Chương 3: Bốn trang, ba vết xé
Thuộc tiểu thuyết Căn Phòng Sạch Quá
Tác giả: Đỗ Hải Yến · Thể loại: Trinh Thám · Đăng ngày · 2310 từ · khoảng 12 phút đọc
Tủ gỗ có một ngăn kéo khoá ở dưới cùng, và chìa cắm sẵn trong ổ. Ngân nhìn cái chìa một lúc. Người già giấu chìa. Đó là luật. Cô đã tìm chìa trong hũ gạo, trong gấu màn, trong tượng Phật, một lần trong ống quần của chính người chết. Chưa người nào để chìa trên ổ của cái ngăn duy nhất có khoá trong nhà. Trong ngăn có một khoảng bụi và một khoảng không có bụi. Khoảng không bụi hình chữ nhật, cỡ cái hộp bánh quy lớn, sắc cạnh. Hộp đã bị nhấc đi gần đây, bụi chưa kịp lấp. Cô chụp một tấm. Cạnh khoảng đó nằm một cuốn sổ bìa vải đen dày hai đốt ngón tay, gáy may bằng chỉ, góc bìa mòn trắng ra vì ba mươi năm tay người. Cô gọi Khoa ngay, vì đồ có giá phải lập danh sách trước mặt gia đình, đó là thứ duy nhất đứng giữa cô và tội trộm. Hắn nói 20 phút. Trong 20 phút đó cô đeo găng mới, đặt cuốn sổ lên mặt bàn thợ, mở ra. Những trang đầu giấy đã vàng, mực ngả nâu, cùng một nét bút máy nghiêng ấy nhưng tay còn chắc hơn. Mỗi dây hụi một tập, kẻ cột bằng thước. Ba mươi năm được chia ra thành hơn chục tập như vậy, và tập cuối cùng là giấy mới, đầu trang đề *Dây 22 âm, 24 chân, 3 triệu, khui từ tháng Hai năm ngoái*. Từ đó mỗi trang là một người: tên, số căn, một hàng ô vuông nhỏ, ô nào đã đóng thì một dấu tích, ô nào đã hốt thì khoanh tròn. Góc trên bên phải mỗi trang có số, viết tay. "Đọc số trang chị nghe." Cò đứng sát vai cô, hơi thở mùi cơm sườn. "Một, hai, ba, bốn, năm, sáu, tám... Ủa." "Đọc tiếp." "Chín, mười, mười một, mười ba. Trời. Mười bốn, mười lăm, mười sáu, mười bảy, mười tám, hai mươi. Hai mốt, hai hai, hai ba. Hết rồi. Hổng có hai bốn. Chị Hai, bị mất 7, 12, 19 với 24." Cô mở sát gáy sổ, nghiêng đèn pin. Ba chỗ còn lại cuống giấy: mép răng cưa, kéo xiên, mảnh giấy còn dính vào chỉ may, chỗ dày chỗ mỏng. Xé bằng tay. Mép trang 12 lăn tăn như sóng, trang 7 gọn hơn, trang 19 rách vào cả chỉ may. Chỗ thứ tư thì khác. Cuống trang 24 sát gáy, thẳng băng, mảnh như sợi chỉ, đi hết chiều cao cuốn sổ không lệch một ly. Dao lam và thước. Ba vết xé, một vết cắt. Cô chụp từng cuống một, kèm cây bút chì làm mốc. Rồi cô chụp luôn số trang của 20 trang còn lại, tên gọi thì cô che bằng tay, vì đó là việc của người khác. "Mình đừng đọc tên," cô nói. "Dạ em đâu có đọc. Mà cô Hường có hai chân lận." Khoa tới, mùi nước hoa đi trước. Hắn vẫn không bước qua bậu cửa, bắt cô đem sổ ra hành lang, cầm lấy, lật như lật cuốn catalogue. Cô chỉ cho hắn chỗ bốn cuống giấy. Hắn nhìn đúng một giây rưỡi rồi đóng sổ lại, kẹp nách. "Giấy tờ gì nữa hông? Sổ hồng thì anh giữ rồi, ổng đưa anh từ đầu năm. Tiền? Vàng?" "Ngăn này có một cái hộp mới bị lấy đi, anh coi ảnh." "Hộp gì, bánh quy hả? Em ơi, người già cái hộp bánh quy nào cũng nói là có vàng. Em lo sàn cho anh." Một trong hai cái điện thoại rung. "Sổ này của chú anh, tức là của anh, xong. Làm tiếp đi." Mọi chuyện đã xong thật, nếu Cò không đứng ngay cửa và không là Cò. Bà Út bánh mì đang lên lầu ba đưa cơm cho Thầy Ba, tay xách cà mèn, thấy cuốn sổ đen dưới nách Khoa thì đứng khựng lại ngay đầu cầu thang, y như con gà thấy diều. "Sổ của ổng đó hả con?" "Dạ của ông Tư đó bà," Cò nói, rất lễ phép, rất muốn làm quen. "Mà bị mất bốn trang." Không ai biết tin đi bằng đường nào. Cò thề là nó không nói với ai nữa. Nhưng Ngân vào trong làm được chừng 40 phút, đang bọc nệm thì nghe tiếng dép ngoài hành lang, rất nhiều đôi. "Tui hổng có chơi hụi nghen. Tui hỏi giùm bà chị tui." Đó là một phụ nữ áo bông, đứng ở ngưỡng cửa 304 nói với Cò, hai tay nắm nhau trước bụng. Sau lưng chị ta là một ông già cởi trần, đang giải thích rằng ông cũng không chơi hụi, ông chỉ lên hỏi xem cái đồng hồ của ông sửa xong chưa, tiện thể hỏi coi bốn trang mất là trang nào. Sau ông là một cô gái trẻ ôm con, một người đàn ông mặc đồ bảo vệ vừa tan ca, chị bán vé số. Không ai nhìn ai. Mười mấy con người chen trên một hành lang rộng 1 mét 2, và mỗi người đều chỉ lên hỏi giùm. Rồi Khoa quay lại. Hắn đang xuống tới sân thì bị chặn, đành leo lại, và cuộc họp không ai gọi là họp nổ ra ngay dưới mấy dây phơi. Ngân đứng trong cửa nghe, cuộn băng keo trong tay. Cô nghe không sót chữ nào, nghe người ta nói thì không tốn gì. Sổ đó của ai. Của chú tôi. Chú anh thì chú anh, tiền là tiền của người ta. Tiền gì, ai có giấy tờ gì. Cháu ơi, kỳ này tới hẹn sáng Chủ nhật, người ta đóng phong bì hết rồi. Ai đóng? Tui hổng biết, tui hỏi giùm. Nhiêu đó tiếng cãi đang dâng lên thì một giọng bà già từ dưới cầu thang vọt lên trước cả người, khàn và lớn, quen nói vọng qua quầy. "Trời đất quỷ thần, mấy người có để cho ổng yên chưa! Tro chưa có mà đã đòi tiền!" Bà thấp, đậm, tạp dề xanh, cặp kính lão dây xích bạc nảy trên ngực theo từng bậc thang, leo bằng tay vịn nhiều hơn bằng đầu gối. Hành lang tự dạt ra. Bà tới trước mặt Khoa, nhìn cuốn sổ, và trong một khoảnh khắc Ngân thấy bàn tay bà giơ lên, rồi tự thu lại, đút vào túi tạp dề, chỗ bà đựng tiền lẻ. "Con là cháu ổng, dì hổng cãi. Nhưng cái sổ này, con đọc hổng hiểu đâu. Mai thiêu ổng xong đã. Tới 49 ngày hẵng tính, ông Tư giữ chữ tín cả đời, để người ta nói dây hụi của ổng bể khi ổng chưa nguội hả?" "Dì Năm ơi, con cũng muốn vậy mà con đâu có..." "Mất trang nào?" Bà không hỏi Khoa. Bà hỏi thẳng Ngân, qua đầu mấy người, cặp mắt sau kính lão rất đỏ. Mọi cái đầu quay lại. Ngân nói: "Trang 7, 12, 19, 24." Cả hành lang im, và cô thấy một điều lạ. Người ta không nhìn nhau. Mười mấy người, không ai nhìn sang ai. Mỗi người đều nhìn xuống và đang tính gì đó trên ngón tay mình. Cô hiểu ra rằng không ai ở đây biết số trang của người khác. Họ thậm chí còn không biết chắc số của mình. "Chị Hai," Cò thì thầm khi đám đông vãn bớt, "sao họ hỏi giùm hết vậy?" Bà Út đang đứng cạnh, cà mèn đã đưa xong, tay chống hông thở, và bà là người không bao giờ để một câu hỏi rơi xuống đất. "Để bà nói cho nghe. Con biết hụi là gì hông? Mỗi tháng mỗi người bỏ vô một khoản, 3 triệu đi. Hai mươi bốn chân, chân là một phần chơi, là bảy chục triệu. Bảy mươi hai. Mỗi tháng một chân được hốt trọn số đó, ai cần trước hốt trước. Hốt rồi kêu là hụi chết, còn đóng tiếp cho tới hết dây. Chưa hốt là hụi sống. Nhà nghèo không ngân hàng nào cho vay thì chơi hụi. Con gái lấy chồng, chồng nằm viện, thằng con đi nghĩa vụ về xin việc, cần cục tiền là chỉ có hụi. Hiểu chưa?" "Dạ rồi. Mà sao giấu?" "Tại ông Tư." Bà hạ giọng, không phải vì bí mật, vì bà thích. "Hụi người ta khui là phải ngồi lại với nhau, ai hốt cả dãy biết. Mà hốt hụi là lộ cái túng, con. Nhà ai có chuyện cả chợ đều hay. Ông Tư ổng làm khác. Mỗi người tự bỏ phong bì đưa ổng, muốn hốt thì lên nói riêng. Tới ngày, ổng đem tiền xuống tận cửa, gói trong cái hộp đồng hồ, làm bộ sửa đồng hồ xong trả khách. Ba mươi năm. Bà sống ở đây mà bà cũng hổng biết nhà nào hốt kỳ nào. Dãy này ai cũng có chuyện, mà không ai biết chuyện ai. Có ổng biết. Có cái sổ biết." Bà nhìn về phía cửa 304, rồi nhìn xuống cái tạp dề của mình. "Nên giờ con thấy đó. Ổng chết là chết cái miệng duy nhất." Cò há miệng định hỏi tiếp, nhưng có ai đó đã đứng ở đầu cầu thang từ lúc nào. Một bà cụ nhỏ xíu, áo bà ba màu cánh sen đã bạc, tóc kẹp gọn, sạch sẽ thơm mùi xà bông cục. Một sợi chỉ đỏ vòng qua cổ, chui vào trong áo. Bà cụ nhìn Ngân, lịch sự như chủ nhà đang tiếp khách, nhìn cuộn băng keo, nhìn đôi giày bọc ni lông, gật gật. "Thưa cô. Cô kiếm ông Tư hả?" Ngân kéo khẩu trang xuống. Cô chưa kịp nói gì. "Ổng ngủ dưới đất kìa," bà cụ nói, chỉ tay vào cửa 304. "Kêu hổng dậy. Cô nói ổng dậy đi, ngủ dưới đất lạnh lưng." Một người đàn bà đang lui về phía cầu thang khẽ thở dài. Ai đó mỉm cười, buồn, kiểu người ta cười với trẻ con. Bà Út đã đi tới nắm tay bà cụ, vuốt vuốt. "Dạ, bà Bảy ơi. Ông Tư đi xa rồi. Bà xuống ăn cơm nghen." "Bả nói vậy mấy bữa nay," bà Út quay sang Ngân, nói khẽ. "Bữa trước bả còn nói chồng bả đi Mỹ mới về, cho quà. Chồng bả mất năm 2001. Tội, đầu óc hết rồi." Có tiếng dép chạy lên cầu thang, gấp, lộn bậc. Một người đàn bà gần bốn mươi, áo đồng phục xưởng màu xanh, tóc buộc vội, chìa khoá xe còn cầm tay, ôm lấy bà cụ từ phía sau như ôm một đứa trẻ sắp chạy ra đường. "Cô ơi, con kiếm cô nãy giờ. Con xin lỗi chị, cô con không có ý gì. Con xin lỗi." Chị ta không nhìn Ngân, không nhìn cánh cửa, xoay bà cụ về phía cầu thang. Bàn tay có băng dán ở hai đầu ngón. "Em có ca tối, cô đi xuống với con." "Ổng ngủ dưới đất," bà cụ giải thích với cầu thang. Tiếng dép đi xuống, một đôi nhanh một đôi chậm. Chiều xuống, nắng vàng rớt trên sân. Ngân bọc xong nệm, chừa khoảng sàn trắng nguyên đó, chưa đụng tới, cũng không giải thích với Cò vì sao. Trước khi về cô ghé xe bánh mì đầu dãy, vì Cò đói lại rồi. Bà Út không lấy tiền, gạt phắt, nói ông Tư nằm đó mà con làm cho ông thì coi như bà trả. Đôi tay bà xẻ bánh, quét pa tê, nhét đồ chua nhanh tới mức không thấy động tác. Bà nhìn Ngân. "Con một ổ hen?" "Dạ thôi. Con không ăn." "Ăn chút cho có sức, gầy nhom vậy." "Dạ con không ăn bánh mì." Cô nói câu đó đã 11 năm, lời đã mòn nhẵn, ra khỏi miệng không đụng vào đâu. Bà Út nhún vai, gói ổ thứ hai cho Cò ăn tối. Bà không gói bằng giấy báo, cũng không dùng túi ni lông. Bà rút từ cái xấp dưới xe một tờ lịch bóc đã cũ, gập một góc xuống, cuốn tròn, gài đầu giấy vào trong, một động tác duy nhất. "Giấy này ở đâu vậy bà?" Cò hỏi, miệng đã đầy. "Của ông Tư chớ đâu. Năm nào ổng cũng bóc rồi đem xuống cho bà, bó từng tháng, nói giấy dày tốt, bán bánh mì mà gói bao ni lông là ác. Bà để dành gói cho người trong dãy với mấy đứa bà thương, hơn hai chục năm rồi con." Bà nhìn cái xấp còn lại, tay vuốt lên cho thẳng. "Chắc còn xài được tới Tết." Ngân lấy tờ giấy Cò vừa vứt lên yên xe. Không vì gì cả. Tay cô tự làm thế, như tay cô rút giẻ. Trên giấy có một ngày tháng năm nào đó, một câu thơ, dấu mỡ. Cô gấp nó làm tư, bỏ vào túi áo. Trước khi về, cô quay lại lầu ba một mình. Cô khoá cửa 304, xé một mẩu băng keo xám dài 5 phân, dán ngang khe cửa và khung cửa, sát chân, chỗ không ai nhìn tới. Đó là mẹo cô dùng để biết chủ nhà có lén vào lấy đồ giữa hai ngày làm không. Cô miết kỹ hai đầu, ghi giờ vào sổ: 18 giờ 20. Từ bên trong, qua cánh cửa, tiếng tích tắc vẫn đều đều vọng ra. Ở căn bên cạnh, có tiếng đứa bé đọc bài, và tiếng Hoà nói gì đó rất nhẹ. Một cái chìa ở trong túi cô. Cái thứ hai ở chỗ bà Năm. Hai chén. Hai muỗng. Một nồi cháo cô đã đổ đi, rửa sạch, úp lên kệ. Cô đi xuống cầu thang, đếm bậc: 54.