Chương 4: Hạc Y hạ gã câm trong 6 chiêu
Thuộc tiểu thuyết Kiếm Gãy Sông Gianh
Tác giả: Lâm Giang · Thể loại: Võ Hiệp · Đăng ngày · 2062 từ · khoảng 10 phút đọc
Sáng hôm sau cả bến Dưới như đang có đám. Tôi xuống bãi từ sớm để tát nước đò thì thấy gần chục ông chài đứng xếp hàng dưới gốc bàng, cứ một người đứng lên, hắng giọng, ngửa cổ cất một câu hò đò, người giọng vỡ, người giọng tắc, ông thì quên lời giữa chừng, cả bọn cười rũ. Hát xong, một người ngồi trên khúc gỗ trôi gật đầu, đặt vào tay họ 5 đồng kẽm. Cái ông Chít mà cả bến chê giọng trâu bị chọc tiết cũng được 5 đồng, và ông ấy đang đòi hát lại. Người đặt tiền ngồi thẳng lưng, áo trắng. Trắng là nói vậy thôi, cái áo đó giặt nhiều quá nên bạc ra, ngả màu nước cơm, kiểu áo người có học, tay rộng trùm quá cổ tay. Y chừng 30 tuổi, mặt dài, mảnh khảnh, ở bên hông có một thanh kiếm dài trong vỏ da cũ, thứ mà trong vòng 3 ngày tôi được thấy tới lần thứ hai. Y nghe từng người rất kỹ, hơi nghiêng đầu, mắt nhắm, nghe xong mở mắt, trả tiền, nói một câu gì đó rất lịch sự rồi lại nhắm mắt nghe người kế tiếp. Y không vui, không chán. Tôi từng thấy ông thầy thuốc chợ Mé bắt mạch như thế. Nói tới tiền là tôi có mặt, tôi lội lên, chen vào hàng. "Tui hát." Y mở mắt nhìn xuống, tìm tôi một lúc mới thấy. "Tại hạ chỉ mua giọng đàn ông, cô nương thứ lỗi." "Tui hát giọng đàn ông được. Mà ông Tại Hạ, ở đâu mua giọng người ta rứa, mua về làm chi? Cái ông Chít 5 đồng thì tui phải 10 đồng, tui hát hay hơn." Cả đám chài cười ầm. Y không cười nhưng khoé mắt có gì đó dịu xuống. "Tại hạ không phải là tên. Đó là cách người ta tự xưng, có nghĩa là kẻ ở dưới." Y nói thong thả, mỗi câu đủ đầu đủ đuôi, nghe như đọc văn tế giữa chợ cá, và y biết thế, tôi thấy y biết. "Tại hạ họ Bùi, người bờ bắc, giang hồ quen gọi là Hạc Y, cô nương cứ gọi như vậy." "Vậy Hạc Y, 10 đồng." Tôi không để y kịp đáp, tôi ưỡn ngực, hạ giọng xuống tận rốn và rống lên câu hò khoan ông Sáu Mái dạy. Tôi có cái giọng làm chó trong xóm phải chạy. Cả đám ôm bụng, còn y thì nghe hết câu, chăm chú đúng như lúc nghe người khác, không sót một nhịp, rồi lắc đầu rất nhẹ với chính cái khúc gỗ. "Không phải," y nói, và thò tay trái vào túi, đặt vào tay tôi 5 đồng. "Cô nương hát đúng nhịp. Giọng thì còn cần tu dưỡng." "Ông tìm giọng ai?" Y nhìn tôi, chỉ một thoáng thôi, nhưng lúc đó mắt y không giống người đang chơi. "Một người tại hạ nghe một lần, đã lâu." Lúc đó ông câm từ trên nhà mụ Thìn đi xuống, vừa đi vừa quấn lại cái bọc, tay ôm hờ bên sườn. Hạc Y cũng thấy. Y thấy người cao gầy với cái vai xệ, y đứng dậy, rút 5 đồng ra, bước tới chặn đường, cúi nhẹ đầu. "Xin các hạ thứ lỗi, tại hạ có cái thói xấu này, xin các hạ hát cho một câu. Một câu thôi, 5 đồng." Bãi cát im một nhịp rồi cả bọn chài cười ồ. "Hát với chả hò! Thằng đó câm! Ông đưa 50 đồng nó cũng chỉ hát được ở trong bụng!" Hạc Y đứng yên nhìn ông câm, ông câm nhìn y, hai người cao ngang nhau. Y thu đồng tiền về, cúi đầu thấp hơn lần trước. "Đắc tội. Tại hạ vô lễ, xin các hạ bỏ qua." Y nói thật lòng, tôi nghe ra được. Rồi y bước sang một bên nhường đường, và đúng lúc đó mắt y lướt qua cái bọc. Chỗ nút dây ông câm chưa buộc xong, vải rủ xuống một đoạn, lộ ra cái đầu thép gãy. Y không nhúc nhích gì cả, nhưng cái cách y không nhúc nhích làm tôi nhớ tới ngón tay cái của lão Bường hôm trước. "Thanh kiếm đó," y nói, giọng vẫn êm. "Các hạ có từ đâu?" Ông câm nhìn y một lúc, nhặt một cành khô, cúi xuống viết lên cát ướt. Tiết kiệm giấy, tôi nghĩ, người này có học thì đọc được cát. Cả bãi xúm lại xem, lúc đó tôi hãnh diện như chính tôi viết. Hạc Y đọc, và đó là lần đầu tôi thấy một người đọc chữ mà không phải lão Bường. Y không giơ gì ra xa, môi không động, mắt lướt qua một lần là xong. Sau này ông viết lại cho tôi câu đó: *Của thầy tôi. Tôi sang bờ bắc tìm bà Sim thợ rèn.* Y lấy mũi giày xoá dòng chữ đi, rất nhẹ, dù trên bãi đó không ai đọc được. "Bà ấy đã già," y nói. Gió trên bãi thổi vạt áo trắng bay sang một bên. "Những gì các hạ muốn hỏi, bà ấy không muốn trả lời, và có người cũng không muốn bà ấy phải trả lời. Tại hạ xin các hạ một việc, đừng sang sông. Năm nay nước lên sớm. Các hạ về đi." Ông câm lắc đầu. "Tại hạ xin lần thứ hai." Ông lắc đầu, đeo cái bọc lên vai, định đi tiếp về phía con đò của tôi. Hạc Y thở ra, không to. "Vậy thì đắc tội. Xin mời các hạ ra chỗ cát trống, cách xa mép nước." Y liếc xuống đò. "Dưới đó thì không được." Cả bãi tự động dạt ra. Không ai dạy mà ai cũng biết, đó là cái luật của khúc sông này từ hồi nào không ai nhớ: trên đò không ai đánh nhau. Người ta có thể rút dao với nhau ở bến, xuống tới ván đò thì phải cất, và y là người bờ bắc mà y giữ đúng từng chữ. Tôi chạy theo nắm tay áo ông câm. "Ông điên à! Sườn ông như rứa, thằng cha đó..." Ông nhẹ gỡ tay tôi ra. Cháu chép đoạn sau cho đúng, vì chính tôi đếm. Về sau tôi xem nhiều trận hơn thế nhiều, nhưng trận đó là lần đầu tôi hiểu võ là cái gì. Hạc Y đứng đó, hai chân cách nhau một bàn tay, rút cả vỏ lẫn kiếm ra khỏi đai, cầm bằng tay trái. Kiếm không rút, tay thì trái. Bọn chài sau lưng tôi xì xào, thằng cha này khinh người quá. Còn ông câm tháo vải, cầm chuôi, và đi vào, vì ông chỉ có thể đi vào. Bước đầu ông chéo sang trái, lưỡi gãy hất lên tìm cổ tay. Cái vỏ kiếm đưa ra, chạm vào thép đúng một tiếng "cách" nhỏ, đẩy ông lệch đi nửa bước. Đó là 1. Ông thấp người lao thẳng, và y lùi một bước, một bước thôi, gót chân đặt xuống cát êm như đi trong nhà có người ngủ, lưỡi gãy chém qua khoảng không, cách vạt áo đúng một gang tay. Đó là 2. Tới đó tôi hiểu ra, dù tôi chỉ là đứa đẩy sào. Chèo đò thì phải biết sào mình dài tới đâu, thế mà chỉ qua một lần chạm, y đã biết thanh kiếm cụt đó dài tới đâu, và y đứng lại đúng chỗ nó vừa không tới. Ông xoay phải đổi hướng, lùi một bước, thiếu một gang, 3. Ông nhấc chân hất cát, cái này tôi thích, dân bến đánh nhau hay làm thế, thì y nhắm mắt lại, thật đấy, y nhắm mắt và nghiêng đầu y như lúc nghe bọn chài hát, chân bước sang ngang tránh hết, 4. Y đang nghe hơi thở ông câm. Cái sườn đau làm hơi thở ông hụt ở nhịp thứ ba, và y nghe được chỗ hụt đó. Vỏ kiếm từ dưới đi lên, không nhanh, tôi còn thấy rõ nó đi, gõ một cái vào đúng chỗ tím trên mạn sườn trái. Tôi nghe một tiếng rắc nhỏ. Đó là 5. Ông khuỵu một gối xuống cát, cái mồm mở ra, không có tiếng nào đi ra cả, bọn chài đứng sau tôi nín thở, và cái tiếng không có đó làm tôi lạnh gáy hơn tiếng hét. Đầu vỏ da đặt nhẹ lên yết hầu ông, nâng cằm lên. 6. Tôi đếm trên ngón tay, lòng bàn tay còn đang nắm 5 đồng của y. "Các hạ nhất lưu, tay rất sạch," Hạc Y nói, không thở gấp chút nào. "Thua là thua ở thanh kiếm. Người ta chỉ cần biết các hạ không đâm được thì biết các hạ phải đi vào, và biết đường đi. Một thanh kiếm như thế chỉ nên đánh với người chưa biết." Y thu vỏ về, cài lại vào đai. "Tại hạ sẽ ở bên kia. Tới mồng Một, nếu các hạ vẫn sang, thì tại hạ sẽ không dùng vỏ nữa." Y cúi đầu, rồi nghĩ thế nào lại thò vào túi lấy ra 5 đồng, đặt xuống cát ngay trước mặt ông câm. "Công các hạ. Tại hạ vừa được nghe một hơi thở rất đáng tiền." Rồi y đi, áo bạc, lưng thẳng, cát không dính gót. Ông Chít đứng gần tôi nói nhỏ, giọng khác hẳn lúc nãy: "Tuyệt đỉnh đó. Tau nghe đồn thằng này thề không dùng tay phải với ai chưa đáng mặt, tay trái mà còn rứa, dùng tay phải thì thằng câm chết từ chiêu đầu." Cả bãi đều tin, tôi cũng tin. Tôi chạy tới. Ông vẫn quỳ một gối, tay chống cát, mồ hôi chảy thành dòng trên thái dương. Không hiểu sao lúc đó tôi tức tới run cả người. Tôi nhặt 5 đồng lên, vì tiền là tiền, và tôi la: "Đã bảo đừng rồi! Ông không có tiếng, không có mũi, không có tiền, gãy cả sườn, ông có cái gì mà ra đó? Ông tưởng ông là ông Giữ Mạn à?" Ông ngẩng lên nhìn tôi, không có vẻ gì đặc biệt, rồi đưa tay ra, tôi tưởng ông đòi 5 đồng. Ông bám lấy vai tôi, gồng người, đứng dậy. Tôi gánh được 40 cân, và ông nặng hơn tôi tưởng mà cũng nhẹ hơn tôi tưởng. Mụ Thìn không ra tiễn, thằng Tộ thì có. Tộ là phu vác cá ở bến Dưới, lớn hơn tôi mấy tuổi mà to gấp đôi, mập, mặt tròn, đi hơi lặc, năm nào theo thuyền cá lên bến Vạn cũng bị tôi lừa mất ít tiền, thế mà gặp tôi là đỏ mặt. Nó chạy lạch bạch xuống bãi giúp tôi khiêng ông xuống đò, rồi dúi vào tay tôi một nắm cơm gói lá, nói "T... tui ăn rồi", dù tôi nghe rõ bụng nó kêu. Tôi nhận, cũng không cảm ơn. Tôi đẩy đò ra, cho ông nằm giữa khoang. Lên tới khúc quanh đầu tiên thì mặt trời đã cao, tôi cắm cúi chèo ngược nước, mái nặng trịch, cả buổi không nói câu nào, đó là kỷ lục của tôi. Có cái gì đó chạm vào cổ chân tôi. Ông đang nằm nghiêng, một tay với xuống khoang thấm nước, tay run, gõ hai cái lên ván ra hiệu cho tôi nhìn. Ông viết lên tấm ván đáy đò, ngay cạnh chân tôi, rất chậm, có một nét đi lạc. Một chữ, nhiều nét hơn chữ hôm qua, trông như một người đang ngồi bên cạnh đống lửa. Tôi cứ tưởng ông quên. Ông vừa bị người ta đánh cho quỳ giữa bãi, bị người ta đặt tiền xuống cát trả công, gãy thêm một cái xương, vậy mà ông nằm đó nhớ rằng hôm nay chưa dạy chữ. "Chữ gì?" tôi hỏi, giọng tôi nghe không giống giọng tôi. Ông nhấc ngón tay lên, chỉ vào tôi. Tôi nhìn nó cho tới khi đáy đò khô. Về sau tôi viết chữ đó nhiều hơn bất kỳ chữ nào, trên hàng trăm tờ biên lai, và lần nào viết tôi cũng chậm lại ở cái nét đi lạc đó, dù chữ đó vốn không có nét đó. Đượm.