Chương 9: Dây lưng của u

Thuộc tiểu thuyết Mười Một Việc Của Con Gái Vợ Lẽ

Tác giả: · Thể loại: Ngôn Tình · Đăng ngày · 2415 từ · khoảng 12 phút đọc

Tôi đã trả lời thế nào à? Tôi khóc. Đứa bé mười ba tuổi bị bóp cổ tay thì phải khóc, và hôm ấy tôi không cần diễn. Tôi mếu máo bảo em nghe bà đồng nói, em không biết gì, anh cả tha cho em. Ông ta nhìn tôi thêm một lúc, buông ra, bàn tay chùi vào áo.

— Nói với ai thì tao giết.

Rồi ông ta đi, đi nhanh, đầu không quay lại. Trên cổ tay tôi nổi lên bốn vết tím. Tôi lấy tay áo che, về nhà ngang, ngồi xuống và nhận ra mình đang run. Vậy là có thật. Có người thứ hai.

Gần một tháng sau đó là tháng dài nhất đời tôi, cả hai đời cộng lại. Cháu nghĩ thử xem. Trong cái nhà này có một kẻ cũng đã chết đi sống lại, kẻ đã nói ba chữ ấy, kẻ đã biết tôi đếm, đã đẩy tôi cho nhà họ Đàm sớm năm năm, và bây giờ biết tôi cũng nhớ. Tôi ăn không biết mùi. Tôi không dám đi giếng một mình. Tôi nằm nghe tiếng bước chân, đoán ông ta sẽ làm gì tiếp, thuốc độc, người bịt mặt, hay chỉ một câu nói với mẹ cả. Tôi dựng cả một ván cờ trong đầu với một đối thủ biết hết mọi nước đi của tôi.

Mà ông ta chẳng làm gì cả.

Đó mới là chỗ lạ. Ông ta tránh mặt tôi. Có lần gặp ở hành lang, chính ông ta là người rẽ sang lối khác, cái đầu cúi xuống. Rồi một buổi con Mận lén đưa tôi một gói bánh đậu xanh, bảo cậu cả cho, cậu dặn đừng nói với ai. Tôi cầm gói bánh, không dám ăn, đem cho kiến ăn trước. Kiến không chết. Tôi nghĩ tới nghĩ lui. Từ bao giờ kẻ thù lại đút lót mình bằng bánh đậu xanh?

Tôi nhìn ông ta kỹ hơn, cái móng tay cụt, cặp mắt thâm, và có một ý nghĩ tôi cố gạt đi mà nó cứ trở lại: người này đang sợ tôi, sợ như một đứa trẻ.

Mồng mười tháng Mười là tết cơm mới, nút thứ ba. Thầy tôi về từ đêm trước. Sáng ấy cúng gạo mới, cả nhà ngồi ăn cơm mới với cá kho, và tôi đặt đũa xuống, nhìn ra sân, đợi. Đời trước, đến lúc tráng miệng thầy tôi sẽ cho dắt ra một con ngựa hồng, thưởng cho cậu cả vì bài văn được ông đồ khen. Tôi nhớ bờm nó, nhớ tiếng cả nhà ồ lên, đời trước tôi đứng ở mép sân, nghĩ sao lại có đứa con được cho cả một con ngựa.

Tráng miệng xong. Thầy tôi uống nước, bảo mọi người nghỉ, rồi đi vào thư phòng.

Không có con ngựa nào.

Thế là chết thêm một nút. Tôi lần gấu áo. Việc này tôi chưa đụng tới, cũng chẳng ai đụng tới. Tối ấy tôi xách cái bát ra cổng sau thăm ông Dậu. Ông đã ngồi dậy được, gầy rộc, cái mắt đục nhìn tôi hiền như mắt con bò. Từ đêm mưa, ông nhìn nhà ngang khác đi, ông không nói gì nhưng có miếng khoai nướng nào là để phần tôi.

— Ông ơi, tôi hỏi, hỏi rất nhẹ. — Cậu cả có hay ra cổng này không ông?

Ông nhìn tôi lâu, tay mân mê bát nước vối. Ông đã ở cổng này bốn mươi năm, đã thấy mọi thứ ra vào nhà này, nhưng cả nhà coi ông như cái cột.

— Cô Năm đừng hỏi chuyện ấy, ông nói, rồi ông ho, rồi ông thở, và tôi đợi. Tôi đã học được cách đợi từ người giỏi nhất. Ông nhìn lên cái then cổng mới. — Tôi già rồi, ngủ say, đêm nào có ba tiếng gõ ngoài kia tôi cũng không nghe thấy. Cái chái này thì ai ngồi đấy tôi cũng không biết.

Tôi ngồi trong chái, sau đống bao tải, ba đêm liền. Đêm thứ ba, mười ba tháng Mười, tôi nghe ba tiếng gõ. Có tiếng dép, có tiếng cánh cổng ngách, rồi một giọng đàn ông lạ, giọng người làm công cho nhà giàu, đều đều như đọc giá:

— Cậu cả đừng làm khó tôi. Lãi tháng này bà lớn nhà tôi lấy vào rằm, chậm thì tôi đành thưa với quan. Còn cái gốc sáu mươi quan, bà tôi để nguyên hạn hăm ba tháng Chạp là vì nể cái giấy cô Năm, không thì đã đòi từ tháng Chín. Ngày ấy mà không có thì tôi chẳng thưa ai nữa, tôi cho người ra bờ sông đợi cậu.

— Đừng nói to! Giọng ấy tôi nghe mà không nhận ra. Một đứa bé đang khóc mà cố không khóc. — Tao biết ngày rồi. Ai cũng biết rồi, con em tao nó cũng biết rồi, không biết nó nghe từ đâu... Mẹ tao mà đem con bé ấy ra hỏi thì...

Tôi ngồi sau bao tải, hai bàn tay bịt lấy miệng.

Hăm ba tháng Chạp. Tôi đem cái ngày ấy ra làm phép thử, cái ngày chỉ người sống lại mới biết. Nhưng nó là cái hạn nợ! Ông ta nghe một đứa con vợ lẽ bé tí nói đúng cái ngày mà ông ta tưởng ngoài ông ta, nhà họ Đàm và mẹ cả ra không ai biết, sao không lạnh người? Tháng Chạp đời trước ông ta không trả nổi, họ đánh gãy chân ông ta ở bờ sông, khiêng về, cả nhà bảo ngã ngựa để giữ cái mặt. Chuyện em nó đếm giỏi thì cô Tư đi đâu cũng khoe mũi thêu của tôi. Cái bánh đậu xanh là tiền bịt miệng của một thằng bé mười bảy tuổi. Không có ai sống lại, không có đối thủ nào, không có ván cờ nào cả, chỉ có một đứa cắn móng tay và một đứa ngồi sau bao tải.

Tôi cười, cháu ạ. Tôi ngồi đấy cười mà không ra tiếng, nước mắt chảy qua kẽ tay.

Thế thì ai đã đổi các việc? Sợi chỉ của tôi đang đứt từng đoạn mà chẳng có bàn tay nào khác đụng vào nó, chỉ có tay tôi. Tôi vừa cười vừa nghĩ, lãi tháng. Những gánh thằng Khoan gánh ra tháng Tám. Mẹ cả bán gạo trả lãi cho con trai nuôi của bà, cho nên cái bồ lộc không hề nhầm, sổ không sai, không có gì đẹp đẽ cả. Bà biết thiếu từ trước, bà cần một người. Mọi thứ tôi xếp sang một bên giờ đã quay lại, và tôi còn thiếu một con số.

Đêm ấy trăng sắp tròn mà mây kín, gió thổi về phía bếp. Mẹ tôi ngồi vá dưới ngọn đèn, tiếng ho đã nặng hơn trước một chút. Tôi cài then cửa lại, ngồi xuống trước mặt bà trên chiếc chiếu, xếp hai chân, và tôi nói như người lớn, lần đầu tiên, không thưa gửi:

— U ơi. Ba hộc gạo là mẹ cả bán đi trả nợ bạc cho cậu cả. Con biết rồi. U cũng biết, phải không? Hôm mồng một tay u không run. U cố tình đong sai.

Cái kim của bà dừng lại, chỉ dừng một lát. Bà đâm nốt mũi ấy, kéo chỉ, cắn đứt. Bà gấp cái áo lại làm tư, đặt sang bên. Rồi bà ngẩng lên nhìn tôi, một lúc rất lâu. Tôi đã sống với bà mười ba năm, cộng thêm một đời nữa, đây là lần đầu tôi thấy bà nhìn tôi như nhìn một người ngang hàng. Không có sự ngạc nhiên nào trong cái nhìn ấy.

Bà đưa hai tay xuống thắt lưng, tháo dây lưng ra.

Tôi đã thấy nó mỗi ngày trong đời. Một sợi dây vải nâu, tết ba, mòn, quấn hai vòng quanh người bà. Bà đặt một đầu vào tay tôi và thả cho nó tuột ra trên chiếu, nó dài, dài hơn tôi tưởng rất nhiều, bà còn quấn thêm vòng trong, sát da. Dài bằng cả chiều gian nhà ngang. Và tôi cầm nó trong tay rồi tôi hiểu ra nó không phải một sợi. Nó có hàng trăm nút. Nút đơn, nút kép, nút xoắn, cứ một đoạn lại có một mẩu chỉ màu buộc vào. Tôi đã ngồi cạnh nó suốt đời, tưởng là tết cho chắc.

— Bảy năm, bà nói. Giọng khàn, chậm, bà không quen nói nhiều. — Từ năm người ta bắt đầu cho u xuống đong. Mỗi vụ gạo tô vào bằng đấu đen, ra bằng đấu sáng, thừa bao nhiêu, bán đi đâu, gánh mấy chuyến, u đều biết. Tay u biết. U không biết chữ, u thắt vào đây. Chỉ đỏ là vụ mùa, chỉ xanh là vụ chiêm. Nút kép là mười hộc.

Tôi lần theo. Tôi biết đếm, cháu nhớ không, tôi là đứa giỏi đếm nhất cái nhà này. Tôi lần qua từng đoạn, và tôi thấy một quyển sổ. Một quyển sổ chi thật, thật hơn quyển trong tay cô Hai, bảy năm gạo gian của nhà quan Tham từ tháng này sang tháng khác, ghi bằng tay một con hàng xáo không biết chữ, trên bụng bà, dưới lớp áo nâu.

— Đêm mồng một, u mà đong đúng một thưng, bà nói. — Thì ông béo ấy đòi đong tiếp cả đấu, ông ấy đang vui, ông cược một bình rượu. Con Mận nó nhát, nó khai với u rồi. Hai cái đấu do con sai nó đem ra đứng cạnh nhau trước mặt ông quan bộ Lễ, một đấu đong ra mười, một đong ra mười một. Đấu gian thu tô, tội ấy không phải tội mất mặt. Quan mất chức, nhà bị khám, người trong nhà đem bán. Con có biết vợ lẽ với con vợ lẽ đem bán thì đi về đâu không? Bà cả nghe hai tiếng đấu đặt xuống là bà biết. Bà không chặn được nữa, chặn là lộ. Bà quay mặt về phía u, bà hỏi u giữa sân, không cần mở miệng: dì Ba, dì muốn nhà này sập không? U trả lời bà bằng tay.

— Con tưởng... Con định để cho người ta thấy...

— U biết con định gì.

— U biết từ bao giờ?

Bà ho một tràng dài, lấy tay che miệng, đợi cơn ho đi qua. Bên ngoài, gió đầu đông bắt đầu lùa qua khe mái.

— Đêm hôm mười hai tháng Tám, bà cả gọi u lên. Bà bảo: bồ lộc thiếu ba hộc. Đấy là gạo ruộng giỗ của họ, ngày mai đong trước mặt họ hàng, lấy gì mà bù, mấy bồ kia từ tháng Bảy chỉ còn cái vỏ cót. Tôi cần một người đứng ra. Dì đong gạo ở nhà này bảy năm, dì biết ba hộc ấy đi đâu, dì không nói. Dì đứng ra nhận thì tôi trả dì một thứ. Dì muốn gì?

Bà dừng lại. Tôi không thở.

— U bảo: cho con bé ở nhà tới năm mười tám. Con gái nhà này mười sáu là đi. Con vợ lẽ thì mười bốn. U bảo, bà đừng gả nó sớm, đừng cho đi đâu, để nó được ở với u, để nó học được cái gì thì học, và đừng có giấy tờ gì với ai, để nó còn lối. Bà nghĩ một lát, bà nhận lời. Bà nhớ gì là nhớ đến chết, lời bà nói ra đáng giá hơn văn tự.

Không ai nói gì trong một lúc lâu lắm.

Mười tám. Năm tôi mười tám mới về nhà họ Đàm. Cô Ba, cô Tư đời trước đi lấy chồng năm mười sáu, mười bảy, tôi đã ở nhà tới mười tám tuổi, đứa con vợ lẽ, tôi cứ tưởng là người ta bỏ sót. Năm mười bốn tôi được ngồi nhặt rau ở góc nhà ngoài nghe lỏm thầy đồ, tôi cứ tưởng không ai để ý. May thay, tôi đã nghĩ, ai cũng quên mình. Hoá ra đời trước sáng hôm giỗ bà đã xuống kho, chiều bà đã nhận, đêm bà đã quỳ, gió ấy vào phổi bà rồi ở lại đấy. Bà đã mua cho tôi những năm ấy bằng hai lá phổi, và chẳng bao giờ nói ra cho đến khi bà chết. Đời trước tờ giấy với nhà họ Đàm chỉ tới khi tôi đã mười bảy, và nếu mẹ tôi còn sống thì có khi còn có lối khác.

Đời này tôi đã ngã.

— Hôm giỗ... giọng tôi không ra tiếng. — Con...

Mẹ tôi đưa tay lên, vuốt một sợi tóc trên má tôi vào sau tai, ngón cái có vết chai ngang. Tôi nhìn nó. Tôi bỗng hiểu vết chai ấy từ đâu ra, từ bảy năm siết nút dây trong bóng tối.

— Người ngất không nắm áo, con ạ, bà nói.

Bà đã biết từ lúc gỡ từng ngón tay tôi ra khỏi vạt áo. Đêm đó bà lên xin nhận thay, và mẹ cả trả lời: chị ấy đã thưa là chị ấy đong, trước cả sân rồi. Vì con còn lại, bà ấy đã nói với tôi thế.

Tôi cúi xuống, đặt trán lên sợi dây trải trên chiếu. Tôi không biết mình đã ngồi thế bao lâu. Tay bà đặt lên gáy tôi, nặng và ấm, không vỗ về gì, chỉ đặt đấy.

— Con không hỏi u sao u không nói, bà bảo. Một lát sau bà lại bảo: — U cũng không hỏi con học đếm ở đâu, học nhìn người ở đâu. U không hỏi gì. Người ta hỏi, u bảo u không biết.

Tôi ngẩng lên. Bà đang kéo sợi dây về, quấn lại, từng vòng, sát da, buộc lại bằng một cái nút mà tôi không thấy tay bà làm thế nào. Rồi bà cầm lấy gấu áo tôi. Tôi sững người. Bà lật gấu áo ra, ngón tay miết dọc đường chỉ, đúng chỗ có ba mũi khâu của tôi. Bà không mở ra. Bà chỉ ấn nhẹ vào đó, sờ qua lớp vải, một, hai, ba, tôi thấy môi bà khẽ động, đếm hết.

— Con khâu lỏng tay, bà nói. — U khâu lại cho rồi. Bữa cơm mới con cứ nhìn ra sân đợi cái gì đấy, rồi thôi. Còn tám phải không? Con muốn tháo thì tháo đi.