Chương 1: Tiếng nước đi trong lòng đê

Thuộc tiểu thuyết Người Đứng Trong Chỗ Vỡ

Tác giả: · Thể loại: Huyền Huyễn · Đăng ngày · 1856 từ · khoảng 9 phút đọc

Mồng Bảy tháng Sáu, đê Quai Vạc chưa vào mùa, nhưng cỏ trên mái đê đã bắt đầu ngả.

Ông Nhợ đi trước, vai vác cây xoi. Cứ mười bước ông lại dừng, dựng cây xoi thẳng đứng, dận gót lên đầu xoi cho nó ăn xuống đất, rồi cúi tai xuống cán.

Chốt đi sau, tay xách cái đèn bão vặn nhỏ. Nó không hỏi. Ba mùa rồi, đêm nào đến phiên nhà nó tuần thì cũng đi đúng như thế: bố xoi, nó soi, và cả hai cùng im.

Qua cột mốc thứ hai, ông Nhợ dừng lâu hơn thường lệ.

"Cầm."

Chốt đỡ lấy cán xoi. Sắt còn ấm chỗ tay bố. Nó cúi xuống, áp tai vào đầu cán như đã được dạy: má áp sát, miệng hé ra một chút cho khỏi ù.

Dưới đất có tiếng. Không phải tiếng "thụp" đặc mà thân đê tốt vẫn trả lại. Cái tiếng này rỗng hơn nửa phần, và sau nó có một cái đuôi rất nhỏ kéo dài ra, ngân rồi tắt.

"Bộp." Chốt nói.

"Bộp có đuôi."

"Vâng."

Ông Nhợ rút cây xoi lên, gạt đất bám ở mũi vào ống quần. Ông không khắc vạch lên cột mốc thứ hai. Ông đi tiếp.

Chốt bước theo, tay giữ cái đèn thấp xuống ngang gối cho ánh sáng khỏi hắt lên mặt hai người. Nghề tuần đê kiêng ánh sáng cao: mắt quen sáng thì tai kém.

"Bộp có đuôi là sao hả bố?"

"Là trong ấy có nước đi."

"Nước đi thì phải khắc chứ."

"Chưa. Đợi tới cống."

Tới quãng giữa mốc hai và mốc ba, ông Nhợ xoi thêm ba lần nữa, ba chỗ cách nhau một bước chân.

"Nghe cả ba."

Chốt nghe. Chỗ thứ nhất đặc, tiếng dội lên gọn và tắt ngay. Chỗ thứ hai cũng thế. Chỗ thứ ba thì có cái đuôi, nhưng đuôi ngắn hơn chỗ ban nãy nhiều, ngắn tới mức nếu không nghe hai chỗ kia trước thì không nhận ra.

"Chỗ ba có."

"Có bao nhiêu?"

Chốt lưỡng lự. Trong sổ tay của bố có một trang chia làm bốn hàng, và mỗi hàng là một cỡ tiếng. Nó thuộc lòng bốn hàng ấy từ năm mười lăm, nhưng thuộc trong sách với nghe ngoài đê là hai chuyện.

"Hàng thứ hai ạ."

"Ừ. Nước đọng, chưa đi."

Ông Nhợ rút con dao con trong thắt lưng ra, đi tới cột mốc thứ ba, và khắc một vạch ngang lên mặt đá phía quay vào đồng.

Trên cột mốc ấy đã có bảy vạch cũ. Vạch thứ nhất nông tới mức phải rê ngón tay mới nhận ra; vạch thứ bảy còn sắc cạnh.

"Mấy vạch này của ai hả bố?"

"Bốn cái dưới của ông mày. Ba cái trên của tao."

"Sao không ghi năm vào?"

"Ghi năm làm gì." Ông Nhợ tra dao vào thắt lưng. "Chỗ nó nằm đấy. Năm nào thì nó cũng nằm đấy."

Họ đi tiếp. Từ cột mốc thứ ba lên tới cống Ba Cửa còn non một dặm. Mặt đê rộng chừng ba trượng, đủ cho hai người đi ngang, và giữa mặt đê có một vệt mòn hẹp do chân người dẫm ba trăm năm mà thành. Bên tay phải là sông Đáy. Bên tay trái, thấp hơn mặt sông chừng trượng rưỡi, là hai mươi bảy làng đang ngủ.

Bãi Nổi nằm ở khúc thứ mười một tính từ cống xuống. Từ chỗ này nhìn về chỉ thấy một mảng tối sẫm hơn tối, với hai ba đốm đèn ai còn thức.

Đi tới quãng gò Vá thì ông Nhợ chậm lại.

Gò nằm ngoài rìa làng, cao hơn ruộng chừng hai thước, cỏ mọc kín. Trên gò có mười mấy cái cọc gỗ cắm rải rác, cọc nào cũng đã ngả màu. Không có bia, không có tên.

"Bố."

"Ừ."

"Sao nhà mình chôn ở đấy mà không chôn ở nghĩa địa làng?"

"Lệ nó thế."

"Con biết là lệ. Con hỏi vì sao lại có lệ ấy."

Ông Nhợ dừng hẳn. Ông nhìn về phía gò một lúc, rồi nhìn xuống chân đê chỗ nước đang liếm vào bãi cỏ.

"Nhà mình được ba thứ." Ông giơ ngón tay ra đếm, cách của người quen đếm cọc. "Một, không phải đóng thuế đinh. Hai, ăn ba sào ruộng công hạng nhất. Ba, chôn ở gò riêng, cấm cải táng."

"Hai thứ đầu là được. Thứ ba thì được cái gì?"

"Tao không biết."

Chốt tưởng bố nói cho xong. Nhưng ông Nhợ đứng thêm một lúc nữa, rồi mới đi tiếp, và câu tiếp theo ông nói khi đã quay lưng lại.

"Ông mày cũng hỏi tao câu ấy. Tao cũng trả lời hệt như thế."

Cống Ba Cửa hiện ra sau khúc cong, một khối gạch đen sẫm nằm cắt ngang thân đê. Ba khoang cống, mỗi khoang rộng chừng sải tay, có cửa gỗ kéo lên hạ xuống bằng dây chão qua ròng rọc. Đây là chỗ cũ nhất trên đoạn đê này, và cũng là chỗ duy nhất người ta cố tình đục thủng thân đê rồi xây gạch bịt lại.

Trên nóc cống có cái điếm canh lợp rạ, và trong điếm treo cái trống ngũ liên.

Trong điếm có người. Ánh lửa nhỏ hắt ra khe liếp, và mùi khoai nướng theo gió bò xuống tới chân bậc.

"Ai đấy?" Tiếng từ trong vọng ra.

"Nhà Vũ Đình Nhợ, Bãi Nổi. Tuần phiên."

Cái liếp hé ra. Lão Vẹt thò đầu, tóc bết một bên vì vừa nằm. Lão là phu canh điếm cống, năm nay ngoài năm mươi, quá tuổi đi phu nhưng vẫn nhận canh vì canh thì được tính công mà không phải gánh đất.

"Gớm, giờ này còn đi." Lão nhích vào cho hai bố con ngồi ghé. "Ngồi hơ tí đã."

"Không. Đi luôn."

"Nước còn thấp mà ông. Rằm tháng Sáu mới lên tới mốc ba."

Ông Nhợ ngồi xuống bậc cửa điếm, không vào hẳn. Ông cởi dép, dốc ngược, gõ hai cái cho cát rơi ra.

"Ba hôm nay ông có nghe gì dưới cống không?"

"Nghe gì cơ?"

"Nước."

Lão Vẹt gãi cổ. "Nước thì lúc nào chả có tiếng. Cống ba khoang chứ ít đâu."

"Tiếng khác."

"Chả nghe. Mà tôi nói thật, tai tôi giờ nghe được cái gì nữa." Lão cười, để lộ chỗ trống hai cái răng cửa. "Nhà ông có tai. Nhà tôi có cái bụng."

Chốt ngồi xổm ở ngoài, tay vẫn giữ đèn. Trong điếm, ngoài cái trống treo trên xà và một ổ rơm, chỉ còn một cái sào tre gác ngang vách, trên sào phơi mấy cái phên nứa còn ướt.

"Phên mới đan hả ông?" Chốt hỏi.

"Ừ. Ty giao. Đoạn này từ mốc năm tới mốc bảy phải kè phên hết trong tháng."

"Bao nhiêu trượng?"

"Hai mươi tư."

Ông Nhợ ngừng gõ dép. "Năm ngoái đoạn ấy có mười sáu."

"Thì năm nay hai mươi tư." Lão Vẹt nhún vai. "Thầy cai bảo trên đòi thì phải có. Tôi biết đường nào mà cãi."

"Làng nào gánh?"

"Bãi Nổi với Đông Trạch chia đôi."

Ông Nhợ xỏ dép, đứng lên. Ông không nói gì về chuyện hai mươi tư trượng. Ông cầm cây xoi lên, và Chốt biết là đi.

"Ông Nhợ này." Lão Vẹt gọi với theo. "Nếu có gì thì đánh trống, tôi ngủ say nhưng trống thì tôi dậy."

"Ừ."

Ông Nhợ đặt cây xoi xuống, tháo dép, lội xuống chân cống phía trong đồng.

Nước ở đây chỉ tới bắp chân. Ông đi men theo chân tường gạch, một tay chống lên mặt tường, đầu cúi.

"Đèn."

Chốt bước xuống, giơ đèn ngang mặt nước. Ánh sáng vàng chạy trên mặt nước, và trong cái vệt sáng ấy Chốt thấy một chỗ nước gợn khác chỗ khác. Nó gợn thành một hình xoắn nhỏ bằng miệng bát, xoắn đều, không tan.

"Chỗ kia."

"Tao thấy rồi."

Ông Nhợ lội tới, thọc cả bàn tay xuống chỗ xoắn. Ông giữ tay ở đấy đếm chừng mười nhịp thở, rồi rút lên. Bàn tay ông ướt tới khuỷu.

"Rò xiên." Ông nói. "Nó ăn từ ngoài sông vào, đi chéo qua chân cống, ra chỗ này."

"To không bố?"

"Cỡ cổ tay mày."

Chốt nhẩm. Rò cỡ cổ tay thì một đêm chảy hết mấy chum nước, chuyện ấy không đáng gì. Cái đáng là chỗ nào nước đi qua thì chỗ ấy đất theo nước mà đi. Đi một đêm không sao. Đi mười đêm thì cái lỗ cỡ cổ tay thành cái lỗ cỡ đùi, và đi ba mươi đêm thì không còn là lỗ nữa.

"Đắp được không bố?"

Ông Nhợ không đáp ngay. Ông lội ngược ra phía ngoài sông, vòng qua đầu cống, rồi biến mất sau khối gạch. Chốt đứng lại trong đồng, tay giơ đèn, nghe tiếng nước khua từ phía bên kia.

Một lúc sau ông trở lại. Ống quần ướt tới bẹn.

"Cầm lấy." Ông đưa cho Chốt một nắm đất. "Bóp thử."

Chốt bóp. Đất không kết. Nó nát ra giữa các ngón tay thành một thứ bùn loãng, chảy tuột đi, và trong lòng bàn tay nó chỉ còn lại mấy hạt sạn nhỏ.

Chốt biết cái này. Nó chưa gặp bao giờ, nhưng nó biết, vì cuốn sổ tay của bố có ghi, và vì bố đã bắt nó đọc thuộc từ năm mười lăm.

"Ăn tới mạch rồi." Chốt nói.

"Ừ."

Hai bố con đứng trong nước. Con cống đen sì phía trên đầu, và trong ba khoang cống có tiếng nước chảy đều, thứ tiếng bình thường của một cái cống đang làm đúng việc của nó.

"Đắp không được đâu bố nhỉ."

"Đổ bao nhiêu đất xuống cũng thành bùn." Ông Nhợ vắt ống quần. "Mày về điếm, đánh một hồi. Gọi phu lên."

"Một hồi thôi ạ?"

"Một hồi."

Chốt leo lên bờ. Nó xỏ dép, xách đèn, và chạy.

Từ chân cống lên tới điếm canh có hai mươi ba bậc đất, bậc nào cũng trơn vì sương xuống từ đầu canh hai. Chốt chạy được mười mấy bậc thì phải chống tay xuống, rồi chạy tiếp.

Chạy được nửa đường thì trống nổi.

Nó nghe thấy trước khi nó kịp nghĩ. Tiếng trống ngũ liên trên nóc cống dội xuống mặt đê, dội vào chân đê, rồi vòng lại từ phía làng.

Một hồi.

Hai hồi.

Chốt dừng lại giữa bậc đất, một chân trên một chân dưới. Nó đứng đếm.

Ba hồi. Bốn hồi.

Bố nó chưa bao giờ đánh sai. Cả đoạn đê này không ai đánh trống chắc tay bằng ông Nhợ, và trong hai mươi ba năm ông chưa đánh nhầm một hồi nào.

Hồi thứ năm nổi lên, dài hơn bốn hồi trước, và kết bằng ba tiếng dồn.

Cái đèn bão trong tay Chốt vẫn cháy. Nó nhìn xuống ngọn lửa trong bóng kính, thấy ngọn lửa đứng yên, không lay một chút nào, vì trên mặt đê đêm ấy hoàn toàn không có gió.