chồng may ô. Khăn tắm và khăn mặt để ngăn dưới, gấp tư, kiểu của người đàn ông già ở một mình gấp, hơi lệch, mép ra ngoài. Hai cái trên cùng thì khác. Hai cái trên cùng gấp ba, gọn tăm tắp, mép giấu vào trong, cạnh vuông như cắt. Cô từng thấy kiểu gấp đó rồi, không nhớ ở đâu, cô chụp một tấm hình bằng điện thoại vì lý do y hệt lý do cô chụp mọi thứ. Có tiếng gõ ngoài cửa, hai cái, nhẹ, kiểu xin phép. Hoà đứng ở hành lang, đã tháo nón, tay cầm hai ly cà phê sữa đá bọc ni lông, đá còn nguyên. "Em chạy một cuốc về, mua luôn. Trời này hai người ở trong đó tội lắm." Anh ta nhìn mấy bọc đồ, không nhìn vào trong. "Em không vô đâu, sợ làm dơ chỗ chị làm. Ăn gì chưa chị?" Cô định nói cảm ơn và đóng cửa. Thay vào đó cô tháo găng, cầm ly cà phê, đứng ra bậu, vì cô có một câu cần hỏi và cô ghét hỏi. "Anh là người thấy ông?" Hoà gật đầu. Anh nhìn xuống cái ly còn lại trong tay, xoay nó một vòng. "Sáng Chủ nhật cái bảng nghỉ hết hạn, mấy cô mấy bác lên lấy đồng hồ, gõ cửa không ai mở, em chạy xuống bà Năm lấy chìa dự phòng. Em là người mở. Bước vô thấy ổng nằm trên giường ngay ngắn, đắp tới ngực, tay để vầy nè." Anh đặt tay lên ngực, thật nhẹ. "Em tưởng ổng ngủ. Em kêu chú Tư, chú Tư. Rồi em biết. Tối thứ Tư em còn nghe ổng lên dây, cái đồng hồ đeo tay ổng dừng 9 giờ 47, chắc là ngay đêm đó. Mấy ngày sau em chạy xe tới khuya, về không thấy đèn, em nghĩ ổng ngủ sớm. Thứ Năm, thứ Sáu, thứ Bảy. Em ở cách có một bức tường, chị coi có tệ không." Trên giường. Đắp tới ngực. Ngân nhìn qua vai mình về phía cái nệm màu kem. "Dạ, anh đừng nghĩ vậy," Cò nói từ phía sau, thật thà, miệng đang ngậm ống hút. "Mấy ca tụi em làm, mười ca hết chín là hàng xóm hổng hay. Mà cà phê này ngon quá anh ơi, ở đâu vậy?" Hoà cười một cái, mệt, và nói tên tiệm, và hỏi Cò bao nhiêu tuổi, và Cò nói, và trong vòng một phút rưỡi thằng nhỏ đã kể xong chuyện bà nội dưới quê. Ngân để hai người nói. Cô quay vào, đi dọc bức kệ cao trên bàn thợ với cuốn sổ, đọc tên trên những mảnh giấy buộc vào đồng hồ khách. Chữ bút máy nghiêng, rất đẹp, số 7 có gạch ngang kiểu người học chữ từ thời xưa. *Ô. Bính dãy C, thay cót, 150.* *Cô Hường, hẹn thứ Bảy.* Toàn bộ đồ trên kệ đều có giấy. "Chị Hai để em ghi kệ đó cho." Cò đã vào, ly cà phê kẹp nách, đưa tay lên kệ. "Ê, cái này hổng có giấy nè." Nó nhấc xuống một cái đồng hồ báo thức tròn, loại hai quả chuông đồng trên đầu, cái búa nhỏ ở giữa, kiểu cô chỉ còn thấy trong phim. Mặt kính xước. Cò xoay xoay nó trong tay với niềm vui của đứa trẻ tìm thấy một món đồ không có nút cảm ứng. "Đừng đụng." "Dạ, em ghi tình trạng thôi mà. Coi nó còn chạy hông. Cái núm này là gì? Cái này lên dây nè, chị Hai, nó lên được nè, ủa, còn cái kim nhỏ này..." Tiếng chuông nổ ra trong căn phòng 28 mét vuông như có người ném cả mâm chén xuống cầu thang. Cò la một tiếng. Cái đồng hồ nhảy trong tay nó. Hai quả chuông đồng rung lên đến mờ cả mắt, âm thanh chói gắt xuyên qua vách, xuyên ra hành lang, dội xuống sân, và thằng nhỏ quýnh quáng lật tới lật lui tìm chỗ tắt mà không có. Ly cà phê của nó rớt xuống sàn. Ngân chộp lấy cái đồng hồ, gạt cái lẫy sau lưng, và mọi thứ dừng lại với một tiếng ngân dài. Im lặng. Mười hai quả lắc vẫn đưa. Cửa nào đó ở cuối hành lang mở ra, rồi một cây gậy nhôm gõ xuống nền, gõ tới, và một giọng già, mảnh, rành rọt từng chữ như đang đọc chính tả cho cả hành lang: "Lại cái chuông đó! Tôi đã nói với ông bao nhiêu lần, ông Tư, thử máy thì làm ban ngày! Ông để cho người ta..." Giọng ngừng lại. Cây gậy cũng ngừng. Một lát sau, nhỏ hơn hẳn, với chính nó: "Phải rồi. Ổng mất rồi còn gì." Cửa ở cuối hành lang đóng lại. Cò đứng trơ, cà phê sữa loang quanh hai chân bọc ni lông. Ngân định nói gì đó về việc đừng đụng, nhưng tay cô đã rút giẻ khỏi túi, đó là thứ tay cô làm trước khi đầu cô kịp nghĩ gì. Hoà vẫn đứng ở bậu cửa, mắt nhìn cái đồng hồ trong tay cô. "Chị để lại chỗ cũ giùm em," anh nói, giọng nhẹ. "Trên cao đó. Con Na nhà em nghe tiếng này nó sợ." Anh cười, nói thêm gì đó về một cuốc đón ở chợ, rồi cái áo xanh bạc vai đi về phía cầu thang. Ngân lau xong, đặt cái đồng hồ báo thức trở lại đúng chỗ trên kệ cao, phải kiễng chân và với tay mới tới. Cô ghi vào sổ: đồng hồ báo thức 2 chuông, không giấy. Trưa, Cò xuống mua cơm. Cô ở một mình với tiếng tích tắc, làm phần việc cô đang được trả tiền để làm, kiểm từng ngăn trong góc bếp. Trên kệ phía trên bồn rửa có một cái ly thuỷ tinh đặt riêng, rửa sạch, úp trên một tờ giấy ăn gấp vuông. Dưới chân ly thò ra một băng giấy nhỏ. Cô rút ra. Chữ bút máy nghiêng, số 7 không có ở đây để so, nhưng cô đã đọc nét chữ này cả buổi sáng. *Cho người dọn nhà.* Ngân đứng đó, hai lớp găng, một băng giấy. Mười năm. Hơn hai trăm căn. Cô đã nhận ở những căn phòng ấy đủ thứ, kể cả mấy thứ không kể được, và chưa một lần, chưa một người, chết hay sống, nghĩ tới chuyện cô sẽ khát nước. Cô kẹp băng giấy vào sổ. Ly để nguyên. Rồi cô quay ra, đứng ở mép khoảng sàn trắng hơn, thước dây vẫn nằm đó, 1 mét 58. Khi Cò về với hai hộp cơm và một câu chuyện dài về giá sườn, nó dừng lại ở cửa, thấy cô đứng nhìn xuống đất, và câu chuyện tự tắt. "Chị Hai. Hồi nãy em ghi 1 mét 58 mà chị chưa nói là cái gì." Ngân nói mà không ngẩng lên. "Ông Tư cao bao nhiêu, em nhớ hỏi." Cò nhìn cái khoảng sàn. Mấy đường số tám đi tới đó rồi rẽ, đi dọc, rồi quặt, không lớp nào đi vào trong. Nó nhìn lâu lắm. Rồi hộp cơm trên tay nó từ từ hạ xuống. "Người ta lau chừa ra," nó nói. "Ừ." "Nhiều lần." "Ừ." "Chừa cái gì?" Trên bức vách, chiếc đồng hồ cuối hàng dưới đánh một tiếng, 12 giờ 30. Ngân cuộn thước dây lại. "Người này lau quanh ông ấy," cô nói. "Mấy ngày liền. Ông nằm đó, và người ta lau quanh."