Chương 62: Màn Sương Nhiễu Sóng
Thuộc tiểu thuyết Pháo Đài Phượng Hoàng 1982
Tác giả: Hà Tinh Vân · Thể loại: Khoa Huyễn · Đăng ngày · 2106 từ · khoảng 11 phút đọc
Gió mùa đông bắc tràn về vịnh Lan Hạ. Gió mang theo mưa phùn dầm dề. Mây mù xám xịt sà thấp xuống lưng chừng núi đá vôi. Trên đỉnh Cao Vọng, đài quan sát trinh sát kỹ thuật rung lên từng hồi trong gió giật.
Bên trong gian hầm đá, chiếc máy thu vô tuyến sóng ngắn R-105 của Liên Xô phát tiếng rít chói tai. Không còn tiếng tút tút của mã Morse từ đất liền gửi ra. Thay vào đó là tràng tiếng rít liên tục, lẫn trong tiếng rào rào như thác đổ.
Chiến sĩ thông tin trẻ toát mồ hôi. Tay anh xoay liên tục các núm điều chỉnh tần số từ ba đến ba mươi megahertz. Nhưng ở dải sóng nào, kim đồng hồ cường độ tín hiệu cũng vọt kịch kim về phía vạch đỏ.
"Báo cáo chỉ huy, toàn bộ dải sóng ngắn và cực ngắn đều bị nghẽn," chiến sĩ thông tin tháo tai nghe. "Tín hiệu từ Sở chỉ huy Quân chủng ở Hải Phòng bị cắt đứt suốt sáu tiếng rồi."
Giang khoác áo bông đứng cạnh bàn máy. Lông mày anh nhíu chặt lại. Anh bước lại gần chiếc máy hiện sóng hai tia.
Màn hình huỳnh quang của máy hiện sóng không còn đường quét ngang thẳng. Toàn bộ màn hình bị phủ kín bởi dải nhiễu tuyết dày đặc. Các chấm sáng nhấp nháy liên hồi với biên độ lớn.
"Đây là đòn gây nhiễu rải thảm," Mai Vy nói nhỏ. Cô bước vào từ gian hầm trong. Tay cô cầm cốc tráng men đựng nước chè ấm. Cô mặc chiếc áo len dày, quàng thêm tấm khăn dạ màu tro. Bụng cô đã nhô tròn ở tháng thứ tư thai kỳ. Cô chăm chú nhìn vào vệt sóng nhiễu trên màn hình.
Mai Vy đặt cốc lên bàn. Cô chỉ ngón tay vào dải phổ tần số: "Đối phương không nhắm vào một tần số cụ thể. Họ phát xung công suất lớn trên toàn bộ dải sóng từ hai mươi đến năm mươi megahertz. Đây là kiểu gây nhiễu trắng của máy bay trinh sát điện tử."
Ở phía bên kia bờ biển, trên không phận quốc tế cách đảo năm mươi hải lý, hai chiếc máy bay EP-3E Aries II của Hải quân Mỹ đang lượn vòng theo hình số tám ở độ cao chín nghìn mét.
Bụng máy bay mang theo những khối ăng-ten lồi chứa hệ thống máy phát gây nhiễu ALQ-99. Các máy phát công suất hàng chục kilôoát liên tục phóng ra những chùm sóng vô tuyến hình quạt quét dọc toàn bộ bờ biển vịnh Bắc Bộ.
Tại căn cứ Guam, Đại tá Robert Vance theo dõi đường bay của phi đội EP-3E qua màn hình radar trung tâm.
Viên trung tá phụ tá báo cáo hệ thống gây nhiễu chủ động ALQ-99 đã hoạt động liên tục tám giờ. Toàn bộ các trạm liên lạc sóng ngắn của đối phương tại khu vực Hải Phòng, Quảng Ninh và quần đảo Cô Tô đều bị phong tỏa. Phía Việt Nam không thể truyền hay nhận bức điện tín nào qua sóng vô tuyến.
Vance gõ tẩu thuốc xuống khay đồng: "Rất tốt. Cắt đứt dây thần kinh liên lạc của một căn cứ tiền tiêu là bước đầu tiên để bẻ gãy ý chí của họ. Khi bị cô lập thông tin giữa mùa biển động, họ sẽ hoang mang, không thể phối hợp tác chiến với đất liền. Xưởng đóng tàu ngầm của họ sẽ phải đình trệ vì thiếu chỉ thị và vật tư."
Vance quay sang phụ tá: "Duy trì hai máy bay EP-3E bay tuần tiễu gây nhiễu liên tục trong mười lăm ngày tới. Không để lọt một tín hiệu sóng vô tuyến nào qua mắt lưới của chúng ta."
Tại hầm đá đỉnh Cao Vọng, không khí im ắng. Tiếng mưa rơi lộp bộp trên mái bạt ngụy trang hòa cùng tiếng gió rít qua khe đá.
"Nếu mất liên lạc vô tuyến, việc vận tải biển tiếp tế cho căn cứ sẽ gặp nguy hiểm," Giang nhìn sang Mai Vy. "Tuần này chúng ta có một chuyến tàu gỗ bí mật chở dàn ắc quy kiềm niken-cadmium và vật tư quân y từ đất liền ra đảo. Nếu không nhận được điện tín thông báo tọa độ luồng lạch an toàn, tàu tiếp tế có thể đâm vào bãi đá ngầm hoặc rơi vào ổ phục kích của tàu tuần tra địch."
Bác Bảy từ bến cảng ngầm trèo lên đỉnh núi, bước vào hầm đá: "Có cách nào dùng máy phát sóng công suất lớn của trạm radar đỉnh núi để đè bẹp sóng nhiễu của chúng không cô Vy?"
Mai Vy lắc đầu: "Không được đâu bác Bảy. Máy phát ALQ-99 của máy bay Mỹ có công suất rất lớn, lại phát từ độ cao chín nghìn mét. Máy phát dã chiến của chúng ta công suất nhỏ hơn nhiều. Càng tăng công suất thì càng làm lộ vị trí đỉnh núi cho tên lửa chống bức xạ của chúng ngắm bắn."
"Vậy chúng ta chịu để chúng bịt mắt bịt tai sao?" Chú Tấn sốt ruột hỏi.
"Chúng ta không dùng sóng vô tuyến nữa," Mai Vy mỉm cười. "Vance có thể gây nhiễu sóng điện từ trong khí quyển, nhưng ông ta không thể gây nhiễu được một chùm tia sáng định hướng."
Giang quay sang nhìn vợ: "Ý em là dùng thông tin quang học?"
"Đúng vậy," Mai Vy bước lại bàn làm việc, mở cuốn sổ tay quang học. "Ánh sáng thực chất cũng là sóng điện từ, nhưng bước sóng của nó ngắn hơn sóng vô tuyến hàng triệu lần. Máy phát nhiễu của máy bay EP-3E hoàn toàn bất lực trước chùm tia sáng khả kiến và tia hồng ngoại."
Mai Vy phác nhanh sơ đồ lắp ráp: "Chúng ta sẽ chế tạo hệ thống thông tin quang học laser dã chiến. Ở kho vật tư cảng ngầm có chiếc đèn pha rọi biển cao áp một nghìn oát của tàu tuần tra cũ. Chúng ta tháo bóng đèn xenon đó ra, bọc lớp kính lọc quang học thạch anh để chỉ cho tia hồng ngoại bước sóng tám trăm năm mươi nanômét đi qua. Sau đó lắp nguồn sáng hồng ngoại này vào đúng tiêu cự của chiếc kính thiên văn phản xạ đường kính hai trăm milimét ở trạm khí tượng."
Mắt Giang sáng lên: "Kính thiên văn phản xạ sẽ gom chùm tia hồng ngoại thành luồng sáng hẹp, chiếu thẳng sang trạm tiếp nhận mà không bị phân tán năng lượng!"
"Chính xác," Mai Vy gật đầu. "Khoảng cách từ đỉnh Cao Vọng sang đài quan sát trên đảo Cát Bà là hai mươi lăm hải lý. Với độ mở chùm tia hẹp, chùm tia hồng ngoại vô hình sẽ chiếu thẳng vào ống kính máy thu ở Cát Bà. Chúng cháu gắn một công tắc bán dẫn tốc độ cao vào mạch cấp nguồn đèn xenon. Khi trắc thủ gõ phím mooc-xơ, công tắc sẽ ngắt mở dòng điện tạo ra các chùm xung hồng ngoại mã hóa."
"Đèn hồng ngoại mắt thường không nhìn thấy được," bác Bảy vỗ tay. "Máy bay trinh sát địch trên trời không thấy ánh sáng, máy thu radar của chúng cũng mù tịt!"
Giang lập tức ra lệnh cho kíp thợ bắt tay làm ngay. Anh phân công chú Tấn xuống kho cảng lấy đèn pha xenon và kính thiên văn phản xạ, đồng thời yêu cầu kíp thông tin chuẩn bị phím điện báo tốc độ cao.
Suốt buổi chiều hôm đó, hầm đá đỉnh Cao Vọng trở thành xưởng chế tạo quang học. Mai Vy ngồi bên bàn ghép, mài nhẵn phiến thạch anh quang học bằng bột kim cương mịn để làm kính lọc hồng ngoại. Bác Bảy và chú Tấn dùng máy tiện cơ khí tiện các vành gá bằng đồng thau, định vị bóng đèn xenon vào tiêu điểm gương cầu phản xạ của kính thiên văn.
Mai Vy gắn thêm một thấu kính Fresnel phụ trợ phía trước để chuẩn trực chùm tia. Cô dùng đồng hồ đo dòng điện kiểm tra tốc độ đóng ngắt của transistor công suất. Mỗi giây mạch có thể đóng mở năm mươi lần, thừa sức truyền các chuỗi xung Morse tốc độ cao.
Đến tám giờ tối, hệ thống thông tin quang học dã chiến hoàn thành.
Chiếc kính thiên văn màu xám thép đặt trên giá ba chân bằng gỗ nghiến kiên cố. Nòng kính hướng qua khe cửa hầm trắc địa về phía tây nam.
Giang ghé mắt vào kính ngắm quang học. Anh căn chỉnh góc phương vị và góc ngẩng theo đúng tọa độ của đài quan sát Cát Bà ghi trên hải đồ. Một chấm sáng mờ từ chiếc đèn pin định vị của đồng đội bên Cát Bà hiện lên giữa tâm chữ thập của kính ngắm.
"Đã bắt đúng tiêu điểm trạm Cát Bà," Giang thông báo.
Mai Vy bước lại gần. Cô kiểm tra khối công tắc bán dẫn điều chế xung. Cô đưa phím mooc-xơ bằng đồng cho chiến sĩ thông tin.
"Phát bức điện thử nghiệm," Mai Vy nói.
Chiến sĩ thông tin đặt ngón tay lên phím đồng, gõ nhịp nhàng: "Tạch... tè... tạch... tè..."
Bóng đèn xenon phát ra những chùm xung hồng ngoại vô hình, bắn thẳng qua màn mưa phùn mùa xuân xuyên qua khoảng cách hai mươi lăm hải lý hướng về đảo Cát Bà.
Mười phút trôi qua trong im lặng hồi hộp. Gió bấc rít từng cơn qua vách đá.
Bỗng nhiên, qua thị kính của kính thiên văn phản xạ, một chấm sáng màu hồng nhạt nhấp nháy đáp lại từ phía chân trời đảo Cát Bà.
Chiến sĩ thông tin áp mắt vào kính ngắm, đọc to từng ký tự mã hóa: "Trạm Cát Bà... nhận rõ tín hiệu... thông tin quang học hoạt động rất tốt... chuẩn bị nhận bức điện chỉ đạo từ Bộ Tư lệnh..."
Tiếng cười vui rộn lên trong gian hầm đá đỉnh Cao Vọng. Giang đặt tay lên vai Mai Vy, nét mặt rạng rỡ niềm vui.
"Thành công rồi em ơi!" Giang nói. "Kênh liên lạc quang học đã thông suốt!"
Mai Vy mỉm cười. Ánh sáng nhấp nháy từ chấm hồng ngoại xa xăm phản chiếu trong mắt cô.
Chiến sĩ thông tin tiếp tục gõ phím mooc-xơ. Từng dòng mật mã truyền đi thông số điều động tọa độ luồng lạch cho chuyến tàu tiếp tế đêm.
Nửa giờ sau, chấm sáng hồng ngoại từ trạm Cát Bà nhấp nháy phát lại bức điện hỏa tốc của Bộ Tư lệnh Hải quân.
Chiến sĩ thông tin cặm cụi ghi từng nhóm số vào cuốn sổ mật mã, rồi trao bản dịch cho Giang.
Bức điện nêu rõ: "Chuyến tàu vận tải gỗ mật danh T-82 do thuyền trưởng Thắng chỉ huy đã rời bến Bính lúc mười tám giờ. Trên tàu chở khối ắc quy kiềm niken-cadmium ba trăm vôn, vật tư quân y và kỹ sư trẻ Lâm của Viện Kỹ thuật Quân sự chi viện cho Căn cứ K-82. Dự kiến tàu cập vùng biển phía đông đảo Vạn Hoa lúc rạng sáng mai. Yêu cầu căn cứ tổ chức đón tàu an toàn trong điều kiện biển động."
Giang đọc xong bức điện, gập lại đưa cho Mai Vy: "Kỹ sư Lâm là người trực tiếp tham gia đề tài nghiên cứu ắc quy kiềm với em đúng không?"
"Đúng anh ạ," Mai Vy mừng rỡ gật đầu. "Lâm là kỹ sư trẻ rất giỏi về hóa lý điện cực. Có Lâm ra tăng cường, việc đấu nối và hiệu chỉnh dàn ắc quy cho tàu ngầm Phượng Hoàng Đen sẽ nhanh hơn rất nhiều."
Giang quay sang dặn dò kíp thợ và phân đội trinh sát: "Biển đêm mai sóng to gió lớn. Máy bay địch lại đang lượn vòng ngoài khơi. Đêm mai anh sẽ đích thân chỉ huy hai xuồng Hải Yến đón tàu T-82 ở ngoài luồng Hòn Mắt."
Chú Tấn lau sạch những hạt sương muối đọng trên giá đỡ kính thiên văn. Đêm Vạn Hoa trôi êm trong tiếng gõ phím điện báo lách cách đều đặn của người lính thông tin. Luồng sáng quang học vô hình vẫn âm thầm canh giữ nhịp đập thông tin thông suốt giữa đất liền và hải đảo tiền tiêu.