Chương 5: Bà Sim
Thuộc tiểu thuyết Kiếm Gãy Sông Gianh
Tác giả: Lâm Giang Hồ · Thể loại: Võ Hiệp · Đăng ngày · 1767 từ · khoảng 9 phút đọc
Mồng Ba tháng Chín, nước sông Gianh trở màu đỏ quạch. Bèo lục bình gãy nát, cuộn theo dòng, đổ về xuôi. Hai hôm trước, chuyến đò ngang cuối cùng đã xích vào gốc đa bên bến Vạn. Mặt trời khi ấy còn chưa lặn. Cẩn đứng trên bờ nam nhìn con nước dâng lút cả những cọc gỗ cầu tàu. Hắn chỉ còn thấy những bóng sóng lừng lững xô vào vách đá. Đò ngừng nhưng nợ không dừng. Hắn phải sang bờ bắc. Nước lớn bịt hết lối, và bịt tới mùa xuân sang năm.
Chỉ còn một cách. Đi vòng lên thượng nguồn, chỗ dòng chảy thắt lại giữa hai vách đá. Ở đó có một gã chở lậu. Củi khô và muối trắng, bằng một chiếc ghe nan mỏng. Gã không lấy tiền kẽm của khách qua đường. Gã nhìn cái bọc vải trên lưng Cẩn. Rồi gã nhìn xuống bắp chân hắn. Gã đòi trả bằng công sức và một vết mẻ trên lưỡi kiếm của kẻ nhất lưu.
Cẩn phải mất ba canh giờ cùng gã hì hục trong màn mưa mờ mịt. Hắn lội xuống. Nước ngang ngực, lạnh. Hắn giữ mạn ghe khỏi va vào đá ngầm. Vai hắn ghì vào lườn gỗ mục sũng nước. Hắn đẩy. Khối gỗ trượt qua bãi bùn lún, ra tới giữa dòng. Sang tới bờ bắc, gã chở lậu lấy ra một mẩu đá mài. Gã đâm mạnh một nhát vào cạnh lưỡi kiếm của Cẩn. Một tiếng keng đục ngầu vang lên giữa tiếng sóng. Vết mẻ thứ bảy xuất hiện sát gần mũi gãy của thanh kiếm. Trên lưỡi có bảy vết mẻ. Sáu vết là nợ của sư phụ.
Bờ bắc đón hắn bằng một cơn mưa sình lầy và mùi nồng của đất sét nung. So với bến Vạn ồn ã phía nam thì bến này vắng lặng hơn nhiều. Chỉ có vài ba căn nhà vách đất nép mình dưới chân núi. Cẩn đi theo con đường mòn. Đá hộc lởm chởm dưới chân. Phía trước có một cột khói xám. Cột khói len lỏi giữa những tán cây gạo cổ thụ đang trút lá.
Lò rèn của bà Sim nằm biệt lập bên một triền đá xám lạnh lẽo. Cẩn dừng lại trước hiên lò rèn. Hơi nóng phả ra từ cửa khiến không khí xung quanh rung rinh như nước tôi thép. Bên trong có tiếng bễ thụt hơi nghe phì phò đều đặn. Mùi than đốt dở. Trộn vào đó là mùi thép nóng tôi trong dầu. Thứ mùi ấy bám chặt vào da thịt và y phục của kẻ hành khất.
Giữa gian lò có một người đàn bà ngoài sáu mươi tuổi đang đứng bên đe sắt. Bà búi tóc gọn bằng một dải vải chàm đã bạc màu. Dáng người bà đậm chắc như một khúc gỗ nghiến lâu năm. Cánh tay bà trần trụi để lộ những vết bỏng cũ chồng chéo lên nhau. Có vết trắng hếu và có vết đỏ bầm như những thớ vân gỗ mục. Căn lò rèn bày la liệt búa tay và búa tạ. Những chiếc kẹp sắt treo lủng lẳng trên vách đất đầy bụi than. Một thùng nước tôi lớn đặt cạnh chân đe đang bốc hơi nghi ngút. Bà Sim không ngẩng lên khi Cẩn bước vào hiên lò. Chiếc búa tay trong tay bà vẫn gõ nhịp nhàng xuống một mảnh sắt đỏ hồng.
Cẩn tháo bọc vải. Hắn đặt thanh kiếm lên mặt bàn gỗ cạnh cửa, chỗ đầy mùn cưa. Tiếng búa thép dừng lại. Bà Sim buông búa rồi lau tay vào tấm tạp dề da bò cáu bẩn. Bà bước lại gần nhưng không nhìn mặt Cẩn. Bà chỉ nhìn chằm chằm vào thanh kiếm gãy. Đôi mắt bà đục mờ nhưng khi chạm vào mặt thép lại sắc lẹm. Bà cầm thanh kiếm lên bằng hai lòng bàn tay để nâng ngang tầm mắt.
Bà xoay lưỡi kiếm để soi ngược ánh sáng từ lò than dọc theo sống kiếm. Bà búng nhẹ ngón tay vào thân thép để nghe tiếng ngân của nó. Tiếng ngân vang lên thanh thoát nhưng đột ngột đứt đoạn ở chỗ gãy. Bà dùng ngón cái miết chậm rãi lên mặt phẳng của mũi kiếm cụt. Bà nhìn vết gãy rồi nói giọng khê đặc như có mạt sắt trong cổ họng.
"Kiếm này gãy vì va vào vật liệu cứng hơn nó gấp ba lần. Người đánh dùng sức từ phía trên giáng xuống khiến thép không chịu nổi độ rung nên tự lìa. Nó gãy vì lực ép quá mạnh chứ không phải do bị chém đứt."
Bà Sim nhìn xuống dọc lưỡi kiếm để đếm từng vết mẻ một cách cẩn thận.
"Bảy vết mẻ. Có sáu vết cũ và một vết mới tinh còn chưa kịp sẫm màu. Anh đi tìm tôi để mài lại mũi hay để trả nợ?"
Cẩn không đáp lời bà lão. Hắn ngồi xuống chiếc ghế đẩu duy nhất trong lò rồi lấy ra xấp giấy bản. Hắn thấm một chút nước từ thùng tôi kiếm để mài mực vào nắp nghiên đá. Ngón tay hắn đưa bút nhanh tạo nên những nét chữ cứng cỏi nhưng gầy guộc. Hắn chìa tờ giấy ra cho bà lão xem. Đây là tờ giấy thứ mười tám trong xấp giấy của hắn.
Bà Sim cầm tờ giấy rồi đưa lại gần ánh lửa lò để đọc cho rõ. Bà im lặng hồi lâu rồi đặt tờ giấy xuống bên cạnh đe sắt. Bà lại nâng thanh kiếm lên với ánh mắt xa xăm.
"Thanh này rèn vào năm có trận lụt lớn mười lăm năm trước. Thép lấy từ quặng mỏ chì phía tây nên có màu xanh sẫm. Tôi rèn ròng rã ba tháng mới xong thanh kiếm này. Anh muốn biết ai đặt nó?"
Bà nhìn thẳng vào mắt Cẩn khiến nếp nhăn trên mặt bà co lại.
"Tôi rèn nó thành một cặp song kiếm. Hai thanh giống hệt nhau từ cùng một thỏi thép và cùng một lượt lửa. Người đặt trả tiền cho cả hai thanh một lúc rồi lấy đi ngay. Nhưng tôi biết chắc chắn sau đó chúng thuộc về hai người khác nhau."
Cẩn cảm thấy lồng ngực mình thắt lại vì kinh ngạc. Sư phụ hắn chỉ để lại thanh kiếm gãy này cho hắn. Suốt mười năm qua hắn đi tìm kẻ sở hữu thanh kiếm còn lại. Hắn muốn tìm kẻ đã dùng mũi kiếm sắc lẹm để kết liễu đời ông. Hắn cứ ngỡ kẻ đặt rèn chính là kẻ giết người năm đó.
"Nghĩa là người đặt rèn chưa chắc đã là người dùng kiếm?"
Bà Sim gật đầu rồi nhếch môi lên một nụ cười không rõ buồn vui.
"Kẻ đặt rèn thanh này là một người biết quý trọng thép nhưng gã không biết dùng kiếm. Gã trả cho tôi ba mươi quan tiền rồi mang cặp kiếm đi. Một tháng sau tôi nghe tin một thanh xuất hiện ở bờ nam. Còn một thanh khác lại mất tích ở bờ bắc. Anh đi bốn chương đường chỉ để hỏi một cái tên. Nhưng cái tên đó có khi chẳng giúp gì được cho mối thù của anh."
Bà Sim dừng lại rồi nhìn ra phía cửa lò đầy bóng tối. Tiếng mưa bắt đầu rơi lộp bộp trên mái lá mục.
"Anh muốn trả nợ cho sư phụ thì tự tay mài vết mẻ đi. Mài xong tôi sẽ nói cho anh biết người đặt rèn là ai. Tôi nhắc trước là sự thật đôi khi sắc hơn cả lưỡi kiếm này."
Bà chỉ tay về phía phiến đá mài đen bóng đặt cạnh thùng nước tôi. Cẩn đứng dậy cầm lấy thanh kiếm gãy của mình. Hắn ngồi xuống bên phiến đá để bắt đầu mài. Tiếng thép xát vào đá vang lên sột soạt đều đặn trong không gian đặc quánh. Hắn mài phẳng vết mẻ mới nhất mà hắn đã trả cho gã chở lậu để sang sông. Sau đó hắn mài thêm một vết mẻ nông nhất ở sát chuôi kiếm. Đây là vết mẻ tượng trưng cho lời hứa mang lễ vật về bến Vạn. Hắn đã thực hiện xong khi giao số tiền đòi nợ ở bến dưới.
Bà Sim đứng bên cạnh quan sát từng động tác mài kiếm của hắn. Bà nhận xét rằng tay hắn mài thép mà như đang vuốt ve một người tình. Lưỡi kiếm sau một canh giờ chỉ còn lại năm vết mẻ. Nếu tính cả những món nợ sư phụ thì hiện tại chỉ còn bốn vết mẻ. Cẩn dừng tay rồi đứng lại ở cửa lò lâu hơn cần thiết. Hắn không nói gì mà chỉ nhìn vào đống than đang tàn dần.
Hắn đếm lại xấp giấy bản trong bọc vải của mình. Còn đúng ba tờ giấy. Tiếng nói của hắn đang cạn dần như mùa nước lớn đang dâng cao ngoài kia. Bà Sim định mở miệng nói về cái tên người đặt kiếm nhưng rồi bà khựng lại. Đôi tai của một người thợ rèn lâu năm nhạy cảm với những tiếng động lạ.
Ngoài cửa lò có tiếng mưa bị xé rách bởi một tiếng chân nhẹ. Một bóng người đứng chắn ngay lối vào khiến bóng tối đổ dài trên mặt đất. Áo trắng bạc màu và dáng người thanh mảnh nhưng vững chãi. Hạc Y đứng đó với thanh kiếm dài bên hông vẫn im lìm trong bao. Y nhìn vào trong lò rồi dừng lại ở Cẩn và thanh kiếm gãy.
"Tại hạ lại chậm một bước rồi."
Hạc Y nói giọng bình thản như gió thoảng qua mặt sông Gianh. Bà Sim nheo mắt nhìn gã áo trắng rồi nhìn sang Cẩn. Bà không nói gì nữa mà chỉ lẳng lặng cầm búa lên. Bà giáng một nhát thật mạnh xuống miếng sắt đang nguội dần trên đe. Tiếng thép va vào nhau chát chúa để ngăn cách mọi câu hỏi định thốt ra. Cẩn nắm chặt chuôi kiếm gãy trong tay. Hắn nhận ra mình còn lại ba tờ giấy và bốn vết mẻ trên lưỡi thép. Sự thật về kẻ đặt rèn cặp kiếm sinh đôi vẫn còn lửng lơ trong hơi nóng.
Cẩn lẳng lặng gói thanh kiếm vào tấm vải cũ. Hắn đếm lại lần cuối những tờ giấy bản còn sót lại trong bọc. Còn ba tờ.