Chương 10: Con Đượm so nét chữ trong ống tre

Thuộc tiểu thuyết Kiếm Gãy Sông Gianh

Tác giả: · Thể loại: Võ Hiệp · Đăng ngày · 2021 từ · khoảng 10 phút đọc

Tờ văn tự của thằng Tộ dài bằng bàn tay, ố vàng, gấp tư, mẹ nó cất trong cái ống nứa giắt trên xà nhà cùng với đôi khuyên cưới, và 12 năm qua chưa ai trong nhà đó biết nó nói gì. Chuyện đi tới đó cũng tình cờ. Đầu tiên chỉ là bà mẹ cõng được con về nhà, chúng tôi đi theo, ông câm tay trái quấn vải, tôi lẽo đẽo không dám ngẩng lên. Nhà nó ở cuối xóm đan đó, tường đất, thấp, đầy mùi tre tươi. Bà mời ngồi rồi đi tìm nước, còn ông câm thì đứng giữa nhà, không ngồi, tôi nhìn theo mắt ông. Bên vách có cái bàn thờ con với một cái bài vị gỗ thông, thô lắm, chắc thợ làng đẽo, bên trên không có chữ mà có ba vạch khắc dao, và một ít gạo trong đĩa. "Của cha nó," bà mẹ nói khi thấy ông nhìn. "Ông Hĩm nhà tôi, làm thuê trên đò. Chết đêm nước lớn năm đó, thằng Tộ mới 4 tuổi, cái chân lặc của nó là ngã từ hồi đó, tôi bận không bế nổi. Tôi nói một câu, chú đừng trách, chú làm khổ con tôi rồi cứu con tôi, tôi không biết phải cảm ơn hay chửi." Tay ông từ từ đặt xuống cái bọc, và tôi đọc được ông rồi, sau 10 ngày tôi đọc ông giỏi hơn đọc chữ. Ông thò ngón cái vào trong vải, tìm tới vết kế tiếp. Bảy cái tên đó nằm trong đầu ông, về sau ông mới viết ra cho tôi xem. Ông vốn định ghé làng Rào từ trước khi có cái tờ giấy trắng, vì nó nằm trên đường đi trả món nợ thứ ba, và trên cả khúc sông này, không biết bao nhiêu đứa tôi có thể chọn tên, tôi lại chọn đúng con trai người thứ ba. Mấy năm sau tôi hỏi ông có tin chuyện đó là tình cờ không. Ông viết: *Sông hẹp.* Ông quỳ xuống, đặt thanh kiếm xuống nền đất, lạy ba lạy trước cái bài vị không chữ, rồi nhìn tôi, và tôi nói cái đoạn của tôi, giờ nói ra nghe giọng mình nhỏ đi nhiều: "Thầy ông ấy nợ nhà o. Ông ấy tới trả." "Thầy nào?" Bà nhìn tôi, nhìn thanh kiếm, tôi thấy bà nuốt nước bọt. Rồi giống mụ Thìn, giống lão Ngẫu, trên mặt bà có cái gì đó khép lại rất nhanh, một cái cửa ai đó đóng từ phía trong. "À," bà nói. "Ông Giữ Mạn. Không, ông ấy nợ chi. Đêm đó đò đầy rồi, ông ấy đứng ở ván cầu bên bờ bắc, không cho lên thêm, ông ấy làm đúng thôi, lên nữa thì chìm cả đám. Ông Hĩm nhà tôi với mấy người nữa ở lại trên bờ, nước tới thì cuốn đi. Bảy người. Số trời. Ông ấy có nợ chi đâu." Bà nói một lèo, trơn tru, như người ta đọc bài đã thuộc. Tôi thì đứng đó và mọi thứ trong đầu tôi khớp lại, nghe cạch một tiếng. Bảy người. Bảy người bị bỏ lại trên bờ bắc đêm nước lớn vì đò đầy, người đứng ở ván cầu là ông Giữ Mạn. Lão Ngẫu cũng nói ông ấy cướp ghe của lão đêm đó, chắc lão cũng là người phải ở lại. Thế là tôi hiểu vì sao ông Bụt trong chuyện kể lại có nợ: ông cứu được 43 người, và ông đã tự tay chặn 7 người ở lại chết. 7 vết mẻ. Ông khắc lên kiếm để nhớ, hoặc học trò ông khắc. Thế là đủ, tôi thấy mình thông minh lắm, cả buổi sáng hôm đó tôi mới được một phút thấy đỡ tệ. Còn lúc đó mẹ thằng Tộ đã quay đi, cầm cái gáo nghiêng nghiêng. "Nhà chẳng có gì để đòi," bà nói. "Có mỗi khoản nợ này, mà nợ là nhà tôi nợ người ta. Cha nó chết còn thiếu nợ hội trên trùm Nhuận, hội bắt nó đi phu trả, từ năm nó 9 tuổi tới giờ, đi vác cá, tiền công hội giữ. Tôi hỏi bao giờ hết thì họ bảo còn lâu. Cũng là cái số." Ông câm ngẩng lên, chắc vì chữ nợ. Ông đưa bàn tay phải ra, ngửa, lật qua lật lại như người ta cầm một tờ giấy, bà không hiểu mà tôi hiểu. "O có giấy không?" tôi hỏi. "Giấy nợ đó, có giấy không? Ông ấy biết đọc." Bà nhìn tôi như thể tôi vừa hỏi bà có con rồng trong nhà không. Rồi bà leo lên cái ghế, với tay lên xà, lấy cái ống nứa xuống, lôi tờ giấy ra bằng hai bàn tay run, đưa cho ông. Bà nói người ta cho ông Hĩm điểm chỉ vào đó, bà giữ từ đó tới giờ vì sợ mất lại bị bắt đền, ở làng có ông đồ Khoái nhưng đọc giấy của hội thì không ai dám nhờ. Ông ngồi xuống cạnh cửa cho có ánh sáng, mở tờ giấy ra. Tôi hay nhìn người ta đọc. Lão Bường đọc giơ tay ra xa, Hạc Y đọc như nhìn mặt quen, còn ông câm thì một ngón tay đi theo từng cột, rất chậm, môi không động. Đọc tới cuối ông quay lại đầu đọc lần nữa, tới một chỗ thì ngón tay ấn xuống mặt giấy, và ở thái dương ông nổi lên một đường gân. Từ lúc quen ông tới giờ, trận gã Chột, trận Hạc Y, trận sáng nay, tôi chưa thấy đường gân đó bao giờ. Ông lấy mẩu than vẽ lên nền đất, chỉ vạch số thôi, vì ông biết tôi đọc được số. Ông vạch 5 và chỉ vào tờ giấy. Rồi ông chỉ thằng Tộ đang nằm trên chõng, giơ 7 ngón tay. Tôi nhìn những vạch đó rất lâu, chứ số thì tôi không chịu thua ai. "O ơi," tôi nói. "Giấy này ghi làm phu 5 năm là hết nợ hả ông? Đúng không?" Ông gật. "O ơi, thằng Tộ đi phu 7 năm rồi." Bà mẹ không hiểu, tôi phải nói lại ba lần. Cháu không biết cái mặt bà lúc đó đâu. Bà không vui, không khóc, chỉ cầm cái ống nứa nhìn tờ giấy trên tay ông, như thể cái tờ giấy nằm trên xà nhà bà suốt 12 năm vừa cất tiếng nói. Bà hỏi: "Chữ viết rứa thật à?" Bà hỏi thằng Tộ: "Giấy nói rứa thật à con?" Thằng Tộ sưng cả mặt, nó có biết gì đâu. "T... tui không biết, mẹ." 2 năm thừa, không ai nói. Sáng nay ông đánh nhau suýt chết để lấy nó ra khỏi cái cột, còn ở đây ông không cần đánh ai, ông chỉ đọc. Đứng trong cái nhà tường đất đó mà bụng tôi lạnh và nóng cùng lúc, và tôi sờ tay lên cổ áo, chỗ cái ống tre. Ông rút một tờ giấy, viết nhanh, rõ, ngắn, chép lại đúng câu trong văn tự, chỉ rõ số năm. Tôi hỏi viết gì, ông chỉ về phía đình. Tôi cầm tờ giấy chạy ra đình làng, gặp gã Chột đang thu dọn xuống thuyền, tôi thở hổn hển nói chuyện, đưa giấy. Gã ngó con mắt độc nhất vào tờ giấy rồi ngó tôi. "Mi lại đọc giấy trắng cho tau à?" Tôi đáng bị thế, tôi đứng im chịu. "Đưa ông đồ Khoái đọc. Tui không đọc, không nói một chữ." Gã nhìn tôi một lúc, gấp giấy, nhét vào sổ tre. "Lệ là lệ. Thừa 2 năm thì hội phải trả công 2 năm. Tau đem cho ông đồ, rồi đem về cho lão Bường. Đứa nào không phục thì nói chuyện với tau." Gã nhấc chân xuống thuyền rồi quay lại, liếc xuống cái tay tôi. "Lần sau mi thúc cao lên một chút, vào đầu gối." Tôi về tới nhà thằng Tộ thì trời đã tối. Nó nằm trên chõng, mặt đắp lá, con mắt lành nhìn tôi bước vào. Tôi đứng cạnh chõng một lúc, gãi chân, rồi ngồi phịch xuống. "Là tau," tôi nói. "Cái tên mi là tau đọc. Thằng Hai Dao đánh mi vì tau." "T... tui biết." "Mi biết?" "Nó nói có con bé đen đen đọc." Nó nghĩ một lúc, môi nứt nên nói rất chậm. "Bến Vạn có mỗi Đượm là đen rứa mà lanh rứa." "Rứa sao mi không khai tau ra?" Nó nhìn tôi, con mắt lành chớp chớp, có vẻ chưa từng nghĩ tới chuyện đó. "Khai r... rồi nó có thả tui đâu," nó nói, rồi thở ra. "Mà năm ngoái mi l... lừa tui 5 đồng cái vụ con vịt. Mi trả tui đi." Tôi móc 5 đồng ra đặt lên ngực nó, đếm cho nó nghe từng đồng, rồi móc thêm 5 đồng nữa. Thằng Tộ giơ một ngón tay sưng vù đẩy lại 5 đồng kia. "C... có 5 đồng thôi," nó nói. "Lệ là lệ." Nó vừa nói xong thì tự cười, cười tới đau, ôm mặt kêu ối ối, và tôi cũng cười, mũi cay xè, cả hai đứa không ai nhìn ai. Bà mẹ đã nấu một nồi cháo, cả nhà có bao nhiêu gạo chắc đổ vào đó hết. Bà ngồi xuống trước mặt ông câm, cầm lấy cái tay đang quấn vải của ông, nhìn, rồi đặt xuống, nói mà không nhìn ông: "Nhà tôi không hỏi chú nợ gì. Thầy chú có nợ gì nhà tôi thì hôm nay là xong rồi, con tôi được về, thế là xong rồi, nghe không. Đừng tới nữa." Cái "đừng tới nữa" đó nghe không giống lời đuổi, nghe giống lời xin hơn, tôi không hiểu vì sao, và tôi cũng chưa rảnh để hiểu. Ông ra ngồi trước hiên, lấy viên đá đen. Xè. Xè. Xè. Tôi đếm, 4 vết, còn 8 tờ, còn đúng 2 ngày tới mồng Một, và ông hầu như không đứng vững. Có một việc tôi đã để dành từ chiều. Cái tờ gã Chột vò ném vào ngực ông ngày đầu, ông vuốt phẳng cất đi, định viết mặt sau khi cần, nó nằm riêng dưới đáy túi, không tính trong xấp. Cháu đừng nhìn tôi, tôi trả sau. Tôi mang nó ra sau bếp nhà thằng Tộ, chỗ có cái đèn đĩa của bà mẹ, đặt lên cái sàng, rồi thò tay vào cổ áo. Vốn chữ của tôi tới hôm đó là 9 chữ, và sau hôm nay tôi không muốn đoán thêm một ngày nào nữa. Hơ sáp, lách móng tay, kéo tờ giấy của tôi ra, trải nó bên cạnh tờ giấy nhàu, hai tờ sát nhau dưới ngọn đèn. Tôi chưa biết đọc nhưng tôi biết nhìn. Đứa chèo đò nhìn nước đục biết dưới đó có đá hay không, đứa nhận tiền kẽm nhìn đồng tiền biết có pha chì không, bằng cách không ai dạy nổi. Từ hôm ở nhà mụ Thìn tôi đã thấy một cái mà chưa nói với ai: cuối mỗi nét của ông, nơi bút nhấc lên, có một cái móc nhỏ như cái ngạnh đầu lưỡi câu. Chữ lão Bường không có cái đó, chữ ở cửa đình làng không có, chữ trên văn tự thằng Tộ cũng không. Đó là thói quen của cái tay. Tôi tìm chữ Sông trên tờ giấy nhàu của ông, chỗ ông viết xin qua sông. Rồi tôi nhìn tờ giấy của tôi, cũ hơn, nét mực nhạt đi, chữ nhỏ hơn, tìm tới một chữ Sông ở hàng thứ ba. Tôi cúi sát tới nỗi tóc cháy một sợi, nhìn từng nét, đưa ngón tay lên mà không dám chạm vào. Ngoài hiên, tiếng xè đều đều. Tờ giấy đó đi theo tôi từ hồi tôi chưa biết bò. Lão Bường nói là thư của cha tôi, người đi buôn ở bờ bắc. Cuối mỗi nét của nó, nơi bút nhấc lên, có một cái móc nhỏ như cái ngạnh đầu lưỡi câu.