Chương 4: Con dao bầu của lão Ba Thợ Rèn

Thuộc tiểu thuyết Chợ Nổi Vàm Cụt, Nơi Nước Ngọt Là Tiền

Tác giả: · Thể loại: Mạt Thế · Đăng ngày · 1977 từ · khoảng 10 phút đọc

Ngày thứ tám mươi bảy, cái nắng hầm hập như dồn hết hơi mặn từ dưới lòng rạch lên mặt da. Sáu Đợi ngồi trên mui ghe, nhìn con dao bầu đặt trên đùi. Hồi chiều, lúc mặt trời còn đậu trên ngọn bần, hắn đã đổi được nó từ chỗ một ông già neo ghe bán đồ sắt rỉ ở ngã ba rạch. Ghe ổng chất đầy những thứ phế liệu gom nhặt từ các bãi tháo dỡ. Lão bày ra bốn món chính trên sạp: một chiếc mỏ neo sắt đã rỉ mất một cánh, ba cuộn dây cáp loại nhỏ quấn rối nùi, hai chiếc đèn bão cũ không còn bóng kính và một chồng thớt gỗ xà cừ nứt toác. Lão mở lời trước khi thấy Sáu Đợi lảng vảng gần mạn ghe. Lão đang bày ra mấy lưỡi hái, vài cái kìm gãy và con dao bầu này. "Đổi không Sáu? Nhíp xe tải xịn, thợ rèn lò ông Bảy trên bờ đập ra, bao chặt xương ống," lão vừa nói vừa quệt mồ hôi. Sáu Đợi cầm con dao lên xem. Lưỡi nó dài cỡ gang rưỡi tay, cán làm bằng gỗ trắc cũ lên nước đen bóng, hơi nặng tay một chút nhưng đầm. Chỗ mũi dao hơi mẻ một miếng nhỏ bằng hạt gạo, lưỡi đã mài mỏng, chỉ còn tầm bốn lần mài nữa là tới sống. Sáu Đợi nhìn lưỡi dao xám xịt, hỏi giá. Lão Ba đưa ngón tay cái chỉ vào cái can không, đòi năm lít nước ngọt. Sáu lắc đầu, đưa hai ngón tay, nói trả hai lít thôi. Lão Ba xua tay lia lịa, bảo trả thế thì lão lỗ vốn rèn. Lượt thứ ba, Sáu Đợi vờ đứng dậy định bỏ về ghe. Lão Ba mới kêu giật giọng lại, đòi đúng ba lít. Sáu Đợi dừng chân, bảo chỉ có ba lít nhưng phải kèm thêm một nắm thuốc rề mới chịu. Một người đứng xem nãy giờ trên chiếc ghe đậu kế bên cũng chen vào một câu: "Bán đại đi cha nội, nước quý hơn sắt lúc này mà." Sáu Đợi cầm con dao, bước tới cạnh mạn tàu, chặt một nhát vào khúc củi đước khô. Lưỡi dao ngập sâu, tiếng "phập" khô khốc nghe rất gọn. Lão Ba ra giá năm lít nước ngọt. Sáu Đợi lắc đầu, trả hai lít. Hai bên cò cưa qua lại ba lượt, cuối cùng chốt ở mức ba lít nước và một nắm thuốc rề. Lúc đó, mấy người bên ghe bà Bảy Thẹo cũng dòm qua, nói vói tới: "Thứ đó mà đổi ba lít nước, Sáu Đợi giàu dữ thần." Hắn chẳng đáp, chỉ lẳng lặng đổ nước từ can mình sang can lão Ba. Cuộc mua bán kết thúc bằng tiếng nước ọc ạch đổ vào bình chứa. Hắn đưa tay quệt ngang giọt nước dính trên miệng can, đưa lên đầu lưỡi. Vẫn còn ngọt, chưa bị lợ. Đó là nước từ giàn Cầu Ván. Quanh quất trong rạch Vàm Cụt, tiếng người xì xào không ngớt. Đám thương hồ cặp ghe san sát nhau, vừa vá lưới vừa đẩy đưa câu chuyện. "Nghe đâu Mười Chấn hẹn thằng Sáu lên Cầu Ván hả?" "Hẹn rồi. Chắc định nuốt cái chợ này luôn chớ gì." "Thằng Sáu mà gật đầu là anh em mình chết đứng với cái giá của lão Chấn." Một người đang tát nước bên ghe kế cạnh, ngước mắt hỏi: "Nghe đâu lão Chấn cho mày hẳn một căn nhà gạch trên đó nếu mày chịu gom nước cho lão hả Sáu?" Sáu Đợi cầm cuộn dây đồng, lướt ngón tay qua những nấc sần sùi, đáp trớ đi: "Nhà gạch đâu tới lượt tui, chắc người ta nói lộn qua nhà kho của lão rồi." Một bà bán rẫy khác cũng chêm vào: "Tui thấy mấy ghe trên ngọn bắt đầu dời đi rồi. Người ta bảo phen này Sáu Đợi về phe Cầu Ván, nước sẽ lên giá gấp đôi." Câu chuyện cứ thế lan đi khắp khúc rạch. Hai người chèo xuồng đi ngang qua mạn ghe Sáu, nói vọng sang nhau. Một ông bảo lão Chấn đã sắm sẵn cho Sáu Đợi cái ca nô máy để đi tuần rạch. Người kia lại cãi, bảo không phải ca nô mà là một phần hùn trong giàn lọc trên bờ. Cả hai đều nói sai sự thật và thêu dệt thêm về việc Sáu Đợi sẽ bỏ nghề ghe để lên bờ làm quản lý. Một gã thanh niên chống sào đứng lại hỏi thẳng: "Anh Sáu tính bỏ tụi tui thiệt hả?". Sáu Đợi chỉ lắc đầu rồi bảo lo mà lo lặn tìm ốc đi. Khúc rạch này đang nháo nhào. Gia đình bà Năm bán hủ tiếu đang tính dời đi kinh khác vì sợ giá nước tăng. Mấy tay chài lưới trẻ tuổi thì quyết bám lại, chờ xem Sáu Đợi sẽ làm gì với cái hẹn ngày mai. Sáu Đợi nghe hết, nhưng hắn im lặng. Khúc rạch này đang nháo nhào. Người thì tính bỏ đi kiếm kinh khác, người thì cố nán lại xem Sáu Đợi làm gì trong cái hẹn ngày mai. Hắn cúi xuống, nhấc tấm ván sàn lên để cất nắm khô cá mối. Tấm ván gỗ ken chai nặng trịch, khi xê dịch lộ ra cái khoang tối om bên dưới. Đúng lúc đó, một chiếc ghe nhỏ lao tới, đâm sầm vào mạn ghe hắn làm cả thân tàu chao đảo. Thằng Chín Ròm đứng trên mũi ghe chèo thuê, tay cầm chiếc sào tre, mặt lấm lét. Nó tới vì một việc rất thường: xin ít nước uống cho bà già đang sốt trên bờ. Nó cập mạn rất vụng, làm chiếc xuồng nhỏ va vào thân ghe kêu cái bộp. Nó phải loay hoay cột dây, rồi lúi húi tìm cái gáo múc nước. Nó kể lể về việc bà Tư ở xóm Đình đang nằm bẹp một chỗ vì trúng gió sau chuyến đi chợ sớm. "Chú Sáu, cho tui xin gáo nước. Má tui khát khô cổ rồi." Nó nói giọng khàn đặc, mắt láo liên. Sáu Đợi một tay vẫn giữ tấm ván đang hé mở, tay kia quờ tìm cái gáo dừa. Thằng Chín không đợi mời, nó bước hẳn một chân lên mạn ghe Sáu Đợi, ngồi xổm ngay cạnh nắp khoang đang hé. Nó ngồi trên mép ván sàn, để hai chân lòng thòng xuống phía dưới. Từ góc đó, nó chỉ cần cúi xuống là thấy hết bên trong. Sáu Đợi quên gài chốt, tấm ván lệch hẳn sang một bên. Một nhịp ngừng ngắn ngủi, mắt thằng Chín Ròm liếc thẳng xuống cái đáy tối om của khoang ghe. Nó nhìn chằm chằm vào khoảng tối đó, miệng hơi há ra định nói gì nhưng lại thôi. Nó đứng hình một giây, họng khẽ chuyển động như đang nuốt nước bọt. "Kìm đây. Xài xong trả lẹ," Sáu Đợi sập tấm ván lại. Tiếng "rầm" khô khốc vang lên. Thằng Chín Ròm nhận nước, không hỏi một câu nào về cái khoang. Nó đi thẳng, chèo nhanh như sợ bị bắt lại. Sáu Đợi không chắc nó có thấy cái gì bất thường không, nhưng cái liếc đó làm hắn bồn chồn. Đêm xuống, con nước rong bắt đầu tràn vào vàm. Dây buộc ghe căng ra như dây đàn, kêu răng rắc mỗi khi sóng đánh. Chiếc ghe nhích dần lên, mạn gỗ cọ vào cọc bần sột soạt. Tiếng nước dưới đáy không còn kêu "óc ách" mà chuyển sang tiếng "ùm ước" trầm đục. Muỗi bắt đầu bu kín các vách ván, sương mù từ phía cù lao tràn về dày đặc, che mờ cả ánh đèn le lói từ nhà lão Mười Chấn phía xa. Dưới chân cầu, ánh đèn dầu của ghe bà Hai Lành vẫn còn sáng một vệt đỏ đục. Sáu Đợi đứng ở sau lái, tay siết lại nút buộc dây thừng. Hắn ngồi chờ trong bóng tối, tay vẫn bận rộn vá lại mẩu lưới bén bị rách. Những sợi cước trắng đâm vào chai tay rát buốt. Hắn lôi con dao bầu mới đổi ra, dùng đá mài bùn mài lại cho thật bén. Hắn đếm lại từng can nhựa, ghi nhớ số lít nước ít ỏi còn sót lại. Hắn hút hết ba điếu thuốc lá quấn bằng lá sâu nhót. Cứ mỗi lần nghe tiếng cá quẫy hay tiếng va đập dưới lườn, hắn lại bò vào trong, mở nắp khoang ra xem. Hắn chờ ròng rã bốn tiếng đồng hồ. Tổng cộng sáu lần mở nắp, cái khoang vẫn chỉ có con dao nằm im lìm trên lớp gỗ mục. Đồng hồ trên đài radio báo đã hơn ba giờ sáng. Gần sáng, trời chuyển sang màu xám đục. Sáu Đợi choàng tỉnh bởi một tiếng "khục" trầm đục phát ra từ dưới sàn tàu. Đó không phải tiếng sóng. Đó là tiếng của cái khoang. Hắn bò lại, run run mở chốt gỗ. Trong khoang không còn con dao bầu. Thay vào đó là một cái nồi nhôm cũ. Cái nồi này to cỡ chứa được năm lít gạo, hai quai đã mất chỉ còn trơ lại hai cái mấu nhôm cong vênh. Đáy nồi móp một mảng lớn như bị va đập mạnh vào đá, toàn thân ám khói đen kịt thành lớp dày, sờ vào thấy ráp tay. Trong lòng nồi còn dính vài vết cháy đen của cơm khê chưa kịp cọ rửa. Có những vết xước sâu chạy dọc quanh thành nồi do lâu ngày bị chà rửa bằng xơ mướp khô. Ngay sát mép quai bị gãy, Sáu Đợi thấy mấy chữ khắc nông, nét chữ nguệch ngoạc nhưng rõ ràng: "Tám Cụt". Chữ khắc bằng đầu đinh hay mũi dao nhọn, trông sắc cạnh và mới. Đây chắc chắn là nét chữ của người quen, từng nét gạch đi xuống đều rất quyết đoán. Hắn đếm kỹ lại các vạch khắc bên mạn ghe. Vạch thứ mười hai đã chìm sâu dưới nước. Bây giờ chỉ còn mười một vạch. Sáu Đợi nín thở. Hắn nhấc cái nồi lên bằng cả hai tay, kiểm tra độ nặng của nó. Hắn chậm rãi đặt nó vào sâu trong góc tối của khoang ghe, phía sau cuộn dây đồng. Hắn không đậy nắp nồi, cứ để nó nằm nghiêng như thế rồi mới sập tấm ván sàn lại. Tiếng mái chèo khua nước từ xa vọng lại. Ghe bà Hai Lành đi ngang, bà đang dọn mẹt khô cá lóc để chuẩn bị họp chợ sớm. Bà nhìn thấy Sáu Đợi đang đứng thẫn thờ, bà dừng chèo, nhả một búng nước trầu đỏ lòm xuống rạch. "Sáu, cái nồi đó của lão Tám Cụt mà?" Sáu Đợi giật mình, giấu cái nồi vào sau lưng. "Bà nhìn lầm rồi." Bà Hai Lành cười khẩy, giọng bà khàn đặc vì sương đêm. "Lầm sao được. Thằng Tám đang lùng sục cái nồi đó khắp Vàm Cụt từ tối qua tới giờ. Nó bảo đó là cái nồi cơm duy nhất còn lại của nhà nó. Không có nồi, con nó lấy gì nấu cháo?" Sáu Đợi im lặng. Bà Hai không hỏi thêm, bà tiếp tục khua mái chèo, chiếc ghe nhỏ lướt đi trong màn sương mù mịt. Sáu Đợi ngồi thụp xuống sàn gỗ. Tay hắn vẫn nắm chặt quai nồi nhôm lạnh ngắt. Bên ngoài, con nước rong đã bắt đầu rút, để lại những vệt bùn đen và muối trắng bám đầy trên mạn ghe. Hắn cầm chiếc khăn rằn, lặng lẽ lau vết bùn trên đáy nồi, chỗ có cái tên khắc sâu.