Chương 1: Ngã sang bên trái
Thuộc tiểu thuyết Mười Một Việc Của Con Gái Vợ Lẽ
Tác giả: Thảo Chi · Thể loại: Ngôn Tình · Đăng ngày · 2540 từ · khoảng 13 phút đọc
Cháu đặt tờ giấy xuống bàn đi, đừng bưng hai tay như dâng sớ, bà có phải quan đâu.
Ngồi đi. Cái ghế ấy của ông, ông mất mười một năm nay rồi, không ai mắng đâu. Cháu ngồi không dựa như thế thì đau lưng, nhưng tuỳ cháu, người đến đòi nợ thường ngồi như thế cả.
Để bà xem nào. Giấy dó, gấp tư, mép sờn, gấp đi gấp lại nhiều lần bởi một người không biết chữ, vì người biết chữ gấp theo chiều khác. Bà không cần mở. Bà biết dòng đầu viết gì, dòng cuối viết gì, và chỗ nào mực dày hơn chỗ khác. Chữ trong tờ này là chữ bà. Bà viết nó đêm mười bốn tháng Mười, năm bà mười ba tuổi, đứa bé bị bán trong đó lên bốn, và đứa bé ấy là bà nội cháu.
Ừ. Cháu tưởng bà sẽ chối à?
Cháu đi mấy ngày đường, cháu muốn hỏi vì sao. Hỏi thế là đúng, nhưng trả lời thì không ngắn được, vì muốn biết sao bà viết tờ này phải biết một cú ngã, ba hộc gạo, một cái đấu và mấy thứ trong nhà ngang. Cháu có bút chứ? Thế thì ghi. Bà già rồi, kể một lần thôi, không kể lại. Và bà nói trước với cháu, có đoạn cháu sẽ không tin. Bà đã chết một lần. Không tin thì cứ ghi, đến lúc tin thì đọc lại.
À, cháu ghi thì bà xưng tôi cho tiện. Chứ viết bà mười ba tuổi vào giấy, người sau đọc lại cười chết.
Tôi chết năm hai mươi tuổi, ở nhà họ Đàm, đêm mồng bảy tháng Năm, vì một cơn sốt sau khi sinh mà không ai chịu đi gọi thầy thuốc. Chuyện ấy để sau. Tôi kể từ chỗ tôi mở mắt.
Tôi mở mắt thì thấy gạch.
Gạch sân nhà quan Tham, thứ gạch vuông đỏ sẫm mà tôi đã lau bằng giẻ từ năm lên bảy, có một viên sứt góc hình cái tai. Hai đầu gối tôi đau kiểu đau của người đã quỳ lâu, cái đau tê dại rồi nhói lên từng hồi như có ai cầm kim châm vào từ phía trong. Mùi hương trầm, mùi xôi, mùi mồ hôi người lớn trong áo lễ. Bên trái tôi là một vạt áo nâu đã giặt bạc, và tôi biết cái vạt áo ấy, tôi biết cả chỗ mạng ở gấu, mũi chỉ to, vì người mạng không nhìn mà làm bằng tay.
Mẹ tôi đã mất hơn năm năm, tính theo cái đời tôi vừa rời khỏi. Tôi chỉ biết bà đang quỳ cách tôi một gang tay, thở, và trên cổ tay bà có một con muỗi đậu.
Tôi không khóc đâu, cháu đừng viết thế. Người ta tưởng sống lại thì phải khóc, còn tôi quỳ im và đếm, vì đấy là việc tôi biết làm. Đầu tiên là đếm mình: hai bàn tay nhỏ, móng cắt bằng răng, chai ở gốc ngón vì giã gạo, cổ tay bé bằng cán chày, chiếc áo nâu may bằng đúng bốn thước vải. Rồi tôi đếm sân. Hàng đầu là mẹ cả với cậu cả, quỳ sau thầy tôi một bước, hàng hai là cô Hai, cô Ba, cô Tư, hàng thứ ba là mẹ tôi và tôi, sát mép sân, chỗ mái hiên không che được nắng. Ba mâm trên đã bưng vào, hai mâm dưới còn đợi ở hành lang. Cái lư đồng đang cháy tuần hương thứ hai, cây hương giữa còn chừng ba đốt ngón tay.
Cái lưng tròn ở hàng trên động đậy, cô Tư ngoái đầu lại một chút, má phồng lên, thì thầm qua vai bằng cái giọng cô ấy tưởng là nhỏ:
— Em ơi, em có ngửi thấy không, mùi bóng thả đấy, mâm trên có, chị thấy vú bưng qua. Thầy đọc văn tế dài như đường đi chợ, chị sắp chết đói rồi. Em đừng bảo ai là chị đã ăn một miếng xôi lúc bày lễ nhé, ông nội cũng không chấp đâu, ông nội thương chị nhất.
— Quay lên đi, cô Hai rít qua kẽ răng, không động đậy cái cổ. — Mẹ nghe thấy bây giờ.
Tới đấy thì tôi biết hôm nay là ngày nào, và nắng đang đổ xuống gáy mà sống lưng tôi nổi gai.
Mười ba tháng Tám, giỗ ông nội, năm tôi mười ba tuổi.
Cháu hiểu cho, một đứa con vợ lẽ không có lịch, không có sổ, không ai nói với nó hôm nay là ngày bao nhiêu. Bảy năm đời trước của tôi trôi đi không có ngày tháng, chỉ có mùa. Tôi nhớ được ngày nào thì là vì ngày ấy dính vào một đám giỗ, một cái tết, một đám cưới, một đám ma. Mà ngày hôm nay thì tôi nhớ như nhớ tên mình, bởi đó là ngày mẹ tôi mất chỗ đứng trong cái nhà này.
Nó xảy ra thế này. Khi cây hương giữa tàn, vú Đãi sẽ men theo hè đi tới, cúi xuống tai mẹ tôi, nói mẹ cả bảo dì Ba xuống kho đong gạo lộc. Lộc giỗ cháu biết không? Là gạo biếu họ hàng sau lễ, mỗi nhà một phần, đong ở cái bồ riêng trong kho, sổ ghi đúng mười hộc. Mười thưng một đấu, mười đấu một hộc, cháu cứ hình dung một hộc là cái thằng gánh khoẻ gánh một chuyến ngắn. Mẹ tôi là con nhà hàng xáo ở bến Đông, bà đong gạo bằng tay còn chuẩn hơn cái đấu, cho nên việc ấy hay đến tay bà, và người ta vừa dùng cái tay ấy vừa khinh nó.
Bà sẽ đứng dậy, đi xuống kho, cầm chùm chìa một buổi. Chiều đến, khi đong xong, cái bồ mười hộc chỉ ra được bảy.
Mẹ cả sẽ không to tiếng. Bà chưa từng to tiếng với ai trong đời. Bà sẽ hỏi một câu giữa sân, khẽ như hỏi giờ: sáng nay ai đong? Và mẹ tôi sẽ thưa, là tôi. Rồi bà quỳ xuống. Không ai bắt, bà tự quỳ, đúng cái sân này, từ chập tối cho tới sáng, gió tháng Tám thổi từ phía sông về, và từ sáng hôm sau bà không còn được đặt chân vào bếp nữa. Phần gạo nhà ngang rút đi, người làm thôi chào, thầy tôi không nhìn. Mùa đông năm ấy bà bắt đầu ho. Chưa đầy hai năm sau, mồng chín tháng Ba, tôi mười lăm tuổi, bà ho ra một bát máu rồi thôi.
Đời trước tôi đứng ở đầu hè đêm ấy, mười ba tuổi, nhìn mẹ quỳ mà không dám ra.
Cây hương giữa còn hai đốt.
Tôi không có thì giờ nghĩ chuyện lớn, tôi chỉ có chừng bằng thời gian nhai một miếng trầu. Tôi không có quyền gì. Tôi không nói được với ai, nói với mẹ thì mẹ bảo tôi sốt, nói với người khác thì mẹ tôi lãnh đòn trước giờ. Tôi chỉ nghĩ được một chuyện rất ngu, và đến giờ bà vẫn cho rằng nó ngu, nhưng nó là chuyện duy nhất một đứa mười ba tuổi làm được giữa sân: nếu lúc vú Đãi tới mà mẹ tôi không thể đứng dậy được thì người xuống kho sẽ không phải là mẹ tôi.
Cây hương còn một đốt, tôi thấy vú Đãi bước ra khỏi cửa bếp, cái chân sưng đi trước, cái môi gỗ giắt ở thắt lưng.
Tôi để cho hai mắt trôi ngược lên, thở hắt một cái, rồi nghiêng người đổ sang bên trái.
Ngã cũng có khéo có vụng, sau này mẹ cả dạy tôi điều đó, lúc ấy tôi chưa biết. Tôi đổ đúng vào lòng mẹ, thái dương đập vào đầu gối bà, nghe cả sân hít vào một tiếng. Bà kêu một tiếng con, tiếng khẽ thôi, và bà ôm lấy tôi bằng hai cánh tay gầy mà cứng như đòn gánh. Tôi nằm im. Tôi để miệng hé ra. Trong tay trái tôi có một nắm vải nâu, tôi nắm vạt áo bà từ lúc nào tôi cũng không biết.
— Cô Năm ngất! Cô Năm nhà ngang ngất rồi!
Đấy là tiếng cô Tư, cô ấy mười bốn tuổi, nói to hơn cả ông thầy cúng. Có tiếng dép, có tiếng các bà khách xuýt xoa cái nắng tháng Tám thế này, cháu ơi là cháu. Qua khe mi tôi thấy chân vú Đãi dừng lại cách đó ba bước. Bà đứng một lúc, nhìn mẹ tôi đang đỡ đầu tôi, rồi nhìn lên phía hàng đầu.
Mẹ cả không đứng dậy. Bà chỉ hơi nghiêng đầu về phía bên này, nghiêng rất ít, như người nghe tiếng mưa xem nó có to hơn không.
— Đưa cháu nó vào trong, dì Ba. Tuần hương chưa tàn, mọi người giữ lễ.
Giọng khẽ, chẳng có gì trong đó. Mẹ tôi bế xốc tôi lên. Một đứa mười ba tuổi cũng chẳng nặng gì, tôi khi ấy nhẹ bằng bó củi, và lúc đi ngang chỗ hè, tôi nghe vú Đãi quay sang phía bếp, gọi bằng cái giọng hơi bực của người phải đổi việc giữa chừng:
— Thắm đâu! Bỏ đấy, đi xuống kho đong gạo lộc.
Tôi nhớ tôi đã mừng. Cháu ghi câu ấy vào. Tôi nằm trên tay mẹ tôi, mắt nhắm, nghe cái tên ấy mà trong bụng mừng đến nóng ran, vì mẹ tôi thoát rồi, tôi chỉ nghĩ có thế. Thắm là ai tôi có biết không? Biết chứ. Chị ấy nấu cám, nhóm bếp, hay hát khe khẽ, có đứa con gái đầu cạo chừa trái đào lúc nào cũng ôm chân người lớn. Tôi biết, và tôi không nghĩ tới. Trước khi ngã tôi đã không nghĩ ai sẽ đi thay. Sau khi ngã, tôi cũng chưa nghĩ.
Mẹ tôi đặt tôi xuống giường tre ở nhà ngang, vạch mí mắt, sờ gáy, gỡ từng ngón tay tôi ra khỏi vạt áo. Bà gỡ chậm, từng ngón một. Rồi bà ngồi yên một lát, hai bàn tay đặt trên đầu gối, như mỗi khi bà tính tiền chợ.
— Con nằm yên đấy.
Bà nấu cho tôi một niêu cháo. Tôi ngồi dậy lúc quá trưa, giả vờ mệt, thực ra là đói, cái đói của thân thể mười ba tuổi cứ cào lên, mà tôi đã quên mất cái đói ấy nó khoẻ tới mức nào.
Niêu cháo chưa sôi thì có tiếng dép ngoài cửa, và cái mặt lấm tro của chị Thắm thò vào, lưng cõng bé Tí, tay bưng một đĩa xôi người ta vừa cất xuống từ mâm dưới.
— Dì Ba ơi, vú bảo đem cho cô Năm miếng xôi lấy sức. Cô Năm tỉnh rồi à? Ôi giời, hôm nay nắng thế, người lớn còn lả nữa là cô.
Chị để đĩa lên hòm, nói liến thoắng, cái giọng lúc nào cũng như sắp hát:
— Dì cứ ở đây với cô, việc dưới ấy con làm cho. Mà dì ạ, cái bồ lộc năm nay con thấy nó nông nông thế nào ấy, con mới đong được hai hộc mà đã nhìn thấy cót. Hay tại con không quen tay, xưa nay toàn dì đong.
Mẹ tôi đang cầm đôi đũa cả. Tôi thấy đôi đũa dừng lại trong niêu.
— Chị đong tới đâu rồi?
— Dạ con mới lên ăn miếng cơm, chiều con đong nốt, đong xong vú bảo trả chìa cho bà.
Bà đặt đũa xuống, lau tay vào vạt áo và đứng dậy. Bà làm mọi thứ ấy không vội chút nào, nhưng tôi biết cái bước chân ấy, nó đang đi về phía cửa.
— Chị trông niêu cháo cho tôi một lát. Để tôi xuống đong nốt, chị không quen, nhầm thì khổ.
Tôi nằm trên giường mà tim đập lên tới cổ. Không được, bà định đi đâu, bà định đi đúng vào chỗ tôi vừa kéo bà ra. Tôi không kịp nghĩ. Tôi ôm lấy đầu, kêu lên một tiếng rất thật:
— U ơi, con chóng mặt, u đừng đi, con sợ lắm!
Bà dừng lại ở bậc cửa. Bà quay lại nhìn tôi, rồi nhìn ra phía kho, cái nhìn ấy đi đi về về đúng hai lần. Tôi lại kêu nữa, tôi nôn khan một tiếng, bà bước về, ngồi xuống, bàn tay đặt lên trán tôi.
— Thôi dì ơi, dì cứ ở với cô, có gì đâu mà nhầm, chị Thắm cười. — Bồ gạo chứ có phải bồ vàng đâu.
Bé Tí trên lưng chị thò tay xuống, túm lấy miếng xôi, được chị vỗ vào mu bàn tay một cái rất nhẹ. Hai mẹ con đi ra. Tôi nghe tiếng chị hát khe khẽ dọc hè, cái bài gì về con cò, xa dần về phía kho.
Chiều xuống, gió bắt đầu từ phía sông. Tôi nghe tiếng gạo chảy từ xa, rào rào, đều đều, rồi im. Rồi con Mận chạy ngang qua cửa nhà ngang, không đi bộ, nó chưa đi bộ bao giờ. Rồi tôi nghe cả sân gạch yên lại, kiểu yên của một nhà đông người mà không ai nói. Tôi bò ra ghé mắt qua khe vách.
Khách đã về gần hết. Mẹ cả đứng ở bậc thềm, chùm chìa khoá ở dải rút, ngón tay đặt lên quyển sổ cô Hai đang ôm. Cô Hai đọc một câu, tôi nghe được hai chữ bảy hộc. Mẹ cả không nhìn ai. Cái câu ấy đến đúng như tôi đã nhớ, từng tiếng, khẽ như hỏi giờ:
— Sáng nay ai đong?
Tôi ngừng thở. Đời trước, ở chỗ này, là tiếng mẹ tôi.
— Bẩm, con.
Chị Thắm đứng ở chân thềm, hai tay còn dính cám gạo. Chị chưa hiểu gì, chị còn hơi cười, cái cười của người làm khi bị bề trên gọi đến tên.
— Bẩm, con đong đủ thật, bồ nó có bảy, con tưởng...
— Mười hộc, chị Thắm. Sổ ghi mười.
Chị nhìn quanh tìm một người để hỏi. Ba hộc gạo, cháu ạ, một người đàn bà gầy, một buổi sáng, cả nhà đầy khách, vác đi đâu, giấu chỗ nào? Một đứa trẻ cũng hỏi được câu ấy mà cả sân không một ai hỏi. Đã có người đứng đấy rồi thì còn hỏi làm gì.
Chị Thắm quỳ xuống lúc nào tôi không để ý, chỉ thấy chị thấp đi. Gió lật vạt áo chị. Đứa bé con chị, bốn tuổi, ngồi trên bậc cửa bếp, chưa hiểu gì, đang đếm mấy hạt gạo nhặt được, một, hai, năm.
Mẹ tôi đứng sau lưng tôi từ bao giờ. Tôi quay lại. Mặt bà xám đi, xám như tro bếp.
— U ơi...
Bà nhìn ra sân thêm một lát nữa. Rồi bà đẩy cái bát vào tay tôi.
— Ăn đi con.
Cháu hỏi bà có ra sân không? Không. Bà ngồi trên giường tre trong nhà ngang, nghe gió thổi suốt đêm vào một người khác. Bà ăn cháo. Cháo có một chút muối rang. Bà ăn hết bát.