Chương 28: Mắt Lưới Thủy Âm

Thuộc tiểu thuyết Pháo Đài Phượng Hoàng 1982

Tác giả: · Thể loại: Khoa Huyễn · Đăng ngày · 2162 từ · khoảng 11 phút đọc

Trung tâm tác chiến thông tin trên soái hạm chỉ huy USS Blue Ridge chìm trong ánh sáng xanh tím ngả sang xám tro.

Nhiệt độ phòng máy giữ cố định ở mức mười tám độ C. Mức nhiệt này bảo vệ các dàn máy tính bán dẫn và màn hình radar cỡ lớn. Tiếng gió điều hòa rì rào đều đặn quyện với mùi giấy in điện báo và cà phê đen sực nức.

Đại tá Robert Vance tỳ hai bàn tay xuống mép bàn hải đồ điện tử. Áo sơ mi quân chủng màu kem phẳng nếp. Ve áo gắn quân hàm Đại tá mạ vàng. Mặt kim loại hắt ánh sáng lân tinh từ màn hình.

Màn hình vệ tinh hạm đội hiện thông điệp khẩn cấp. Từng ký tự đỏ rực từ tàu khu trục USS Fletcher sáng lên liên tục:

*HAMMERHEAD BỊ TẤN CÔNG BỞI NGƯ LÔI DẪN ÂM LẠ. KẸT CÁNH LÁI ĐUÔI. ĐÃ XẢ KÉT NỔI KHẨN CẤP TẠI TỌA ĐỘ HÒN ÉN. FLETCHER ĐANG TĂNG TỐC 30 HẢI LÝ CAN THIỆP.*

"Cái gì?"

Sĩ quan tác chiến đứng cạnh Vance đánh rơi chiếc bút chì định vị xuống mặt bàn mica. Viên Trung tá hải quân trợn ngược chân mày:

"Hammerhead bị ngư lôi đánh trúng? Tàu ngầm hạt nhân tấn công nhanh lớp Sturgeon bị ép nổi lên mặt nước? Lại do một lực lượng phòng thủ ven bờ làm được? Chuyện này trái với mọi báo cáo kỹ thuật!"

Robert Vance không đáp lời. Ánh mắt ông ta gắn chặt vào dòng thông báo trên màn huỳnh quang.

Bàn tay cầm cốc sứ của viên Đại tá siết nhẹ lại. Những diễn biến rời rạc suốt mấy tháng qua tự động chắp nối thành một chuỗi sự kiện mạch lạc. Vụ nổ bệ nung titan ở đất Cảng. Chiếc xuồng ngụy trang lướt qua bãi rạn san hô. Cái chết của toán biệt kích ngầm tại bãi cạn.

Đối thủ của ông ta trên hòn đảo đá vôi hoang vu kia không phải là lực lượng thông thường.

Bên kia chiến tuyến là một bộ phận kỹ thuật lão luyện. Họ sở hữu các giải pháp chế tạo vũ khí dã chiến hiệu quả và nguy hiểm.

"Thưa Đại tá," viên sĩ quan tác chiến lên tiếng, nhịp thở dồn dập. "USS Fletcher đang cách Hòn Én mười hai hải lý. Thuyền trưởng tàu Fletcher xin lệnh nổ súng. Họ muốn dùng pháo hạm một trăm hai mươi bảy ly để chế áp mặt nước, yểm trợ kéo Hammerhead ra vùng biển quốc tế."

"Chưa được bắn tràn lan," Vance ngắt lời, âm vực hạ thấp. "Hải phận quanh Hòn Én dày đặc rạn đá ngầm. Đối phương dùng xuồng composite góc vát tán xạ sóng và động cơ phụt nước ngập nông. Nếu dùng radar mặt nước và pháo hạm bắn vào sương đêm, ta chỉ tốn đạn. Điều đó còn làm lộ đội hình tác chiến."

Vance bước lại phía chiếc tủ tài liệu tuyệt mật gắn khóa số cơ học ở vách sau. Ông ta xoay đĩa số ba vòng. Một tập hồ sơ dày bọc bìa da xám hiện ra, mang dấu niêm phong đỏ của Cơ quan Nghiên cứu Quốc phòng DARPA.

Ông ta đặt tập hồ sơ lên mặt bàn kính:

"Chuyển kênh điện báo bảo mật cấp một cho tàu khu trục USS Fletcher. Ra lệnh cho họ kích hoạt Thiết bị Thử nghiệm Đặc biệt Số Ba."

Viên sĩ quan tác chiến nhìn chăm chú vào tập hồ sơ:

"Ngài muốn dùng nguyên mẫu sonar mảng kéo TACTAS của cơ quan nghiên cứu quốc phòng? Khí tài này mới được chuyển từ căn cứ San Diego sang tuần trước để thử nghiệm môi trường nhiệt đới. Các kỹ sư dân sự đi cùng tàu còn chưa kịp hoàn tất quy trình hiệu chuẩn thực địa!"

"Không cần chờ thêm buổi hiệu chuẩn nào nữa," Vance gõ đầu ngón tay xuống mặt bàn. "Đây chính là bãi thử thực tế hoàn hảo nhất. Chiếc xuồng của đối phương dùng hệ thống bọt khí tro trấu để đánh lừa đầu dò âm học của ngư lôi Mk 48. Sonar ở thân tàu Fletcher và Hammerhead không nhìn xuyên qua lớp bọt xốp. Góc quét của chúng bị tầng nước mặt ấm chặn đứng. Nhưng mảng kéo thì khác."

Vance lật giở trang sơ đồ cấu tạo mảng kéo sợi quang học:

"Mảng kéo này dài một ngàn hai trăm mét, bọc cáp sợi tổng hợp chứa dầu silicon giảm chấn và hàng trăm đầu thu thủy âm bằng gốm áp điện siêu nhạy. Tời thủy lực của Fletcher có thể thả nó chìm sâu một trăm năm mươi mét dưới mặt nước. Nó sẽ luồn xuống dưới tầng nhiệt nghịch đảo của vịnh Bắc Bộ. Ở độ sâu đó, không có tiếng ồn chân vịt của Fletcher làm nhiễu, cũng không có lớp bọt khí mặt biển che mắt. Toàn bộ dao động cơ học dưới đáy vực Hòn Én sẽ bị phát hiện."

Vance ngước nhìn hải đồ, giọng đanh lại:

"Tôi muốn giữ nguyên vẹn con thuyền đó cùng toàn bộ kíp lái. Tôi muốn biết ai là kẻ đứng sau những bản vẽ này."

* * *

Ngoài khơi Hòn Én, tiếng rền của động cơ tuabin khí bắt đầu lan tới từ phía chân trời đông nam.

Tàu khu trục USS Fletcher có lượng choán nước gần chín ngàn tấn. Con tàu rẽ sóng lao tới với tốc độ ba mươi hải lý một giờ. Mũi tàu sắc nhọn chém vào ngọn sóng, hất tung những mảng bọt trắng xóa cao ngang sàn boong pháo tự động.

Ở đuôi tàu, giàn tời thủy lực cỡ lớn bắt đầu quay rù rì.

Một sợi cáp thép bọc sợi aramid to bằng bắp tay nhả dần ra khỏi tang cuốn. Cáp kéo thả đầu ngậm âm học nặng hơn hai tấn xuống nước. Dải ống thu thủy âm dài hơn một cây số chìm dần vào lòng biển đen ngòm.

Bên trong buồng trinh sát của Fletcher, hai chuyên viên kỹ thuật đeo tai nghe cách âm. Mắt họ dán chặt vào màn hình quang phổ thời gian thực. Tín hiệu truyền qua đường cáp quang gửi về từng xung sóng nhịp nhàng.

Dưới độ sâu một trăm năm mươi mét, dải cảm biến duỗi thẳng ra theo trục di chuyển của tàu khu trục.

Nó biến thành chiếc lưới thủy âm khổng lồ lướt dưới tầng nước lạnh. Mọi dao động âm thanh trong bán kính mười lăm hải lý đều bị rà soát. Tiếng quẫy đuôi của cá nổi hay tiếng sỏi đá va chạm dưới đáy đều hiện rõ. Chúng biến thành các vệt phổ sắc nét trên màn hình.

Trên bầu trời mờ sương, chiếc trực thăng Seasprite cất cánh từ sàn sau. Chiếc máy bay lượn vòng trên không trung. Những quả phao thủy âm chủ động hình trụ bắt đầu rơi rải rác xuống các luồng lách quanh đảo Phượng Hoàng.

Trong ca-bin chiếc xuồng Hải Yến 2, không khí ngột ngạt bao trùm.

Giang ghìm chặt vô lăng. Anh lái xuồng nép sát vào chân vách đá dựng đứng của hòn Tai Mèo. Thân xuồng lướt chậm ở chế độ tiết kiệm nhiên liệu. Xuồng chuẩn bị cơ động quay trở lại âu thuyền ngầm Hang Đầm Phá. Mùi dầu diesel cháy chưa hết quyện với hơi nước mặn chát tràn qua khe cửa gió.

Mai Vy ngồi thẳng lưng trước giá máy đo. Đôi tai cô lắng nghe từng chuyển động của biển qua cảm biến thạch anh.

Mặt kính dao động ký bỗng xuất hiện một chuỗi tín hiệu bất thường.

Không có tiếng nổ lớn. Không có tiếng rít chân vịt xé nước quen thuộc.

Trên dải tần số thấp từ mười đến hai mươi héc, các đường quét răng lược xuất hiện dày đặc. Chúng đan cài vào nhau như mạng nhện chụp xuống vịnh biển.

*Tè... tè... tè... vút!*

Những xung âm thanh cực trầm có chu kỳ ba giây dội qua màng thu. Tấm màng nhôm máy thu rung lên bần bật.

Mai Vy ghì chặt mép bàn máy. Các đốt ngón tay cô trắng bệch.

Cô nhìn trân trân vào các vạch chia quang học trên thước đo tần số. Các dữ liệu phân tích vật lý âm học chạy dồn dập qua tâm trí cô. Dải tần số quét này mang đặc tính định hướng hẹp. Nó chỉ xuất hiện ở các thiết bị mảng pha kỹ thuật số khẩu độ tổng hợp.

Gương mặt cô tái đi trước phát hiện bất ngờ:

"Không thể nào... Đây là tín hiệu mảng pha đa kênh kéo sau đuôi tàu. Dải tần số siêu trầm mười lăm héc. Độ phân giải tín hiệu đạt tới mức tách biệt được từng chấn động cơ khí nhỏ nhất của vỏ tàu!"

Giang ngoái đầu nhìn cô, phát hiện vẻ căng thẳng tột độ trong ánh mắt Mai Vy:

"Có chuyện gì vậy Vy? Tàu khu trục đối phương phóng thêm ngư lôi à?"

"Không phải ngư lôi," Mai Vy hạ giọng, nhịp thở đứt quãng dưới áp lực vô hình. "Đây là mảng kéo thủy âm khẩu độ tổng hợp TACTAS. Khí tài sợi quang học của hạm đội đối phương!"

Giang nhíu mày, tay siết chặt cần ga phụt nước:

"Hệ thống đó hoạt động ra sao?"

Mai Vy hướng ánh mắt ra màn đêm mù mịt ngoài cửa kính. Cảm giác chông chênh ập tới đè nặng lồng ngực.

Trong kho dữ liệu thế kỷ hai mươi ba tại Viện Cơ giáp Lượng tử, khí tài này chỉ xuất hiện cuối thập niên tám mươi. Nơi thử nghiệm là vùng biển Bắc Đại Tây Dương. Năm 1982, tài liệu lịch sử chỉ ghi nhận sonar gắn ở mũi tàu. Đối phương khi ấy chỉ có phao âm đời cũ.

Sử liệu tương lai không hề ghi chép điều này. Không có dòng nào nhắc tới nguyên mẫu mảng kéo tại vùng biển nhiệt đới năm 1982.

Một sự sai lệch thực địa ngoài dự tính. Một khoảng trống tư liệu phát sinh ngay giữa ranh giới sinh tử.

Sử liệu sau hàng trăm năm luôn có những khoảng mù. Nhiều hồ sơ kỹ thuật quân sự thời Chiến tranh Lạnh chưa từng được công bố công khai. Đứng trước chiến trường thực tế, kho kiến thức tương lai không còn là tấm lá chắn che chở cho cô nữa. Mọi biến chuyển giờ đây phụ thuộc vào phản xạ sống còn của hiện tại.

Giang liếc nhìn kim đồng hồ đo vòng tua động cơ. Áp lực bơm nước phản lực đang duy trì ở mức ba trăm kilopascal. Vỏ xuồng composite phát ra những tiếng rung rè rè khi chấn động âm thanh tần số thấp liên tục va đập vào sống đáy. Đôi mắt anh căng ra, rà soát từng gờ đá ngầm nhô lên khỏi mép nước đen thẫm. Anh biết rõ từng luồng lạch quanh hòn Tai Mèo. Chỉ cần một tích tắc mất tập trung, đáy xuồng sẽ va vào đá ngầm trước khi đạn pháo kịp rơi trúng.

"Khí tài này không quét ở tầng nước mặt," Mai Vy giải thích nhanh, cố giữ giọng bình tĩnh. "Cáp kéo của họ đang chìm sâu một trăm năm mươi mét dưới đáy vực. Bức tường bọt khí tro trấu của chúng ta chỉ ngăn được sonar mặt biển. Mảng kéo này nằm lọt thỏm dưới tầng nhiệt nghịch đảo. Nó bắt trọn xung dao động từ vỏ xuồng từ cự ly mười hải lý!"

Giang cắn chặt môi, mắt quét nhanh qua hải đồ địa hình rạn san hô:

"Nghĩa là vị trí của chúng ta đã bị lộ hoàn toàn?"

"Họ chưa xác định được góc ngắm bắn trực tiếp vì đáy biển ở đây nhiều hốc đá," Vy đáp, hai mắt dán chặt vào đường quét quang phổ. "Nhưng họ đã khóa chặt vùng tọa độ di chuyển của xuồng. Họ sẽ dùng pháo hạm bắn phủ diện tích để ép chúng ta rời khỏi vách đá che chắn."

Lời cảnh báo của Mai Vy vừa dứt thì từ phía chân trời xa thẳm, hai vệt sáng chói lòa bùng lên, kèm theo âm thanh rền vang như sấm sét:

*ĐÙNG! ĐÙNG!*

Hai quả đạn pháo một trăm hai mươi bảy ly bắn từ tháp mũi tàu USS Fletcher. Đạn rít qua tầng mây thấp, vạch hai vệt lửa đỏ rực rồi đâm sầm xuống mặt biển cách xuồng năm trăm mét.

Cột nước khổng lồ dựng đứng giữa đêm. Ánh chớp pháo hắt lên vách đá vôi Hòn Én một màu đỏ quạch. Sóng xung kích đập mạnh vào mạn xuồng composite, hất đuôi xuồng chao đảo dữ dội giữa dòng nước xoáy.