Chương 5: Con Đượm rời bến với 47 đồng

Thuộc tiểu thuyết Kiếm Gãy Sông Gianh

Tác giả: · Thể loại: Võ Hiệp · Đăng ngày · 2071 từ · khoảng 10 phút đọc

Một cái xương sườn gãy ở bến Vạn năm đó giá 10 đồng nếu bà Lụi bó, và 2 đồng nữa nếu muốn bà ấy bó mà không chửi. Ông câm trả 10. Bà Lụi vừa giã lá đắp lên, vừa quấn vải quanh ngực ông, vừa chửi từ đời cha ông chửi xuống, còn ông thì nằm trên chiếu sau kho, mặt quay vào vách, ngón tay gõ trên mép chiếu theo cái nhịp hôm trước. Gã Chột có ghé qua một lần, đứng ở cửa, con mắt còn lại ngó đi chỗ khác, ném vào một gói thuốc rượu rồi nói một câu tôi nghe mãi mới hiểu. "Mi đánh tau được mà để thằng khác đánh như đánh chó, là tau mất mặt. Uống đi. Lệ là lệ, chớ cái này không ghi sổ." Còn tôi thì phải đi báo cáo. Lão Bường nghe tôi kể ngay tối hôm đó ở cái chõng tre, đèn đĩa khêu bấc nhỏ cho đỡ tốn dầu. Tôi kể gần hết, kể ông câm quỳ, kể cái bát, kể mụ không có tiền, kể câu mụ nhắn "tau nợ lão 3 quan, lão nợ tau cái khác, lão muốn tính thì tính cả hai", và tôi nhìn xem cái ngón cái của lão có dừng không. Nó không dừng, chỉ gảy chậm đi một ít, chậm như người ta lội qua chỗ nước sâu mà không muốn cho ai biết. "Hắn viết cho mụ cái gì?" "Viết cái tên ông Thìn, viết thêm tên mụ. Mụ đem đặt sau cái bát." "Hắn lấy mụ bao nhiêu?" "Không lấy. Hắn còn quỳ lạy mụ ba lạy, ông mà thấy." Tôi không kể chuyện mài kiếm, cũng không kể chữ Nợ. Lão trả tôi 2 đồng mỗi ngày để tôi nhớ, chứ không ai trả đồng nào để tôi nói ra hết những gì tôi nhớ, và đó là nguyên tắc buôn bán đầu tiên tôi tự nghĩ ra được. Lão im rất lâu, lâu tới mức tàn thuốc rơi xuống ống quần mà lão không phủi. Rồi lão gọi tôi mở tráp lấy sổ. Sổ lệ dày bằng cục gạch, lão giở tới một trang đã ngả màu, cầm bút, tìm cái dòng lão muốn tìm mà không cần dò, và gạch một nét. Chữ lão xấu, nét gạch cũng xấu, run run. "3 quan của mụ Thìn, ta xoá." Tôi tưởng tôi nghe nhầm. 1.800 đồng kẽm, trong khi người ta chết rồi lão còn đi đòi con cái. "Xoá rồi thì ông câm được qua đò?" "Không." Lão thổi cho khô nét gạch. "Giao kèo là đòi được tiền về. Hắn không mang tiền về thì phép tính vẫn thế, ta không làm hai lời." Lão gấp sổ, giọng đều đều. "Mai mi nói với hắn, còn muốn sang thì lên bến Hôm, ngược dòng 5 ngày chèo, tới chỗ sông thắt lại, đò ở đó chạy tới hết tháng. Dọc đường có Cồn Chày, có làng Rào, có những người hắn sẽ muốn gặp." Tôi nhìn lão, lão đã lấy lại điếu thuốc. Ông câm chưa đưa cho lão tờ giấy nào có mấy cái tên đó, thế thì sao lão biết? Tôi hồi đó nghĩ là lão nói bâng quơ, mà lão Bường chưa bao giờ nói bâng quơ một câu nào trong đời. Đêm đó tôi không về chỗ ngủ ngay. Tôi vào bếp, ngồi xổm trước đống than còn đỏ, và lôi cái ống tre ra khỏi cổ áo. 6 năm tôi đeo nó, không ai cấm tôi tự mở, nhưng mở ra cũng chỉ thấy gà bới, và có cái gì đó trong tôi cứ để dành, như đứa trẻ giữ một cái bánh, sợ ăn rồi là hết. Nhưng giờ tôi đã biết 2 chữ. Tôi xem lão làm nhiều lần nên tôi biết cách. Hơ đầu ống trên than, không gần quá, xoay đều cho sáp mềm ra, lấy móng tay lách, giữ lấy miếng sáp nguyên vẹn để lúc sau bịt lại. Tờ giấy cuộn tròn, mỏng tang, ố vàng, tôi trải nó lên đầu gối, cúi sát xuống cho đỏ than rọi vào. Giấy kín chữ, chữ nhỏ, đều, xếp thành hàng từ trên xuống, 7 hàng hay 8 hàng, tôi không đếm được vì tay đang run. Tôi bắt đầu đi từ cột bên phải như đã thấy ông câm viết, tìm từng hình một. Tôi tìm chữ tên tôi, cái chữ có người ngồi cạnh đống lửa, nhìn đi nhìn lại không có chỗ nào. Thế thì lão đọc "con bé này tên Đượm" là lão đọc ở đâu ra? Tôi tìm tiếp mà không biết mình tìm gì nữa. Rồi mắt tôi dừng lại ở hàng thứ hai, và cả cái lưng tôi lạnh đi dù đang ngồi trước đống than. Cái chữ đầu tiên tôi học được trên thành đò nằm ngay đó, nhỏ thôi, đen thui, và tôi thấy nó một lần nữa ở hàng thứ năm. Nợ. Năm nào lão Bường cũng đọc cho tôi nghe: cha nó đi buôn ở bờ bắc, sẽ có ngày về đón. Trong câu đó không có chữ nợ nào. Tôi cuộn tờ giấy lại, hơ sáp, bịt miệng ống, xoa cho mịn, bỏ vào cổ áo, ngồi nhìn than tàn hết. Sáng hôm sau tôi ra sau kho. Ông câm đã ngồi dậy được, đang tự buộc lại dây bọc bằng hai tay chậm chạp. Tôi nói với ông chuyện bến Hôm không thiếu một chữ, rồi tôi nói tiếp: "Tui đi với ông." Ông ngẩng lên. "Ông đừng tưởng tui thích ông. Ông ngược dòng 5 ngày thì phải có đò, mà ông gãy xương, chèo được nửa ngày là hộc máu. Ông gặp người ta thì cần cái miệng. Tui có đò nan của lão, tui biết đường, và tui có việc ở bờ bắc. Cha tui ở bên đó, tui đi tìm cha tui, lão Bường đọc giấy như rứa, ông không tin thì hỏi lão." Tôi hít hơi. "Tui lấy mỗi ngày một chữ như cũ, thêm 1 đồng tiền cơm, không có thì ghi nợ." Cháu để ý nhé, tôi không nói dối ông ấy câu nào. Lão Bường có đọc thế thật, tôi chỉ không nói là tôi đã hết tin. Ông nhìn tôi khá lâu, cái kiểu nhìn như đang đọc một tờ giấy mà chưa chắc đọc được hết. Rồi ông nhặt que tre viết xuống đất, một hình đò nhỏ với mũi tên chỉ thẳng sang bờ kia, ngẩng lên hỏi. Tôi hiểu ngay, ông hỏi sao tôi có đò mà không chở ông sang thẳng. "Ông muốn chết thì tui chở," tôi nói. "Từ tháng Tám, nước đỏ thế này, đò nan ra quá giữa dòng là bị xoáy nuốt, năm nào cũng có người thử. Với lại bờ bắc lệ cũng như bờ nam, đò lạ cặp bến là bị thu. Chỉ có chỗ sông thắt ở bến Hôm là qua được, phải đò lớn 6 tay chèo mới qua. Ông tưởng người ta trả 70 đồng để cho vui à?" Ông nhìn sông một lúc, xoá hình đò đi, rồi ngẩng lên và chìa cái tay ra. Tôi không biết người ta chìa tay để làm gì, bến tôi không ai làm thế, về sau mới biết đó là cách thầy ông dạy ông giao kèo. Tôi nhổ nước bọt vào lòng bàn tay theo kiểu dân bến, đập vào tay ông một cái thật kêu. Ông nhìn bàn tay mình một lúc rồi chùi vào ống quần, và chiều hôm đó ông viết cho tôi chữ thứ ba lên mạn đò. Tôi hỏi chữ gì, ông chỉ xuống nước. Sông. Còn lại lão Bường, và đó là phần khó, tôi nghĩ vậy. Tôi đã chuẩn bị đầy bụng những lời cãi, lời xin, lời doạ, kể cả khóc tôi cũng tập rồi, vì tôi biết người ta không dễ bỏ đi khỏi người đã nuôi mình 12 năm, và lão ít ra cũng sẽ giữ tôi vì tôi là một con công rẻ. Tôi vào nói. Lão ngồi trên chõng nghe hết một mạch, về cha tôi, về bờ bắc, về việc tôi lớn rồi. Rồi lão nói: "Tính cho đủ đã." Lão mở tráp, lấy một quyển sổ khác, mỏng, tôi chưa thấy bao giờ, đẩy cái bàn tính tre tới. Tiếng hạt tính lách cách trên chõng, lão đọc ra từng khoản, không vội, ngón tay đi xuống từng dòng. "Đi làm từ năm 7 tuổi, 6 năm, 2.130 ngày công, mỗi ngày 1 đồng, là 2.130. Trừ cơm 2 bữa, trừ áo 3 cái, chăn 1 cái, thuốc lúc mi lên sốt năm 9 tuổi 40 đồng, mỗi năm đọc giấy 1 đồng, con đò mi đâm vào cọc năm ngoái sửa hết 60. Công 3 ngày nay 6 đồng, cộng vào. Còn lại..." Hạt tính dừng. "47 đồng." Lão đếm ra 47 đồng kẽm, xếp thành chồng năm, đẩy qua mặt chõng, không thiếu một đồng nào. Tôi đứng đó. Tôi tập khóc cả đêm mà giờ khóc thật không nổi, trong bụng có một thứ gì đó rất nóng và rất lạnh cùng một lúc. "Ông không giữ tui à?" Lão ngẩng lên. Mắt lão đục dần từ năm đó, nhìn cái gì cũng phải một lúc mới thấy. "Mi có đánh được ai mà ta giữ," lão nói. "Đò nan ta cho mượn, 1 đồng một ngày, ghi sổ, về thì trả. Đi thì đi." Tôi vơ 47 đồng vào vạt áo, quay đi, được ba bước thì nghe tiếng lão ho. Lão gọi "Đượm", không to, lão chưa bao giờ gọi to. Tôi quay lại, lão đang thò tay xuống gầm chõng lôi ra một cái túi vải nhỏ buộc túm, ném qua, tôi bắt được, nặng tay, có tiếng hạt lạo xạo. Gạo, chừng một lon. "Tới Vũng Chìm thì thả." "Thả cho ai?" Lão lại cầm điếu thuốc lên, không nhìn tôi nữa, quay sang gọi thằng Côn hỏi chuyện đám thuyền muối. Nhưng cái ngón cái của lão, tôi nhớ, đã không còn gảy. Tôi không chào lão, cháu chép đoạn đó đi. Tôi cầm 47 đồng và một túi gạo, tôi nghĩ 6 năm của mình đáng 47 đồng, và tôi đi không ngoảnh lại. Cả đời tôi có nhiều chuyện phải xấu hổ, cái đó không ở dưới cùng đâu, nhưng cũng không ở xa đáy. Ông Sáu Mái thì ra tận bến, đứng chống nạnh nhìn tôi xếp đồ, cái bụng phưỡn ra. "Mi đi thiệt à?" "Thiệt." "Đò nan của mi cái cọc sắp mòn, tau đã bảo thay từ tháng trước." Ông cúi xuống lôi trong khoang đò lớn ra một cây sào tre già, đốt ngắn, lên nước vàng sậm, cây sào ông dùng mười mấy năm, tôi xin mó vào còn bị đánh. Ông ném nó sang đò tôi, kêu đánh cạch một tiếng. "Cầm lấy, tre non của mi gặp nước đỏ là gãy. Chèo thì chèo cho đúng nhịp, đừng có cãi nhịp. Mà mi nghe tau dặn một câu, đò nào đầy tới mạn thì đừng lên, người ta trả bao nhiêu cũng đừng lên, nghe không." "Sao rứa?" Ông nhìn tôi, nhìn ra sông, rồi cáu lên. "Tau bảo xéo mà còn hỏi à. Xéo đi cho người ta buộc dây." Ông quay lưng bỏ đi, chân nặng trịch trên ván, và đó là lần duy nhất trong đời tôi thấy ông Sáu Mái cho ai cái gì, mà ông cũng phải ném. Ông câm đi qua chõng trước khi xuống đò, đặt 3 đồng tiền cháo lên mặt chiếu, cúi đầu, không viết gì. Lão Bường không nhìn đồng tiền, nhìn ông. Hai người nhìn nhau chừng ba nhịp thở, rồi ông đi. Tôi hỏi lão có nói gì không, ông lắc đầu. Sáng hai mươi bốn tháng Tám nước đã đỏ như chè để qua đêm. Ông ngồi ở mũi đò nan, thở nông, gió lùa vào cái lớp vải quấn ngực, sau lưng tôi bến Vạn nhỏ dần lại rồi khuất sau rặng tre. Còn 7 ngày tới mồng Một. Trên kiếm có 6 vết, trong túi vải dầu có 15 tờ, trong cổ áo tôi có một tờ giấy lão Bường đọc sai 6 năm liền, và dưới khoang đò, kê cạnh chân, có cái túi gạo không biết của ai.