Chương 2: Sợi dây chão buộc ngang lưng

Thuộc tiểu thuyết Người Đứng Trong Chỗ Vỡ

Tác giả: · Thể loại: Huyền Huyễn · Đăng ngày · 1710 từ · khoảng 9 phút đọc

Phu Bãi Nổi lên tới cống Ba Cửa vào đầu canh tư, mười một người, và ai cũng mang theo sọt.

Ông Trưởng Cựu đi cuối, chống gậy, chân trái kéo lê. Ông không hỏi gì cả. Ông đi thẳng xuống chân cống phía trong đồng, lội tới chỗ nước xoắn, thọc tay xuống, giữ ở đấy một lúc rồi rút lên.

"Rò xiên hả?"

"Cỡ cổ tay thằng Chốt." Ông Nhợ đáp.

"Ăn tới đâu?"

Ông Nhợ đưa cho ông Trưởng Cựu một nắm đất vừa vốc dưới đáy. Ông Cựu bóp. Đất nát ra, chảy tuột qua kẽ tay, chỉ còn lại mấy hạt sạn.

Ông Cựu đứng im một lúc. Rồi ông quay lên bờ.

"Đổ đất trước đã." Ông nói với đám phu. "Hai sọt một lượt, đổ vào chỗ thằng Chốt cắm sào."

Chốt cắm cái sào tre xuống ngay cạnh chỗ nước xoắn, buộc vào đầu sào một mảnh vải trắng cho dễ nhìn. Phu xếp hàng, chuyền sọt từ trên xuống. Đất đổ xuống mặt nước kêu ục một tiếng rồi mất hút.

Đổ được mười hai sọt thì ông Cựu bảo dừng.

Chốt biết vì sao. Chỗ nước xoắn vẫn xoắn. Nó không nhỏ đi một chút nào, và mặt nước quanh cái sào bây giờ đục ngầu, sánh lại, có màu của nước gạo để lâu.

"Hai mươi sọt nữa nhá ông." Thằng Rào nói. Nó mười chín, khoẻ nhất đám, và cả đêm nay là lần đầu nó lên cống. "Đổ dày lên thì nó phải chịu chứ."

"Đổ cả trăm sọt nó cũng thế." Ông Cựu đáp. "Đất xuống tới đấy là thành bùn. Càng đổ càng nặng cái chỗ rỗng."

"Chả nhẽ để nguyên đấy?"

"Ai bảo mày để nguyên."

"Thế thì làm gì bây giờ hở ông?" Rào nhìn quanh. "Kè phên à? Đóng cọc à?"

Một người phu già hơn kéo vạt áo nó xuống.

"Ngồi im đi."

"Ơ, cháu hỏi thật mà."

"Thì bảo ngồi im." Người kia hạ giọng. "Ngữ mày mới lên cống lần đầu chứ gì. Cái này không phải việc của phu."

"Không phải việc của phu thì việc của ai?"

Không ai trả lời. Mười một người phu đứng trên bậc đất, tay còn cầm sọt, và tất cả đều nhìn về phía ông Nhợ.

Không ai trả lời. Ông Nhợ đang cởi áo.

Ông gấp cái áo nâu lại làm tư, đặt lên phiến đá khô cạnh chân cống, và đặt lên trên đó cây xoi với con dao con. Ông làm chậm, và ông làm theo một thứ tự nhất định, cái thứ tự Chốt đã thấy hai lần trước đây.

Cởi trần ra thì thấy rõ. Từ hõm cổ xuống tới đầu vai bên trái, xương đòn ông Nhợ nổi lên một dãy khấc nhỏ, đều, cái nọ cách cái kia chừng nửa đốt ngón tay út. Nhìn thì tưởng vết sẹo. Sờ mới biết là khấc, cứng, nằm dưới da, mọc ra từ trong xương.

"Dây."

Chốt vác cuộn dây chão xuống. Nó luồn dây qua nách bố, vòng ngang lưng, thắt nút ở giữa ngực — nút thợ, kéo càng mạnh càng chặt, nhưng giật đúng một đầu là bung.

"Chặt quá đấy con." Ông Nhợ nói.

Chốt nới ra một phân.

"Được rồi."

Đầu dây bên kia, ông Trưởng Cựu quấn hai vòng qua cái cọc gỗ đóng sẵn trên bờ, rồi giao cho bốn người phu khoẻ nhất giữ.

"Nghe đây." Ông Cựu nói với bốn người. "Ông ấy giơ tay lên thì kéo. Ông ấy không giơ thì đừng kéo. Kéo sớm là hỏng cả."

"Kéo muộn thì sao ạ?" Rào hỏi.

Ông Cựu quay lại nhìn nó. Ông nhìn hơi lâu.

"Thì cũng hỏng."

"Vậy biết đường nào mà lần."

"Biết đấy. Ông ấy giơ tay thì kéo." Ông Cựu gõ đầu gậy xuống mặt đất hai cái. "Bốn thằng nghe rõ chưa. Rõ khổ, cái này tôi nói ba lần rồi."

"Rõ ạ."

Chốt kiểm lại nút thắt ở ngực bố lần nữa. Nó luồn ngón trỏ vào giữa dây và da, thấy lọt vừa một ngón, đúng như bố dạy: lọt hai ngón thì tuột, không lọt ngón nào thì tức ngực, mà tức ngực dưới nước là chết.

Ông Nhợ lội xuống. Nước tới thắt lưng.

Việc đầu tiên ông làm không phải là tìm cái rò. Ông cầm cái thuổng, xắn vào chân tường gạch phía trong đồng, moi một hố sâu chừng khuỷu tay, moi thẳng vào thân đê chứ không moi xuống. Đất ở đấy khô hơn, chặt hơn, và có màu vàng sẫm của đất đắp từ chân núi chở về.

Moi tới khi cả cánh tay ông thọc lọt vào trong thì ông dừng.

"Lõi." Ông nói, không quay lại.

Chốt hiểu. Trong sổ tay bố có một dòng ghi bằng chữ nôm nguệch ngoạc: *phải chạm được vào lõi khô, chạm vào đất ướt thì vô ích.*

Ông Nhợ thọc tay phải vào cái hố. Vai ông chìm xuống, mặt áp sát vào tường gạch. Tay trái ông ngửa ra, đưa xuống dưới mặt nước, tìm chỗ xoắn.

Rồi ông tìm được. Chốt biết là vì lưng bố nó bỗng thẳng ra.

Trên bờ không ai nói gì. Mười một người phu, một ông trưởng cựu, và một thằng bé mười bảy tuổi đứng giữ đầu dây, tất cả cùng nhìn xuống một cái lưng trần đang chìm nửa dưới nước.

Chỗ nước xoắn ngừng xoắn.

Nó không nhỏ dần. Nó dừng, đột ngột, như có ai đó vừa đặt bàn tay lên trên. Mặt nước phẳng ra, và cái màu nước gạo đục ngầu bắt đầu lắng, từ giữa lắng ra.

Ông Nhợ bắt đầu run.

Không phải run vì lạnh. Cái run này đi từ trong ra, chạy dọc theo sống lưng ông rồi tán ra hai bên vai, và mỗi lần nó chạy qua thì hai bàn tay ông lại ấn sâu thêm một chút — một tay vào đất khô, một tay vào nước.

Chốt đếm nhịp thở. Đây là việc của nó. Bố dạy nó đếm từ năm mười bốn, và bảo rằng đếm thì không để biết được bao lâu — đếm là để tay chân có việc mà làm.

Ba mươi nhịp.

Bảy mươi nhịp.

Tới nhịp thứ chín mươi mốt thì ông Nhợ giơ tay trái lên khỏi mặt nước.

"Kéo!"

Bốn người phu ngả người ra sau. Dây chão căng lên, nước bật thành một vệt trắng dọc theo sợi dây, và ông Nhợ trôi ngược về phía bờ, cả người mềm ra như bao tải ướt.

Họ lôi ông lên bậc đất thứ ba. Ông Trưởng Cựu quỳ xuống, lật ngửa ông ra, áp tai vào ngực.

"Còn thở. Lấy áo đắp vào."

Chốt chạy đi lấy cái áo nâu gấp tư trên phiến đá. Khi nó quay lại thì bố nó đã ngồi dậy được, hai tay chống ra sau, đầu cúi, thở từng hơi ngắn.

"Nước." Ông Nhợ nói.

Người ta đưa ông cái gáo. Ông uống hai ngụm, rồi đổ chỗ còn lại lên gáy.

Sau đó ông đứng lên. Ông đứng lên được, tự đứng, không vịn ai. Ông xỏ tay vào áo, cài hai cái khuy trên cùng, rồi nhìn xuống chân cống.

Chỗ nước xoắn không còn nữa. Mặt nước trong đồng phẳng lì, và ở đúng chỗ ấy có một mảng nước trong hơn xung quanh, trong tới mức nhìn thấy cả sạn dưới đáy.

"Xong rồi." Ông Cựu nói. "Về thôi ông."

"Ừ."

Đoàn phu đi trước, vác sọt, nói chuyện đã to trở lại. Trời bắt đầu bạc ở phía cuối đê.

Ông Nhợ đi sau cùng với Chốt. Ông đi chậm, nhưng ông đi đều, và đi được non nửa dặm thì ông còn hỏi chuyện.

"Mày đếm được bao nhiêu?"

"Chín mươi mốt ạ."

"Lần trước bao nhiêu?"

"Bảy mươi tư."

Ông Nhợ gật. Ông không nói lần này lâu hơn nghĩa là gì, và Chốt không hỏi.

"Cái sổ của tao để trong hòm, dưới đáy, gói vải điều."

"Con biết."

"Trang thứ mười một có bốn hàng tiếng. Mày thuộc rồi."

"Vâng."

"Trang mười hai chưa ghi gì. Mày ghi vào đấy."

Chốt quay sang. Bố nó vẫn đi, mắt nhìn thẳng về phía trước, tay phải hơi cong lại như còn đang giữ cái gì.

"Ghi gì hả bố?"

"Chỗ nào mày nghe được. Ghi cỡ tiếng với ghi mốc. Đừng ghi năm."

Tới dốc đê chỗ rẽ xuống làng thì ông Nhợ dừng lại.

Ông không ngã ngay. Ông dừng, đứng thẳng, một tay đưa lên sờ vào hõm cổ bên trái. Ngón tay ông rê dọc theo xương đòn, chậm, từng chỗ một, cái cách người ta đếm tiền lẻ trong túi mà không nhìn.

Ngón tay ông dừng lại ở gần đầu vai.

"Ba mươi mốt." Ông nói.

Rồi ông ngồi xuống. Không phải ngã — ngồi, hai đầu gối gập lại, một tay chống xuống mặt cỏ. Ông ngồi như người vừa đi xa về và tìm được chỗ nghỉ.

"Bố."

"Ừ."

"Bố có sao không?"

Ông Nhợ ngẩng lên nhìn nó. Trời đã sáng đủ để Chốt nhìn rõ mặt bố: mặt ông không tái, không nhăn, không có gì cả. Ông chỉ trông như một người vừa làm xong một ngày công.

"Về bảo u mày là chỗ cống xong rồi."

"Bố đứng dậy được không?"

"Bảo u mày cái đã."

Chốt quay đầu, gọi với lên phía đoàn phu đang đi trên đê. Ông Trưởng Cựu nghe tiếng, quay lại, và bắt đầu chạy — chạy thật, kéo lê cái chân trái, chống gậy thúc xuống mặt đê từng nhịp.

Khi Chốt quay lại thì bố nó đã nằm nghiêng trên cỏ, một tay vẫn đặt ở hõm cổ.

Chốt quỳ xuống, gỡ bàn tay ấy ra, và đặt ngón tay mình vào đúng chỗ ngón tay bố vừa dừng.

Dưới da, xương đòn nổi lên một dãy khấc, cái nọ cách cái kia nửa đốt ngón tay út.

Cái khấc cuối cùng, cái ngoài rìa nhất, không nhẵn như những cái khác. Nó nứt dọc, và trong khe nứt ấy có một sợi chỉ máu rất mảnh đang khô lại.