Chương 10: Một chữ viết đè

Thuộc tiểu thuyết Mười Một Việc Của Con Gái Vợ Lẽ

Tác giả: · Thể loại: Ngôn Tình · Đăng ngày · 2117 từ · khoảng 11 phút đọc

Cháu cầm lấy tờ giấy của cháu đi. Đến đoạn này rồi, cháu mở nó ra để trên bàn, bà kể tới đâu cháu nhìn tới đấy.

Ngày mười lăm tháng Mười là ngày nhà họ Đàm đến lấy lãi. Mười bốn tháng Mười, trời bắt đầu hanh, trong nhà ai cũng biết chị Thắm không đủ. Chị có ba quan tư. Một quan của thằng Khoan, nó vét hết chỗ để dành, lại gánh đêm hơn một tháng tới mức vai sưng không ngủ được. Một quan rưỡi chị bán đôi hoa tai cưới và cái chăn. Chín tiền là vú Đãi đưa, mà vú bảo là cho vay, có lấy lãi, chị đừng khóc. Ngần ấy so với mười tám quan.

Tôi còn lại gì? Tôi không có gì nữa, cháu ạ. Tôi đã có một đứa nợ tôi, tiêu hết rồi. Tôi đã có một tay u đong chuẩn hơn đấu, tôi đã tiêu luôn nó. Tôi xuống bếp tìm Tí, cho nó lần nút chỉ, nó vẫn tới ba thì năm. Sau đêm dây lưng tôi không làm được gì, tôi chỉ biết ngồi cạnh nó, và nó ôm chân tôi thì tôi muốn đứng lên bước đi, tôi không chịu được chuyện nó tin tôi.

Chập tối mười bốn, con Mận đến gọi: bà cả cho mời cô Năm lên gian riêng, đi một mình, mang theo khung thêu.

Gian riêng mẹ cả tối om. Tôi đẩy cửa mới biết bà đang ngồi trong đó, đầu giờ Dậu rồi, trời đã sập xuống, cái bóng bà thẳng trên sập mà không một ngọn đèn.

— Con vào đi. Khép cửa. Thắp cái đèn trên án lên.

Tôi thắp đèn, và trên cái án thư thấp hiện ra một nghiên mực đã mài, một cây bút, hai tờ giấy dó trắng. Trong nhà này có thầy đồ Thọ, có cô Hai, có người ký lục của thầy tôi, tại sao lại có bút mực dọn sẵn cho một đứa mang khung thêu?

— Ngồi xuống.

Tôi quỳ xuống chiếu trước án. Bà nói, giọng không lên không xuống.

— Tháng Tám con cộng được mười bốn quan trong một hơi thở. Cuối tháng ấy con lọt được vào kho với cái bát đàn, con Mận nói dối kém lắm, mẹ biết con đong ra cái gì. Con tìm được ra ông Dậu, tìm được ra chỗ cậu cả. Ngày giỗ, ngày Rằm, mồng một tháng Chín, mẹ nhớ tất cả, con nhớ lấy. Mẹ không hỏi ai dạy con. Người ta không bao giờ nói thật về chuyện ấy, hỏi mất công. Mẹ hỏi một câu thôi. Con có biết viết không?

Tôi có thể bảo không, con không biết, và mai bà sẽ tìm cách khác mà hỏi. Nhưng tôi đã học được một điều từ đêm dây lưng, là trong căn nhà này người giỏi nhất không đoán, người giỏi nhất biết rồi mới hỏi.

— Thưa mẹ cả, biết ạ.

Bà gật đầu một cái rất nhỏ.

— Cầm bút. Mẹ đọc, con chép. Mẹ không muốn thầy đồ biết việc này, không muốn cô Hai biết việc này.

Tôi cầm bút. Cái thân mười ba tuổi này chưa cầm bút lần nào, nét đầu run, tôi phải viết chậm, nhưng cổ tay tôi đặt xuống đúng chỗ, y như tay u đặt vào gạo. Bà bắt đầu đọc, chậm, thuộc lòng, không có giấy tờ gì trước mặt, câu chữ của một tờ văn tự, bà đọc như đọc kinh. Năm ấy, tháng Mười, ngày mười bốn. Người lập văn tự là Nguyễn Thị Thắm, người bến Đông, hiện ở nhà quan Tham Lê. Nay vì thiếu nợ tiền mười tám quan, không có gì trả, thuận tình đem con gái ruột tên Tí, bốn tuổi...

Tay tôi dừng lại. Tôi không biết nó dừng được bao lâu.

— Con chép đi. Bà không lên giọng. — Nhà họ Đàm nhận trừ vào phần lãi của cậu cả tháng này. Họ đang cần một đứa nuôi từ nhỏ cho bà cụ sai vặt. Không có đứa bé này thì ngày mười lăm người ta sẽ tới nói với thầy con chuyện bạc, và cả nhà này, cả mẹ, cả dì Ba, cả chị Thắm cùng lúc. Một đứa bé thôi. Nhà này chỉ có ngần ấy phần. Con chép.

Cháu đang nhìn bà đấy à. Cháu nhìn đi. Cháu có quyền nhìn.

Bà viết. Bà chép dòng thứ nhất, dòng thứ hai, nét chữ tròn, gọn, nét của người chép thuê nhà họ Đàm, là thứ bà học để sống. Bà biết chính xác đứa bé đi về đâu, bà đã sống ở đấy, bà biết cái buồng bếp sau nhà ấy, cái bà cụ hay ném guốc, biết những đứa vào đó từ nhỏ thì không đứa nào có đường ra. Bà viết tới dòng thứ ba.

— ...thuận tình đoạn mại cho nhà họ Đàm.

Mẹ cả đọc đều đều. Trong đầu tôi gần hai năm chép văn tự đứng dậy cùng một lúc. Cháu đọc được chữ Hán chứ? Một tờ văn tự bán người có một chữ quan trọng nhất. Chữ đoạn là đứt, đoạn mại là bán đứt, người đi là đi luôn, đời đời không có đường về, chẳng cần viết thêm câu nào. Còn nếu ở chỗ ấy là chữ điển thì là cầm: đem người đi trừ nợ, nhưng sau này có đủ tiền thì chuộc lại được. Khác nhau một chữ, đọc lên khác nhau một đời người. Mà văn tự thì người ta chỉ xem số tiền, tên người, dấu tay. Tôi biết, vì ở nhà họ Đàm người soát giấy là ông ký Tốn, mắt kém, lười, ông chỉ nhìn số tiền và dấu tay. Đời này ông ta vẫn ngồi đấy.

Chữ đoạn mười tám nét, chữ điển chỉ có tám. Mẹ cả ngồi cách tôi hai bước, và trong nhà này không có tiếng động nào lọt qua được bà. Bút tôi chạm xuống. Tôi viết chữ điển, tám nét. Rồi tôi chưa sang chữ khác, tôi đi bút lại trên chính chữ ấy, từng nét một, cho đủ cái nhịp của mười tám nét, sột, sột, sột, đúng tiếng bút một người đang viết chữ đoạn. Dưới ngọn đèn, ở chỗ thứ bảy của dòng ba là một chữ điển béo mực, xấu xí, hơi nhoè ở góc.

Tôi viết tiếp, hết tờ, rồi chép bản thứ hai cho bên bán giữ, chỗ ấy tôi cũng làm y như thế. Tay tôi đều lắm. Tôi đã nói với cháu tôi không biết sợ đúng lúc mà.

— Xong chưa?

— Thưa mẹ cả, xong ạ.

— Đọc mẹ nghe.

Tôi cầm tờ vừa chép xong lên. Bà nghiêng đầu về phía tôi, mắt khép. Tôi đọc từ đầu, tới dòng thứ ba tôi đọc: thuận tình đoạn mại cho nhà họ Đàm. Rõ ràng, không run. Dòng cuối, ngày tháng. Bà giơ tay ra.

Tôi đưa tờ giấy. Bà đặt nó xuống án thư trước mặt, vuốt phẳng, rồi cúi đầu xuống gần tờ giấy. Ngón tay trỏ của bà đặt lên đầu dòng thứ nhất, đi chậm từ trên xuống, như mọi khi bà đặt tay lên sổ của cô Hai, đi xuống hết dòng một, sang dòng hai. Tôi nghe tiếng móng tay bà sột soạt rất khẽ trên mặt giấy dó. Sang dòng ba. Ngón tay đi xuống. Một, hai, ba, tôi đếm từng chữ. Bốn, năm, sáu.

Ngón tay dừng lại.

Nó dừng ở đúng chữ thứ bảy, và tôi nghĩ đó là lúc tôi chết lần thứ hai. Đầu ngón tay của bà đặt lên chỗ đó, miết sang trái, miết sang phải, nơi mực dày lên thành một lớp, chỗ dày nhất chưa khô hẳn. Cả gian nhà yên, ngọn đèn đứng thẳng, bà cúi đầu lâu bằng chừng người ta đọc một trang sách.

— Chữ này con viết mấy lần?

Tôi mở miệng. Không biết giọng tôi từ đâu đến.

— Thưa mẹ cả, một lần ạ. Con lỡ tay, mực đậm.

— Đọc lại chữ này.

— Dạ... đoạn ạ.

Ngón tay vẫn nằm đấy. Tôi nhìn cái đầu ngón tay gầy, móng cắt bằng, cạnh móng có một vệt mực nhỏ vừa dính vào. Bà thở ra bằng mũi. Rồi ngón tay đi tiếp xuống hết dòng.

— Ừ, bà nói. — Đoạn. Gọi chị Thắm lên đây.

Bà kể đoạn sau nhanh thôi.

Chị Thắm lên, Mận dẫn lên, vẫn cái dáng đi của người hai đầu gối chưa lành. Mẹ cả nói trong ba câu, tôi không nhắc lại với cháu, chỉ có câu cuối: ba quan tư chị cứ giữ lấy, văn tự trừ đủ mười tám quan, tôi không lấy thêm của chị một đồng. Chị đứng im, cái miệng hé ra như sắp hát, rồi chị quỳ xuống, nhìn tờ giấy dưới ngọn đèn như con trâu nhìn cái cày, vì chị không biết một chữ nào trong đó, và chị quay sang nhìn tôi.

— Cô Năm có chữ à? Thế... cô Năm đọc cho con nghe. Con nghe rồi con mới...

Mẹ cả ngồi đấy, mắt khép, đầu hơi nghiêng. Tôi cầm tờ giấy lên. Chị Thắm ngước nhìn tôi. Chị đã đưa cho tôi bát nước gừng. Tôi nghe mình đọc, tôi đọc đủ từng chữ, tới dòng thứ ba tôi giảng ra tiếng nôm cho chị: đoạn mại nghĩa là bán đứt, đời đời không chuộc. Tôi không có cách nào khác, cháu nghe không, trong gian nhà ấy có một đôi tai chưa bao giờ sai.

Không có tiếng gì một lúc. Rồi chị hỏi, không biết hỏi ai:

— Thế sau này... nếu con có tiền?

Tôi nhìn xuống chữ thứ bảy. Tôi có thể nói. Một câu thôi, mười chữ, trong gian nhà ấy.

— Đời đời không chuộc, mẹ cả nói. — Chị đã nghe rồi đấy. Nó còn được ăn no. Tôi không lừa chị.

Chị Thắm lấy ngón tay trỏ, ngón tay có vết bỏng dầu, nhúng vào mực son trong cái đĩa mẹ cả đẩy tới. Ngón tay ấy run thật, không như tay mẹ tôi. Chị ấn xuống, tờ này rồi tờ kia. Điểm chỉ ở cuối tờ giấy của cháu, chỗ ấy, cháu thấy rồi, một vệt đỏ nhoè, hơi lệch.

Sáng mười lăm, xe nhà họ Đàm đậu ở cổng sau, trời trong lắm, chỉ có một bà vú già đến nhận. Tí mặc cái áo mới nhất của nó, chị Thắm đã giặt trong đêm. Chị không đi ra cổng được, chị ngồi trong chái bếp, lưng quay ra ngoài, vú Đãi ngồi cạnh, một tay giữ vai chị. Thằng Khoan không có ở đấy, vú đã sai người giữ nó ở bến từ đêm trước, không thì sẽ có chuyện. Tí tưởng được đi chơi. Nó ngồi trên xe, thấy tôi đứng cạnh ông Dậu thì giơ tay vẫy, tay kia nắm cái đoạn chỉ tôi cho.

— Cô Nẵm ơi! Cô Nẵm! Tí đếm được rồi! Cô nghe này!

Xe bắt đầu lăn. Nó giơ sợi chỉ lên cao, cái đầu chừa trái đào nảy theo bánh xe, cái miệng mở rất to, từng tiếng một, sang sảng, cả cái cổng sau đều nghe thấy:

— Một! Hai! Ba!

Ông Dậu đưa cái tay già lên chùi con mắt đục.

Chiều hôm ấy tôi lên gian riêng theo lệnh. Mẹ cả ngồi đúng chỗ cũ, quyển sổ chi đặt trên án. Bà bảo tôi cầm bút, tìm tới trang cuối, bà đọc miệng cho tôi ghi vào dưới dòng tiền dầu đèn: cô Năm, mỗi tháng ba tiền. Tôi đã sống hai đời trong cái nhà này, đó là lần đầu tôi có một dòng trong sổ chi.

— Từ mai, giờ Thân, con lên đây ngồi, bà nói. — Không phải việc thêu. Con nhớ lấy.

Đấy. Hết buổi hôm nay. Đừng ghi nữa, đưa tay đây.

Tờ của cháu là tờ tôi vừa đọc đêm ấy, bản bên bán giữ, chị Thắm để lại. Dòng thứ ba, chữ thứ bảy. Bà không bảo cháu đọc. Cháu nhắm mắt lại đi, nhắm vào. Đưa đầu ngón tay đây, đặt xuống chỗ này. Thấy chưa, nó dày hơn chữ bên cạnh, sáu mươi năm rồi mà vẫn gồ lên.

Cháu đọc được chữ Hán, cháu đọc ra chữ ấy rồi chứ gì, cháu tưởng nó nhoè vì năm tháng. Bà nội cháu đến năm mười chín tuổi mới biết trong đó viết chữ gì. Còn người mẹ đã ấn tay vào đấy thì chưa bao giờ biết, chưa có lần nào bà dám.