Chương 59: Bóng Ma Dưới Lạch Ngầm

Thuộc tiểu thuyết Pháo Đài Phượng Hoàng 1982

Tác giả: · Thể loại: Khoa Huyễn · Đăng ngày · 2092 từ · khoảng 10 phút đọc

Sương mù mùa xuân giăng dải lụa xám tro trên mặt vịnh Bái Tử Long. Đêm tối mịt mùng. Mặt biển phẳng lặng. Những đợt sóng ngầm cuộn tròn dưới đáy lườn xuồng cao tốc Hải Yến Hai.

Trước giờ xuất kích, không khí trong gian phòng kỹ thuật K-82 rất khẩn trương. Mai Vy khoác áo bông ấm, ngồi bên bàn đo kiểm. Cô dùng đồng hồ ôm kế đo điện trở cách điện của cuộn dây cáp đồng trục nối với cụm cảm biến tro trấu. Cảm biến này gồm mười hai phiến gốm áp điện nén chặt từ tro trấu carbon hóa, có khả năng bắt các dao động âm thanh cực nhỏ dưới đáy nước. Cấu trúc xốp tổ ong của tro trấu bẫy trọn các tạp âm tần số cao của sóng gió mặt biển, chỉ để lọt dải tần siêu trầm dưới mười hertz đi qua các phiến thạch anh áp điện.

"Độ cách điện đạt yêu cầu," Mai Vy ngẩng đầu dặn Giang. "Dòng hải lưu ở lạch Hòn Mắt sâu và lạnh. Tầng nước sâu sáu mươi mét có độ mặn cao, làm khúc xạ chùm sóng âm hướng xuống đáy. Khi thả cảm biến, anh nhớ hạ đúng tầm mười lăm mét để nằm trọn trong kênh dẫn âm tự nhiên. Bộ lọc thông thấp này sẽ lọc sạch tiếng sóng vỗ, giúp anh nghe rõ từng nhịp chân vịt kim loại dưới sâu."

Giang nhận cuộn dây cáp từ tay vợ. Anh kiểm tra kỹ hộp pin ắc quy mười hai vôn dự phòng. Hai chiến sĩ trinh sát chuyển các hộp đồ nghề chuyên dụng lên sàn xuồng.

"Anh nhớ rồi," Giang nói. "Em ở nhà giữ ấm, đừng thức khuya quá."

Chiếc xuồng Hải Yến Hai rời bến ngầm trong đêm tối. Xuồng trôi dạt chậm rãi qua lạch nước sâu phía đông Hòn Mắt. Động cơ diesel tắt ngấm. Mọi ánh đèn trên boong đều bị che chắn cẩn thận bằng các tấm bạt sơn đen.

Cụm cảm biến tro trấu được thả chìm ở độ sâu mười lăm mét dưới đáy xuồng. Sợi cáp đồng trục bọc thép nối thẳng lên máy phân tích phổ âm thanh hai kênh đặt ở khoang lái.

Giang đứng ở khoang lái. Hai tay anh bám vào mép thành kính chống đạn. Anh đeo tai nghe bọc nỉ, mắt dõi ra khoảng tối ngoài mặt vịnh.

Bên cạnh anh, chiến sĩ trắc thủ thủy âm trẻ tuổi cẩn thận xoay núm điều chỉnh bộ lọc dải thông tần số thấp.

Những âm thanh quen thuộc của đáy biển truyền về tai nghe. Tiếng lách tách của đàn tôm gõ càng dưới rạn đá vôi vang lên đều đặn. Tiếng róc rách của dòng hải lưu lạnh len lỏi qua các khe nứt hoa cương.

Bỗng nhiên, một âm thanh trầm đục lạ lùng xuất hiện trong màng nhĩ Giang.

Tiếng động phát ra ngắt quãng nhưng có chu kỳ lặp lại đều đặn. Nó không phải tiếng đuôi cá voi hay sóng vỗ bờ đá. Đó là tiếng nước bị chém rẽ bởi những cánh kim loại quay chậm trong lòng biển sâu.

Trắc thủ thủy âm khẽ giật mình. Ngón tay anh khựng lại trên núm chỉnh tần số.

"Báo cáo chỉ huy, có mục tiêu cơ động dưới đáy lạch ngầm," trắc thủ nói nhỏ. "Tần số cơ bản sáu phẩy sáu hertz."

Giang lập tức ghé sát tai nghe: "Ghi âm vào băng từ ngay. Đọc góc phương vị."

"Phương vị một trăm hai mươi độ, cự ly ước tính ba hải lý, độ sâu chừng sáu mươi mét," trắc thủ đọc từng thông số. "Tần số quay khoảng tám mươi vòng một phút. Số cánh chân vịt là năm lá."

Ở phía bên kia đường phân định trên biển Đông, căn cứ hải quân Guam lúc này đã sang nửa đêm.

Đại tá Robert Vance đứng nhìn báo cáo tuần thám của phi đội máy bay trinh sát EP-3E. Bức ảnh chụp từ vệ tinh hồng ngoại khu vực Bạch Long Vĩ không cho thấy dấu vết của căn cứ ngầm hay tàu ngầm neo đậu. Ba chiếc phao phát sóng vi ba trước đó đã cạn pin và im bặt, để lại những mảnh thùng đạn trôi dạt trên biển.

Vance ném tập tài liệu xuống bàn kính: "Chúng ta bị lừa rồi. Đó chỉ là những chiếc thùng đạn gắn máy phát xung nhử mồi của đối phương!"

Viên trung tá phụ tá đứng nghiêm: "Thưa Đại tá, họ đã đánh lạc hướng lực lượng trinh sát của chúng ta suốt bốn ngày đêm."

"Họ làm mồi nhử ở Bạch Long Vĩ để che giấu một hoạt động vận tải lớn ở phía bắc," Vance chống tay lên bản đồ. Mắt ông ta nheo lại nhìn vào cụm đảo Vạn Hoa và Cô Tô. "Xưởng đóng tàu ngầm của họ nằm ở vùng biển đá vôi quanh đảo Vạn Hoa. Máy bay không tìm thấy vì họ nấp dưới hang ngầm. Nhưng tàu ngầm của chúng ta có thể lặn sâu vào tận cửa ngõ của họ."

Vance quay sang bàn liên lạc đặc biệt: "Bật mã hóa vệ tinh. Gửi mệnh lệnh khẩn cho tàu ngầm diesel USS Grayback đang tuần tra bí mật ở rìa tây vịnh Bắc Bộ."

Viên phụ tá ghi nhận mệnh lệnh. Tàu ngầm Grayback được lệnh lặn sâu sáu mươi mét, luồn vào lạch ngầm Hòn Mắt. Nhiệm vụ của nó là rải ba thiết bị ghi âm thủy âm đáy biển cắm cọc vào rạn đá ngoài cửa vịnh. Thiết bị này sẽ thu lại tiếng ồn động cơ của bất kỳ con tàu nào ra vào. Nếu phát hiện thấy vỏ tàu kim loại chuyển động ngầm, Grayback được phép bám đuôi và khóa mục tiêu.

Dưới đáy lạch ngầm Hòn Mắt, dòng nước biển đen thẫm lạnh buốt.

Con tàu ngầm diesel-điện của đối phương dài gần chín mươi mét lừ lừ trườn đi giữa hai vách đá hoa cương dựng đứng dưới đáy biển. Thân tàu màu đen kịt bám đầy rêu biển. Chân vịt năm lá lớn bằng đồng niken quay chậm rãi ở tốc độ tám mươi vòng một phút để giảm tiếng ồn xâm thực.

Trên boong xuồng Hải Yến Hai, không khí căng thẳng bao trùm.

Tiếng chân vịt tàu ngầm đối phương mỗi lúc một rõ hơn trong tai nghe của Giang. Con tàu ngầm dưới đáy biển đang từ từ tiến vào họng kìm của lạch ngầm, chỉ cách vị trí xuồng thả trôi chưa đầy hai hải lý.

"Chỉ huy, nó đang bật sonar chủ động quét dải hẹp," trắc thủ thì thầm.

Trong tai nghe, xen lẫn tiếng chân vịt là những tiếng phát xung the thé vang lên từng chùm ngắn. Sóng âm tần số cao phát ra từ mũi tàu ngầm đối phương quét dọc theo các rãnh đá ngầm dưới đáy biển. Nó vẽ bản đồ luồng lạch và tìm kiếm chướng ngại vật kim loại.

Nếu chùm sóng sonar đó quét trúng thân xuồng Hải Yến Hai hoặc dây cáp treo cảm biến gốm, sóng dội lại sẽ lập tức hiện rõ mục tiêu trên màn hình của tàu ngầm đối phương. Với trang bị ngư lôi dẫn đường âm học hiện đại, con tàu đối phương có thể phóng đòn tiêu diệt chiếc xuồng trinh sát rất nhanh chóng.

"Có nên nổ máy rút lui không chỉ huy?" chiến sĩ lái xuồng hỏi. Tay anh đặt sẵn lên cần khởi động.

"Không được nổ máy," Giang xua tay ngăn lại. "Khởi động động cơ diesel lúc này rất nguy hiểm. Tiếng máy nổ sẽ làm lộ vị trí của chúng ta ngay."

"Vậy làm sao tránh sóng sonar của nó?"

Giang nhìn nhanh địa hình xung quanh qua kính nhìn đêm dã chiến. Cách mũi xuồng năm mươi mét là mỏm đá ngầm Hòn Mắt nhô lên khỏi mặt nước. Dưới chân mỏm đá là một rạn san hô cổ thụ và hốc đá hoa cương ăn sâu vào lòng vách núi.

"Dùng sào tre đẩy xuồng áp sát vào khe đá Hòn Mắt," Giang ra lệnh. "Hạ neo bọc cao su cắm sâu vào kẽ đá. Thả nổi dây cáp sonar tro trấu nép sát chân rạn san hô."

Bốn chiến sĩ trinh sát phối hợp nhịp nhàng. Họ giữ trật tự im lặng. Họ không dùng mái chèo khua nước để tránh tạo bọt khí. Hai cây sào tre dài bọc đầu bằng đệm vải bố được cắm nhẹ nhàng vào vách đá ngầm. Từng chút một, thân xuồng lướt nhẹ luồn vào vùng nước lặng dưới hàm ếch của tảng đá hoa cương.

Chiếc neo sắt bọc cao su lưu hóa được thả từ từ xuống khe nứt. Nó giữ chặt con xuồng không bị dòng hải lưu cuốn trôi.

Mỏm đá hoa cương Hòn Mắt dày hàng chục mét đóng vai trò như bức tường chắn âm tự nhiên. Chùm sóng sonar của tàu ngầm đối phương quét qua mặt ngoài vách đá, bị cấu trúc đá vôi xốp và rạn san hô tán xạ thành những tiếng vọng rải rác. Chiếc xuồng nằm lọt thỏm trong vùng bóng âm an toàn.

Ở độ sâu sáu mươi mét, con tàu ngầm lướt qua chân rãnh ngầm ngay bên dưới vị trí xuồng Hải Yến Hai.

Khoảng cách rất gần. Giang cảm nhận rõ độ rung cơ học truyền qua nền đá dưới chân mình.

Cuộn băng từ trong máy thu thủy âm quay đều đặn. Đầu từ ghi lại từng giây âm thanh quý giá. Tiếng rung ổ trục chân vịt, tiếng nước chảy qua cửa xả khoang dằn, và dải tần số đặc trưng của máy phát điện diesel phụ trợ hiện lên rõ nét.

Trắc thủ ghi chép cẩn thận. Động cơ phụ trợ của tàu ngầm phát ra dải âm tần số sáu mươi hertz và các họa ba bậc cao ở một trăm hai mươi hertz. Đây là chữ ký âm học điển hình của dòng tàu ngầm diesel tấn công lớp Barbel.

Mười lăm phút sau, chiếc tàu ngầm đối phương hoàn tất việc thả ba cụm cảm biến đáy biển ngoài cửa rạn ngầm. Nó từ từ bẻ lái hướng mũi ra vùng nước sâu quốc tế. Tiếng chân vịt năm lá lịm dần dưới đáy sâu. Sóng biển đêm lại vỗ nhịp vào vách đá Hòn Mắt.

Chiến sĩ trắc thủ thở phào nhẹ nhõm. Anh quẹt giọt mồ hôi trên trán.

"Báo cáo chỉ huy, tàu ngầm đối phương đã rút lui ra ngoài khơi," trắc thủ báo cáo. "Toàn bộ tín hiệu âm học đã được ghi trọn vẹn vào băng từ."

Giang tháo tai nghe. Anh ngước nhìn bầu trời đêm đông bắc đang dần chuyển sang màu tím thẫm của buổi rạng đông. Gió sớm bắt đầu thổi tan màn sương mù trên mặt vịnh.

"Thu hồi cảm biến tro trấu, nhổ neo," Giang ra lệnh. "Cho xuồng nổ máy nấc nhỏ chạy men theo luồng lạch phía trong về hang K-82. Cuộn băng từ này là chiếc chìa khóa quý giá để kỹ sư Mai Vy nạp vào bộ não sonar của Phượng Hoàng Đen."

Chiếc neo cao su được kéo lên sàn tàu êm ả. Động cơ diesel nổ máy ở chế độ giảm âm. Chiếc xuồng rẽ sóng sớm lướt đi trong sự tĩnh lặng của vịnh biển.

Giang cất cuộn băng từ vào hộp kim loại chống ẩm. Tiếng máy nổ nhỏ của xuồng rẽ sóng đưa kíp trinh sát trở về cửa âu ngầm K-82 khi ánh bình minh bắt đầu rạng trên mép biển.

Bác Bảy và Mai Vy đã đứng đợi sẵn trên cầu cảng ngầm để tiếp nhận tài liệu quý giá. Ngay tại bàn máy kỹ thuật, Mai Vy lắp cuộn băng từ vào đầu đọc băng của máy phân tích phổ. Vệt sáng màu xanh lục trên màn hình máy hiện sóng nhảy múa theo từng nhịp chân vịt năm lá. Đỉnh xung tần số sáu phẩy sáu hertz cùng các họa ba bậc cao hiện lên sắc nét, trùng khớp với đặc trưng kỹ thuật của tàu ngầm lớp Barbel. Tọa độ của ba chiếc cảm biến cắm cọc đáy biển cũng được đánh dấu chính xác bằng mực đỏ trên hải đồ tác chiến, sẵn sàng cho phương án đối phó của căn cứ K-82.