Chương 1: Tờ hóa đơn 1,8 triệu trong ngăn kéo bàn khám

Thuộc tiểu thuyết Phòng Khám Cuối Con Hẻm Một Mét Tư

Tác giả: · Thể loại: Đô Thị · Đăng ngày · 2138 từ · khoảng 11 phút đọc

3 giờ sáng ngày 8 tháng 9, Trần Hoài Sơn thức giấc.

Anh không cần đồng hồ báo thức. Anh ngồi dậy, bóng tối trong căn nhà cuối hẻm đặc quánh, chỉ có tiếng nước kênh Đôi vỗ bì bõm vào mấy cây cọc bê tông dưới sàn nhà sau. Sau hai giờ sáng, anh không bao giờ ngủ lại được nữa.

Anh bật chiếc đèn bàn duy nhất ở gian ngoài. Ánh sáng vàng vọt hắt lên bộ đồ nghề đặt trên bàn khám. Sơn cầm chiếc khăn mặt sạch, bắt đầu lau. Anh mở bộ panh tiểu phẫu, đếm đủ năm món rồi gấp tấm vải bọc lại. Kìm cầm máu inox được xếp riêng thành một hàng. Chỉ khâu còn đúng ba sợi trong bao nilon kín. Gạc tiệt trùng còn hai xấp dày. Anh bước đến góc tường, vặn thử van bình oxy nhỏ, nghe tiếng xì nhẹ rồi khóa lại ngay lập tức. Bình thứ hai cũng đầy áp suất. Anh quấn băng quấn của máy đo huyết áp quanh bắp tay trái, bóp bóng bơm thử một lần rồi xả hơi. Sơn mở cánh tủ gỗ phía dưới, nhìn vào khoảng trống ở ngăn thứ ba. Đáng lẽ ở đó phải có một thứ máy khác. Anh nhìn chăm chừng năm giây rồi đóng cửa tủ lại.

Đây là ngày đầu tiên phòng khám mở cửa.

Sơn bước ra sân sau, đứng trên khoảnh xi măng nhỏ giáp mặt nước. Dòng kênh đen ngòm đang dâng lên theo con nước lớn. Anh nhẩm tính trong đầu: 210 triệu đồng tiền vay của chị gái, mỗi tháng phải trả 8,75 triệu. Giá thuê căn nhà nát cuối hẻm này chỉ bằng một phần ba ngoài mặt đường lớn, đó là lý do duy nhất anh đủ sức bám trụ. Sơn nhìn dòng nước trôi, đôi bàn tay đan vào nhau, ngón cái miết nhẹ lên những vết chai.

Bảy giờ sáng, Sơn treo tấm biển nhựa ra trước cửa.

Tấm biển nhỏ, nền trắng chữ xanh đơn điệu, ghi rất ít chữ: PHÒNG KHÁM CHUYÊN KHOA NGOẠI — BS. TRẦN HOÀI SƠN. So với những bảng đèn hiệu nhấp nháy đủ màu ngoài mặt đường lớn, nó trông lọt thỏm và khiêm nhường đến mức dễ bị bỏ qua.

Con hẻm rộng một mét tư bắt đầu cựa mình. Bốn giờ sáng, quán cà phê vợt đầu hẻm đã lạch cạch tiếng muỗng khua. Sáu giờ, tiếng máy may gia công từ một căn nhà gần đó bắt đầu chạy đều đều. Bảy giờ, tiếng loa phát thanh nhà ai đó vang lên bản tin sáng. Tám giờ, tiếng người gọi nhau í ới qua vách tường mỏng nghe rõ mồn một.

Sơn ngồi sau bàn khám, mở cuốn sổ trắng. Cột số lượt khám vẫn là con số không.

Một người đàn ông bán vé số dạo dắt chiếc xe đạp cũ ghé vào. Ông không nhìn bảng hiệu, chỉ tấp xe sát vách để né cái nắng bắt đầu gắt. Ông lau mồ hôi trán, nhìn Sơn: "Cho tui ngồi nhờ một chút cho mát nghen chú bác sĩ. Mua giùm tui mấy tờ mở hàng đi." Sơn lắc đầu. Anh đứng dậy, rót một ly nước lọc đưa cho ông lão. Ông uống cạn, cảm ơn một tiếng rồi dắt xe đi tiếp.

Một người mẹ dắt đứa nhỏ đi học ngang qua. Đứa trẻ khựng lại, chỉ tay vào bảng hiệu đọc to từng chữ: "Phòng... khám... bác... sĩ... Sơn". Người mẹ không nhìn vào trong, tay kéo mạnh vai nó: "Đi lẹ đi con, trễ giờ rồi."

Lúc chín giờ, một người đàn ông trung niên dừng lại hỏi: "Có bán thuốc đau đầu không chú? Bán cho hai liều uống liền." Sơn ngẩng lên: "Ở đây tôi khám bệnh chứ không bán lẻ thuốc như tiệm thuốc tây." Người đàn ông ngẩn ra: "Ủa, chớ bác sĩ không có sẵn thuốc hả?" Sơn lặp lại: "Tôi không bán lẻ." Người đó lắc đầu, quay lưng bước sang phía tiệm bà Tư Cúc.

Sơn cúi xuống, ghi vào cuốn sổ trắng thêm một lần nữa. Con số vẫn là không.

Cách đó mười mét, chú Bảy Đực đang loay hoay dựng chân chống chiếc xe ba gác. Chú đứng khựng lại. Tay trái chú chống chặt lên đầu gối bên trái. Bước chân bên phải của chú ngắn hơn bên còn lại hẳn một gang tay. Chú phải vịn tay vào cánh cửa sắt rỉ sét mới lết được vào thềm. Mất đúng hai phút chú mới đứng thẳng người lên được. Sơn đứng bật dậy. Anh nhìn cái lưng gù của chú Bảy, rồi anh từ từ ngồi xuống.

"Mở cửa rồi hả chú bác sĩ?"

Bà Tư Cúc ngồi trước tiệm tạp hoá đầu hẻm, tay cầm tờ lịch cũ quạt lấy quạt để. Cái tiệm của bả chất đầy những thùng mì gói và lốc nước ngọt sát ra tận lối đi. Trong tủ kính nhỏ, những hũ kẹo lạc và thuốc lá xếp chồng lên nhau. Một cuốn sổ ghi nợ bìa xanh đặt ngay cạnh chỗ bà ngồi trên cái ghế đá cũ. Có một người đàn ông đang ngồi đó hút thuốc.

"Thằng Hai nhà bà Năm đi nghĩa vụ về rồi đó, mà nghe đâu nó đòi đi Bình Dương làm công nhân," bà Tư nói vọng vào trong với người khách. "Nó chưa nói với bà Năm đâu, tui nghe nó tính với thằng bạn lúc nãy."

Người đàn ông gật gù, rít một hơi thuốc. Sơn đi ngang qua, anh nghe hết nhưng không quay đầu lại.

"Dạ, dì Tư." Sơn đáp khi đã về tới cửa.

"Cái hẻm này nghèo thì nghèo chớ người ta ít bệnh lắm. Có đau bụng nhức đầu gì ra tui bán cho liều thuốc là xong hà." Bà Tư cười, giọng sang sảng. "Chứ máy móc không có, ai dám vô."

Sơn không nói gì, cúi xuống ghi chép. Hai giờ chiều. Không khí đặc quánh vì hơi nóng và mùi sình.

Một người đàn bà trẻ bế đứa nhỏ chạy lướt qua tiệm bà Tư Cúc, theo sau là một bà cụ tóc bạc. Họ dừng lại trước cửa phòng khám để đứng nghỉ. Sơn nhìn đứa trẻ từ phía sau bàn khám trong vài giây. Con bé gục hẳn trên vai mẹ. Hai cánh tay nó buông thõng, đung đưa theo từng bước chân của người mẹ như không còn xương. Mí mắt nó nhắm nghiền nhưng không khép chặt, lộ ra một khoảng trắng đờ đẫn. Nhịp thở của nó rất nhanh, ngực phập phồng gấp gáp dưới lớp áo mỏng. Môi con bé nhợt nhạt, hơi tím lại.

Sơn đứng dậy. Anh bước ra cửa.

"Đưa tôi coi."

Người mẹ giật mình, lùi lại một bước: "Gì chú? Con tui hết sốt rồi, đang bế nó về nằm nghỉ."

Sơn không đợi trả lời. Anh bước tới, cầm lấy bàn tay nhỏ xíu của đứa trẻ. Tay nó lạnh ngắt, hơi ẩm. Anh ấn nhẹ vào móng tay con bé, nhẩm đếm: một, hai, ba. Ba giây sau, màu hồng mới từ từ quay lại trên móng. Anh vén vạt áo con bé lên, nhìn lướt qua vùng bụng đang chướng nhẹ. Anh dùng hai ngón tay sờ dọc từ khuỷu tay xuống đến cổ tay nó, rồi so sánh nhanh với tay bên kia.

"Sốt từ hôm nào?"

"Dạ... dạ thứ Sáu tuần trước."

"Hết sốt chính xác lúc mấy giờ?"

"Chín giờ sáng nay."

"Từ sáng tới giờ nó đi tiểu mấy lần?"

"Hình như... không lần nào."

"Nó có kêu đau bụng không?"

Người mẹ lắp bắp: "Dạ có, nó than đau từ lúc trưa tới giờ không ngớt."

Bà cụ phía sau la lên: "Chú nói bậy! Ngoài Nhân Hòa người ta có máy móc, có siêu âm, có xét nghiệm đủ hết. Người ta nói không sao, uống thuốc xong mới hết sốt sáng nay mà sốc gì? Chú ở đây có cái gì mà đòi coi?"

Sơn không cãi lại. Anh lặng lẽ quay sang tủ thuốc lấy một chai nước muối sinh lý và cái muỗng nhỏ. Anh không truyền dịch. Anh múc từng muỗng nước, kề vào môi con bé. Tay anh giữ nhịp đều đặn.

"Sốt lui rồi mới là lúc nguy. Phải đi bệnh viện. Đi liền." Sơn nói, mắt vẫn không rời đứa trẻ. "Bà sờ tay nó đi. Bà sờ đi rồi nói. Ngày thứ tư, hết sốt mới là lúc nó chết."

"Nhưng..."

"Chú Bảy! Chú Bảy ơi! Đẩy ba gác ra giùm tôi!"

Tiếng gọi đầy uy lực vang dội cả con hẻm nhỏ. Chú Bảy Đực đang thiu thiu ngủ bên hiên nhà, nghe tiếng gọi thì giật nảy mình. Chú nhìn gương mặt lạnh lùng của Sơn rồi nhìn đứa nhỏ, không hỏi thêm câu nào, kéo tuột chiếc ba gác ra giữa hẻm.

Sơn bế con bé chạy ra. Từ cửa phòng khám tới khúc cua thứ nhất là sáu mươi bước chân. Sơn chạy trước, chú Bảy kéo xe theo sát phía sau. Người mẹ lạch bạch chạy theo không kịp, tay xách cái bịch nilon đựng đầy giấy tờ. Bà cụ vừa đi vừa gào lên. Khúc cua thứ nhất có một chiếc xe máy dựng chắn ngang, Sơn nghiêng người lách qua mà không giảm tốc độ. Khúc cua thứ hai có một vũng nước lớn đọng lại do triều lên, Sơn nhảy vọt qua bục thềm nhà dân để tránh bùn. Một mái tôn thấp chìa ra giữa hẻm suýt quẹt vào đầu, anh phải cúi thấp người xuống nhưng hai tay vẫn giữ chặt đứa nhỏ. Nước kênh dâng tràn mặt lộ làm anh trượt chân, nhưng vòng tay vẫn giữ nguyên vị trí đầu thấp cho con bé.

Ra tới đầu đường lớn, chú Bảy đã chờ sẵn bên chiếc ba gác. Chú lấy một tấm chiếu rách lót lên sàn ván. Sơn đặt con bé nằm xuống, xoay đầu nó về hướng mũi xe. Chú Bảy vội vàng dùng sợi dây thừng buộc lại cái thành xe bên phải cho chắc chắn trước khi nổ máy. Sơn nắm lấy vai người mẹ, ấn bà ngồi xuống cạnh con.

"Lên giữ tay nó. Thấy nó trợn mắt hay gồng người thì hét lên liền. Nghe chưa?"

Người mẹ gật đầu liên hồi. Chiếc ba gác máy nổ giòn, phun ra làn khói khét lẹt rồi lao đi.

Trời sập tối nhanh chóng.

Sơn đi bộ về lại phòng khám. Đôi ống quần blouse dính đầy sình đen của kênh Đôi. Vai anh mỏi nhừ. Dưới ánh đèn đường vàng đục đầu hẻm, anh chợt nhớ ra mảnh giấy trong túi áo.

Đó là một tờ hóa đơn nhiệt đã hơi nhăn nheo. Một góc giấy bị nhiệt làm bay mất chữ, chỉ còn lại vệt trắng mờ. Những nếp gập nát nhừ vì đã nằm rất lâu dưới đáy bịch nilon. Dấu mộc đỏ đóng lệch hẳn sang một bên, che mất một phần tên phòng khám. Mặt sau tờ giấy in lem nhem hình quảng cáo của một hãng sữa.

Anh nhớ lại lúc người mẹ dốc ngược cái bịch nilon ấy ra ở đầu đường lớn để tìm thẻ bảo hiểm. Trong đó có hàng chục tờ giấy đủ loại. Những đơn thuốc cũ nát từ hai năm trước vẫn còn giữ lại. Có cả những tờ kết quả xét nghiệm đã ố vàng từ năm ngoái. Tất cả được vuốt phẳng rồi lại vo tròn, nhét chung với tiền lẻ và chìa khóa.

Sơn vuốt phẳng tờ hóa đơn trên tay, đọc từng dòng dưới ánh đèn đường. Khám bệnh: một trăm năm mươi ngàn. Siêu âm bụng: ba trăm ngàn. Xét nghiệm máu: bốn trăm ngàn. Các loại thuốc bổ và hạ sốt: chín trăm năm mươi ngàn. Tổng cộng: một triệu tám trăm ngàn đồng.

Một triệu tám trăm ngàn. Con số này bằng đúng chín ngày công chạy ba gác của chú Bảy.

Anh về tới cửa phòng khám. Tiệm tạp hoá bà Tư Cúc vẫn mở đèn, bà Tư vẫn ngồi đó, quạt lịch phạch phạch.

"Đứa nhỏ sao rồi chú bác sĩ?" Bà hỏi, giọng nhỏ hơn mọi khi.

"Tới kịp." Sơn trả lời cộc lốc.

Anh bước vào nhà, không bật đèn chính. Trong bóng tối, anh rút tờ hóa đơn 1,8 triệu bỏ vào ngăn kéo bàn khám. Tiếng nước kênh Đôi vẫn vỗ đều dưới sàn nhà, âm thanh đều đặn và lạnh lẽo.

Sơn đóng cửa lại. Tiếng then cài sắt va vào nhau nghe đanh và gọn. Cả con hẻm chìm vào sự im lặng của một đêm triều cường sắp tới.