Chương 5: Tờ giấy trong khoang giữa phiên chợ đông

Thuộc tiểu thuyết Chợ Nổi Vàm Cụt, Nơi Nước Ngọt Là Tiền

Tác giả: · Thể loại: Mạt Thế · Đăng ngày · 2272 từ · khoảng 11 phút đọc

Ngày thứ chín mươi.

Mặt trời chưa lên khỏi rặng bần khô, Vàm Cụt đã nghẹt cứng ghe xuồng. Đây là phiên chợ lớn nhất từ hồi nước đứng. Hơn ba trăm chiếc ghe lớn nhỏ cặp mạn vào nhau thành từng dãy dài, choán hết mặt rạch xoáy. Tiếng động cơ máy nổ xình xịch hòa vào tiếng sóng vỗ bôm bốp dưới lườn ghe. Trên đầu mỗi chiếc, cây bẹo tre vươn cao, treo lủng lẳng đủ thứ: ghe bán khoai thì treo củ khoai, ghe bán muối thì treo túi muối vải thô. Nhưng nhiều nhất vẫn là can nhựa. Hàng ngàn cái can nhựa xanh đỏ, loại hai mươi lít, treo thành chùm như trái cây lạ lùng giữa mùa hạn mặn.

Sáu Đợi đứng ở mũi ghe, đôi bàn chân bè ra bám chặt sàn ván. Hắn không cắm bẹo. Ghe hắn không bán gì ngoài một chiếc nồi nhôm đặt ngay nắp khoang. Lớp muối mặn đóng trắng mờ trên thành nồi, chỗ tay quai bị móp một bên.

Phiên chợ này không giống buổi chợ thưa thớt ở Chương 1. Dòng rạch rộng năm mươi mét giờ chỉ còn một lạch nhỏ ở giữa cho xuồng len lỏi. Ghe bầu từ miệt trên xuống đổ hàng, ghe ngo của người Khơ-me chở gạo lúa, ghe lườn chở nước ngọt từ các túi nước ngầm xa xôi. Một chiếc ghe tam bản cặp sát mạn ghe Sáu Đợi, trên cây bẹo treo lủng lẳng ba chiếc dép nhựa cũ và một cái rổ rách mép. Người đàn bà trên ghe cất tiếng rao khản đặc: "Bánh cam đây, bánh cam đường tán, một ca nước đổi hai chiếc bánh đây!". Tiếng rao bị át đi bởi tiếng mặc cả bên cạnh. Một người đàn ông đứng trên ghe chở dừa đang đôi co với tay buôn gạo. "Năm chục trái dừa xiêm này chỉ đổi được mười ký gạo thôi sao? Gạo nhà ông là gạo lúa trời chắc?". Tay buôn gạo nhổ toẹt bãi nước trầu, lắc đầu: "Mười ký là tôi nể tình đồng môn. Nước mặn vầy, dừa của ông có nước bên trong cũng sắp thành nước biển rồi, gạo tôi mới là vàng". Cuộc ngã giá kéo dài qua ba lượt thêm bớt, cuối cùng tay buôn dừa đành ngậm ngùi vác ba bao gạo nhỏ sang khoang, đổi lại là hai trăm quả dừa khô chất đống cao quá đầu người. Tiếng va chạm của vỏ dừa khô khốc, tiếng gậy chèo khua nước, tiếng trẻ con khóc thét vì khát tạo nên một thứ âm thanh hỗn loạn, đặc quánh hơi muối.

"Cái nồi nhôm khắc tên Tám Cụt đó hả?"

Bà Hai Lành chèo chiếc xuồng ba lá lách qua khe hở giữa hai mạn ghe lớn, dừng lại sát mép ghe Sáu Đợi. Bà nhổ một bãi nước trầu vào cái lon sữa bò, mắt nheo lại nhìn vật phẩm duy nhất trên sàn.

"Ừ," Sáu Đợi đáp cộc lốc.

"Nó đi tìm khắp vùng ba bữa nay. Thằng Tám Cụt nói cái nồi đó là đồ kỷ niệm của con vợ nó để lại trước khi theo ghe nguồn. Sao nó nằm đây?"

Sáu Đợi không nhìn bà Hai. Hắn nhìn ra dòng nước đục ngầu vị mặn. "Nằm đâu không quan trọng. Giờ nó là đồ đổi."

Chợ nổi không có tiếng loa, không có ban quản lý. Người ta rao hàng bằng cổ họng và trả giá bằng tính toán sinh tồn. Một người đàn ông trung niên chuyên buôn đồ nhôm nhựa cũ áp ghe vào. Ông ta nhấc cái nồi lên, lật đáy xem vết khắc tên. Chữ "Tám Cụt" hiện rõ dưới lớp phèn mỏng. Ông dùng ngón tay cái sần sùi miết mạnh vào nét chữ, lật ngược lật xuôi kiểm tra độ dày của đáy nhôm.

"Năm lít. Nước lọc Cầu Ván hẳn hoi."

"Mười lăm lít, thêm hai ký gạo trắng," Sáu Đợi ra giá, giọng phẳng lì.

"Mắc quá xá. Cái nồi móp một bên rồi chú Sáu."

"Tên Tám Cụt khắc trên đó đáng giá mười lít. Ông mang trả cho nó, nó trả ông hai chục. Tôi không rảnh đi tìm nó, tôi lấy mười lăm thôi."

Người buôn đồ cũ im lặng hồi lâu. Ông lấy vạt áo lau sạch chỗ khắc tên, rồi lại soi dưới ánh nắng sớm. Một người đàn ông chèo xuồng đi ngang qua, thấy cái nồi liền giảm tốc độ, nói vói vào: "Kìa, đồ của thằng Tám! Nó vừa mới bảo ai thấy cái nồi có tên nó thì chỉ điểm, nó hậu tạ một khạp nước mưa đấy". Nghe vậy, tay buôn đồ cũ liền đổi ý. Gã gật đầu dứt khoát. Hai can nhựa nước ngọt loại mười lít nhưng chỉ đầy ba phần tư và một túi gạo được chuyền sang ghe Sáu Đợi. Cuộc mua bán diễn ra công khai dưới hàng chục cặp mắt của thương hồ xung quanh. Sáu Đợi nhận nước, mắt chợt quét qua phía xa.

Thằng Chín Ròm đứng trên một chiếc xuồng chở nước thuê cho Mười Chấn. Nó cao lêu nghêu, đang mải mê nói chuyện với mấy đứa nhỏ chèo xuồng rao bánh cam. Sáu Đợi nghe loáng thoáng tiếng của nó giữa tiếng ồn ào của chợ: "... cái khoang đó sâu lắm, tôi thấy nó mở ra, tối thui hà... chú Sáu giấu đồ trong đó chớ gì..."

Sáu Đợi quay đi. Hắn biết thằng Chín không có ý xấu, nó chỉ là cái mồm không giữ được hơi. Nhưng ở Vàm Cụt này, một lời đồn còn chảy nhanh hơn nước ròng.

Chợ bỗng chùng xuống một nhịp. Không ai hô hoán, nhưng những tiếng rao thưa dần. Một chiếc ghe sơn xanh còn khá mới, gắn máy nổ loại lớn, từ từ rẽ nước đi vào giữa lòng chợ. Trên mui ghe, Mười Chấn ngồi khoanh tay, áo sơ mi cũ cài đủ cúc, đôi mắt chậm rãi quan sát từng sạp hàng. Ông ấy không đi thu tiền, cũng không mang vũ khí. Ông ấy chỉ đi coi hàng. Người ta dạt ghe ra nhường lối cho ông ấy như nhường cho một con cá lớn.

Mười Chấn hạ lệnh tắt máy. Chiếc ghe xanh lướt theo đà thêm một đoạn dài. Những người đang rao bán vải vóc, đồ gia dụng lập tức im bặt. Một bà cụ đang cầm xấp vé số định mời khách liền quay mặt đi hướng khác, lúi húi dọn chỗ khoai lang vào góc mui. Hai chiếc ghe bầu đang cặp mạn trao đổi dầu máy vội vã tháo dây, chèo tách ra hai phía, chừa lại một khoảng trống rộng mênh mông ở giữa rạch. Những chiếc xuồng nhỏ bé hơn thì lủi nhanh vào các bụi bần ven bờ. Không khí phiên chợ đang náo nhiệt bỗng trở nên ngột ngạt. Mười Chấn đứng thẳng người lên, quét ánh mắt qua dãy ghe bẹo, dừng lại lâu hơn ở những chiếc ghe có can nhựa. Một người đàn ông trẻ tuổi định cất tiếng chào nhưng nhìn thấy cái bóng cao lớn của Mười Chấn bao trùm lấy mạn ghe mình liền cúi gầm mặt, giả vờ kiểm tra lại nút thắt của dây neo.

Mười Chấn cho ghe dừng lại ngay sát mạn ghe Sáu Đợi. Ông ấy nhìn hai can nước và túi gạo vừa đổi được, rồi nhìn sang Sáu Đợi.

"Chú Sáu buôn bán được hén."

"Nhờ trời," Sáu Đợi đáp.

Mười Chấn đứng lên, bước sang ghe Sáu Đợi. Đôi tay có vết bỏng cũ vịn lấy mạn gỗ. Ông ấy nói đủ cho hai người nghe: "Tới hạn rồi chú Sáu. Hai trăm lít mỗi ngày cho cù lao Bảy Mẫu. Tôi tính giá cũ là hai mươi sáu lít quy đổi, nhưng hôm nay mặn lên tới ngọn rạch, tôi phải chạy máy lọc gấp đôi. Giá mới là ba mươi hai lít."

Sáu Đợi siết chặt chiếc khăn rằn trên vai. "Cù lao không có ngần ấy đồ để đổi."

"Bởi vậy tôi mới tìm chú. Chú giữ cái chợ này, chú có nguồn hàng lạ. Chú gật đầu làm van cho tôi, nước chảy về cù lao không thiếu một giọt."

"Tôi làm thương hồ, không làm tay sai cho giàn nước."

Mười Chấn cười, nụ cười không chạm tới mắt. "Vậy chú lấy gì đổi cho con Thắm uống? Mặn nó ăn vô rễ cây, rồi nó ăn vô người. Đợi tới lúc nó héo thì chú hối không kịp."

Sáu Đợi vào trong mui ghe. Khi quay ra, tay hắn cầm một bọc vải nhung đen bám bụi mặn. Hắn mở bọc vải. Một chiếc đồng hồ quả lắc bằng đồng, mặt kính đã rạn một đường nhỏ nhưng những bánh răng bên trong vẫn lấp lánh ánh kim khí. Đây là vật gia bảo duy nhất ba đời nhà hắn còn giữ được qua ba lần mất ghe.

"Cái này đổi được bao nhiêu?"

Mười Chấn nhướng mày. Ông ấy cầm lấy chiếc đồng hồ, lắng nghe tiếng tích tắc yếu ớt. "Đồ cổ. Thứ này mang lên mạn trên đổi được cả ngàn lít. Nhưng ở đây, tôi chỉ đổi cho chú hai nghìn lít, chia đều mười ngày cho cù lao Bảy Mẫu."

"Giao nước trước," Sáu Đợi nói.

Mười Chấn gật đầu. Ông ấy ra hiệu cho thằng Chín Ròm. Một lát sau, mười cái can nhựa loại lớn bắt đầu được xếp lên xuồng để chở về phía cù lao Bảy Mẫu. Chín Ròm và hai người làm công của Mười Chấn khuân tổng cộng năm can nhựa loại bốn mươi lít đặt lên chiếc xuồng ba lá của ông già Tư. Sáu Đợi đứng ở mạn ghe, trực tiếp đón từng can nước nặng trịch từ tay Chín Ròm rồi chuyền xuống cho ông Tư. Hai người làm công đứng khoanh tay trên chiếc ghe xanh giám sát buổi giao nhận. Hắn làm việc lặng lẽ, bắp tay nổi rõ những đường gân xanh dưới lớp da sạm nắng. Khi can nước cuối cùng được đặt vững chãi trên lòng xuồng, Sáu Đợi dùng dây chuối khô buộc chặt các quai can lại với nhau để tránh xê dịch lúc vượt sóng. Ông Tư nhìn Sáu Đợi, gật đầu thay lời cảm ơn rồi chèo chiếc xuồng chở hai trăm lít nước quý giá về phía cù lao.

Sáu Đợi đứng nhìn bọc vải nhung nằm gọn trong túi áo của Mười Chấn. Hắn vừa bán đi sợi dây cuối cùng nối hắn với tổ tiên để đổi lấy mười ngày nước cho con gái.

Đêm đó, chợ tan. Vàm Cụt chỉ còn lại tiếng nước sục dưới đáy ghe. Sáu Đợi dùng mười lít nước ngọt vừa đổi được lúc sáng để đổi lấy lại cái nồi nhôm. Hắn tìm đến chiếc ghe của người buôn đồ cũ khi gã đang chuẩn bị thắp đèn bão. Cuộc đổi chác diễn ra nhanh chóng, gã buôn đồ cũ nhận hai ca nước đầy rồi đưa chiếc nồi trả lại mà không nói nửa lời.

Đêm ấy, Sáu Đợi ngồi trên sàn ghe chờ đợi. Hắn thắp một nén nhang thơm, khói lảng bảng trong mui ghe tối om. Hắn lấy một miếng giẻ rách, thấm chút nước mặn rồi bắt đầu lau chùi những vết rỉ sét trên thành nồi nhôm. Hắn lau rất kỹ, đặc biệt là xung quanh cái tên Tám Cụt được khắc sâu vào đáy. Hắn để chiếc nồi ngay cạnh nắp khoang gỗ, chỗ bóng tối dày đặc nhất. Gió sông thổi vào lồng lộng, mang theo mùi của bùn nồng và muối đắng. Hắn thức trắng, mắt đăm đăm nhìn về phía dải lục bình đang trôi lờ lững ngoài kia, tai lắng nghe từng tiếng cá quẫy đuôi dưới lườn.

Hắn đặt cái nồi nhôm vào khoang. Nắp gỗ ken chai đóng lại, tiếng chốt chạm vào nhau nghe khô khốc. Sáu Đợi không ngủ. Hắn ngồi trên sàn ghe, cảm nhận độ nghiêng của thân gỗ. Con nước lớn tràn về, mang theo vị mặn chát của biển, thấm qua từng thớ ván cũ.

Sáng sớm, sương mù dày đặc bao phủ mặt rạch. Sáu Đợi mở nắp khoang.

Cái nồi nhôm đã biến mất. Khoang ghe trống rỗng. Chỉ có một tờ giấy viết tay nằm ngay giữa sàn gỗ. Đó là một tờ giấy lấy ra từ vở học sinh, màu đã ngả sang vàng ố như màu lúa chín héo. Giấy được gấp làm tư, các nếp gấp sắc lẹm và thẳng tắp, chứng tỏ người gấp rất cẩn thận. Ở mép trái tờ giấy có một vết rách nhỏ, hình răng cưa. Nét mực xanh bị nhòe một chút ở góc do hơi ẩm buổi sớm, nhưng chữ viết bên trong thì rõ ràng, nét chữ cứng cáp, hơi nghiêng về phía bên phải, rõ ràng là nét chữ của một người có học lâu năm.

Sáu Đợi cầm tờ giấy lên. Hắn không nhìn xung quanh, không tìm kiếm đầu bên kia. Hắn đọc thầm dòng chữ duy nhất trên đó:

"Ngươi còn bao nhiêu vạch nữa?"

Hắn buông tờ giấy, bước ra mũi ghe. Hắn quỳ xuống, thọc tay xuống dòng nước lạnh ngắt để chạm vào be ghe. Ngón tay hắn lần theo những vết khắc sâu vào thớ gỗ.

Vạch thứ mười một đã mất hút dưới mặt nước.

Mười. Hắn đếm lại lần nữa. Đúng mười phân.