Chương 2: Mười một nút chỉ
Thuộc tiểu thuyết Mười Một Việc Của Con Gái Vợ Lẽ
Tác giả: Thảo Chi · Thể loại: Ngôn Tình · Đăng ngày · 2149 từ · khoảng 11 phút đọc
Canh ba đêm ấy tôi nghe cái then cửa nhà ngang được nhấc lên, nhấc bằng cả hai tay cho khỏi kêu.
Mẹ tôi đi ra. Tôi nằm quay mặt vào vách, đếm. Bà đi hết chừng một nén hương, và khi về thì gấu áo bà ướt sương, bà ngồi xuống mép giường không nằm, cứ ngồi như thế tới gà gáy. Tôi nghĩ bà sang nhà trên xin cho chị Thắm. U tôi thế đấy, tôi nghĩ, hiền tới mức ngốc, mình mới thoát một trận đã đi xin cho người ta.
Sáng ra tôi hỏi bà, giọng ngái ngủ của một đứa trẻ:
— Đêm qua u đi đâu thế?
— Đi giải.
— Giải gì mà lâu thế u?
Bà nhìn tôi, tay vẫn tết tóc cho tôi, kéo một cái hơi mạnh.
— Người già thì lâu. Ngồi yên.
Bà ba mươi tư tuổi.
Sáng mười bốn, tôi xin được dậy. Chị Thắm còn ở sân, không quỳ nổi nữa, chị ngồi bệt, hai chân duỗi ra như chân con rối, và cô Tư, là người duy nhất ở nhà trên có cái bụng biết thương, đang lén thả một cái bánh giầy xuống bậc thềm rồi đi thẳng, huýt sáo như không có chuyện gì.
Mẹ cả ra lúc nắng vừa chạm tới viên gạch sứt. Không có tra khảo, không có roi vọt, cháu đừng tưởng tượng như trên chiếu chèo. Cô Hai ôm sổ đứng bên, đọc to một dòng. Ba hộc gạo, giá ba quan một hộc, là chín quan. Chị Thắm công một năm ba quan, ăn ở nhà này. Mẹ cả nói không cần nhìn ai, ngón tay đặt lên mép sổ:
— Chị chưa nhận, tôi cũng không bắt chị nhận. Gạo mất lúc chìa ở tay chị, thì chị chịu. Chín quan, trừ vào công. Ba năm. Đứa bé vẫn được ăn cơm bếp như cũ. Cô Hai, ghi.
Có vậy thôi. Ba năm công của một người đàn bà, nói trong lúc nước chè chưa kịp nguội. Chị Thắm dập đầu cảm ơn. Đúng thế, chị cảm ơn, vì chị tưởng thế là nhẹ, và thật ra ở nhà khác thì đã nhẹ. Tôi đứng đầu hè nhìn cái đầu chị cúi xuống, chỗ tóc mai có mấy sợi bạc, chị mới hai mươi sáu tuổi.
Tôi về nhà ngang, moi trong hòm ra cuộn chỉ nâu mẹ tôi để mạng áo, cắt một đoạn dài bằng hai gang, và ngồi xuống thắt nút.
Cái lối đếm bằng nút ấy tôi học của mẹ. Người bến Đông không biết chữ thì đếm bao gạo bằng nút dây, nút đơn là một, nút kép là mười, đời bà ngoại tôi đã thế. Tôi không dám viết, mà lúc ấy tôi viết được. Đời trước từ năm mười bốn tôi được cho ngồi nhặt rau ở góc nhà ngoài, nghe lỏm thầy đồ dạy cậu cả, học được mặt chữ, tưởng là không ai để ý. Về nhà họ Đàm, ông ký Tốn mắt kém dạy tôi nốt lối chữ văn khế, và gần hai năm ở đấy tôi chép văn tự cho họ, vì một đứa vợ lẽ chép thì khỏi phải trả tiền thầy đồ. Nhưng một con bé mười ba tuổi, con dì Ba, có chữ trong hòm là chuyện không giải thích nổi. Nút chỉ thì ai bảo gì.
Tôi ngồi đếm xem mình còn biết gì, và cháu sẽ tưởng là nhiều lắm. Bảy năm cơ mà. Tôi cũng tưởng vậy. Tôi bắt đầu nhớ, rồi tôi thấy mình có hàng nghìn thứ mà không có ngày tháng. Có một mùa nào đó cô Ba bị ho. Có một hôm trời mưa thầy tôi về sớm và nổi giận chuyện gì. Có năm nào đấy giá gạo lên, tôi chỉ biết vì phần cơm mỏng đi. Những thứ ấy đều là thật, mà vô dụng, vì tôi không biết nó ở chỗ nào trong năm, cũng như cháu nhớ một bát bún ngon mà không nhớ phố nào. Việc nào đóng được ngày thì là vì nó dính với một cái mốc. Tôi đếm trên đầu ngón tay, đếm hai lần, rồi ba lần.
Mười một việc.
Cháu ghi cho bà. Cháu ghi đúng thứ tự, sau này còn cần.
Một, mười ba tháng Tám năm ấy, thiếu ba hộc. Hai, Rằm tháng Tám, ngày mai, cái bình men lam của mẹ cả vỡ, con Mận bị đuổi. Ba, mồng mười tháng Mười, tết cơm mới, thầy thưởng cậu cả con ngựa. Bốn, hăm ba tháng Chạp, cậu cả được người ta khiêng về gãy chân, cả nhà bảo ngã ngựa. Năm, mồng sáu tháng Ba năm sau, cô Hai về nhà chồng. Sáu, mười bảy tháng Bảy năm sau, bão đêm, sập góc đông nhà ngang. Bảy, Rằm tháng Giêng năm thứ ba, thầy đưa dì Tư về. Tám, mồng chín tháng Ba cùng năm, u tôi mất. Chín, mồng sáu tháng Chạp năm tôi mười tám, tôi về nhà họ Đàm. Mười, mồng hai tháng Năm năm tôi hai mươi, tôi sinh con. Mười một, đêm mồng bảy tháng Năm, năm ngày sau.
Mười một nút, nút nọ cách nút kia một đốt ngón tay. Tôi cầm sợi chỉ, tháo nút đầu tiên ra, vì việc ấy đã xong rồi, tôi đã đổi được. Tôi thấy mình ghê gớm lắm. Tôi giữ cái cảm giác ghê gớm ấy được chừng vài hơi thở, rồi ngón tay tôi lần tới nút thứ tám và dừng lại.
Mẹ tôi mất mồng chín tháng Ba năm thứ ba vì bà đã quỳ một đêm gió. Mà bà không quỳ nữa. Thế thì nút ấy còn là gì? Bà có còn mất ngày ấy không? Hay sớm hơn, vì một chuyện khác tôi không biết? Hay trễ hơn? Cái ngày tôi đã nhớ như in, ngày tôi định sẽ đứng chặn ở đấy bằng mọi giá, tôi vừa tự tay làm cho nó thôi có thật. Tôi đã cứu mẹ khỏi cái chết tôi biết, và thả bà vào một cái chết tôi không biết.
Mười một việc của tôi là mười một cái cọc cắm trên một bờ sông đang lở, cháu ạ, tôi vừa nhổ một cái lên mà chưa biết đoạn bờ nào sẽ trôi theo.
Tôi buộc sợi chỉ vào trong gấu áo, khâu lại bằng ba mũi. Rồi tôi đi xuống bếp.
Tôi muốn nói là tôi xuống để chuộc tội, nhưng bà không nói dối với cháu. Tôi xuống vì tôi không chịu nổi việc ngồi yên. Ở bếp chị Thắm đã nhóm lửa, đi lại bằng cái dáng của người hai đầu gối không gập được, và chị không hát. Bé Tí thấy tôi thì chạy tới ôm chân, thứ gì đứng yên là nó ôm. Nó ngửa cái mặt lem ra:
— Cô Nẵm! Cô Nẵm khỏi ốm chưa?
Nó chưa nói được tên tôi. Trên chỏm đầu cạo có một túm tóc buộc bằng lạt, và tay nó nắm chặt mấy hạt gạo.
— Tí đếm cho cô xem nào.
— Một, hai, năm.
— Ba chứ.
— Năm.
Nó cười, chắc chắn là năm. Tôi đứng đấy với một đứa bé bám vào đầu gối vừa đau vừa giả vờ ốm của mình, và chị Thắm ngẩng lên, chị lau tay vào vạt áo, chị bảo:
— Cô Năm xuống đây làm gì, cô còn mệt, lấm áo ra, dì Ba lại mắng. Để con đưa cô bát nước gừng.
Chị rót nước gừng cho tôi. Chị cúi xuống bằng cái đầu gối ấy, hai tay đưa cho tôi bát nước gừng, chị lo tôi cảm nắng. Tôi uống hết, nóng rát cả cổ, rồi tôi đi ra sau bếp đứng một lúc.
Con Mận thì đang ngồi ở cạnh lu nước, vừa cọ nồi vừa kể cho một đứa khác nghe chuyện đêm qua, nói nhanh như gà mổ thóc:
— Tao nói mày nghe, chị Thắm mà ăn cắp thì tao là bà hoàng. Chị ấy có lần nhặt được một đồng kẽm dưới gầm chạn, chị ấy đi hỏi cả nhà xem của ai. Mà thôi, con lạy bà, mày nói với ai là mày chết với tao. Bà cả bảo thiếu là thiếu. Bà cả có bao giờ sai đâu.
Rồi nó thấy tôi, im bặt, cúi xuống cọ nồi như muốn chui vào trong đó.
Vú Đãi ngồi ở chõng nhặt rau, không ngẩng đầu, cũng chẳng hỏi han gì. Khi tôi đi ngang bà mới nói, nói với mớ rau:
— Hôm qua cô Năm ngất đúng lúc nhỉ.
Tôi thưa dạ, con cũng không biết, và đi tiếp, cố cho hai bàn chân bước đều. Một người đã để ý. Ngần ấy thôi tôi tưởng đã là tệ nhất rồi.
Trưa hôm ấy mẹ cả xuống nhà ngang.
Cháu phải biết chuyện đó lạ thế nào. Từ ngày mẹ tôi về nhà này, mười lăm năm, mẹ cả chưa từng đặt chân xuống dãy ấy, có việc thì sai người, người bề dưới phải đi lên chứ không ai đi xuống. Đời trước không hề có chuyện này. Bà đến một mình, không cô Hai, không con hầu, đi chậm dọc hè, tiếng chìa khoá chạm khẽ từng bước. Bà đưa tay sờ lên khung cửa rồi mới cúi đầu bước vào, cái cửa thấp, người cao như bà phải cúi. Trong nhà có mùi ẩm của góc đông và mùi cám. Mẹ tôi đứng phắt dậy, lùi vào mép vách, tay rủ xuống.
— Thưa bà.
— Dì Ba ngồi đi. Cô Năm đâu, mẹ xem cháu nó thế nào.
Tôi nằm ở giường, muốn ngồi dậy thì bà giơ một ngón tay. Bà ngồi xuống mép giường tre, cái giường kêu lên, nó chưa bao giờ phải đỡ một người như thế, và bà đặt bàn tay lên trán tôi. Tay bà khô và mát, thơm mùi trầu. Bà không nhìn tôi. Tôi nhớ thế, vì tôi đã sợ phải nhìn lại, mà bà chỉ hơi quay mặt về phía cửa, như đang nghĩ chuyện khác. Bàn tay rời trán, đi xuống thái dương bên trái, ấn nhẹ vào chỗ đã sưng thành cục nhỏ. Rồi xuống cổ, rồi nó đi thẳng xuống dưới, vén gấu quần tôi lên, bốn ngón tay đặt lên đầu gối.
Tôi đã quỳ từ giờ Thìn hôm qua. Hai đầu gối tôi đỏ tấy, trầy một lớp da.
— Quỳ thế này mà không kêu một tiếng. Con chịu đau giỏi.
— Dạ thưa mẹ cả, con không dám.
— Người ngất vì nắng, mẹ thấy nhiều rồi. Nó đổ về phía trước, sấp mặt xuống gạch, vì cái đầu nặng, và nó không biết đường mà chọn. Năm ngoái con Hoè ngất ngoài sân, gãy mất cái răng cửa.
Ngón tay bà vẫn nằm yên trên đầu gối tôi, không ấn, không vuốt. Tôi nghe rõ tiếng mẹ tôi thở ở sát vách, rồi tiếng ấy dừng.
— Con đổ sang trái. Đầu đập vào gối dì Ba, không trúng viên gạch nào.
Bà nói từ tốn, y như cô Hai đọc một dòng trong sổ. Một đứa mười ba tuổi phải làm gì lúc ấy? Phải sợ. Phải mếu, phải thưa con không nhớ gì đâu ạ. Tôi biết thế, tôi biết rõ từng chữ phải nói. Và tôi đã im. Cái thói quen đời trước của tôi là cúi xuống và vâng, nhưng hai năm làm lẽ nhà họ Đàm dạy thêm tôi một thói quen nữa, là khi bị đo thì đừng động đậy. Tôi nằm im, hai mắt mở, thở đều, một đứa bé không sợ.
Tôi im đúng một nhịp quá lâu. Mẹ cả nghiêng đầu về phía tôi, rất ít.
— Ừ.
Bà rút tay về, vuốt lại gấu quần cho tôi, kéo thẳng từng li, rồi đứng dậy. Tới bậc cửa bà dừng lại, không quay người, nói với khoảng sân trước mặt, và lần này là nói với mẹ tôi:
— Đêm qua dì Ba đã lên, tôi đã trả lời rồi. Việc vào sổ thì thôi, dì Ba đừng lên nữa.
Mẹ tôi cúi đầu, tôi không thấy mặt bà.
— Dạ.
— Chiều nay cho cô Năm lên buồng thêu, ngồi gần chỗ tôi. Con bé lớn rồi, không nên ở dưới này mãi, ẩm. Nó ngã khéo thế, ngồi đâu mà chẳng được.
Tiếng chìa khoá đi xa dần theo mép hè. Mẹ tôi đứng nguyên chỗ cũ một lúc lâu, tay đưa xuống dây lưng. Rồi bà bước lại, vén gấu quần tôi, nhìn hai đầu gối, lấy chút dầu trong cái lọ sành xoa vào bằng ngón tay cái có vết chai ngang. Bà xoa rất lâu, không hỏi một câu nào.
Trên gấu áo tôi, qua lớp vải, tôi sờ thấy mười cái nút.