Chương 74: Đánh Tráo Tiếng Vọng

Thuộc tiểu thuyết Pháo Đài Phượng Hoàng 1982

Tác giả: · Thể loại: Khoa Huyễn · Đăng ngày · 2596 từ · khoảng 13 phút đọc

Đêm mười ba tháng Tư năm một chín tám hai, ngọn đèn tròn trên trần phòng thí nghiệm điện tử của căn cứ K-82 tỏa ánh sáng vàng ấm xuống chiếc bàn gỗ dài. Trên mặt bàn, cụm đầu thu thủy âm bốn hướng và bộ mạch lọc tần số của quả phao Mỹ AN/SSQ-53A đã được tháo rời. Chúng được nối dây trực tiếp vào máy hiện sóng hai tia.

Mai Vy cầm cây bút chì vẽ một biểu đồ hình sin có ba đỉnh nhọn lên tấm bảng đen dựng ở góc phòng. Bên dưới bàn, Trần Đức Giang, chú Tấn, Hai Thuận, kỹ sư Lâm và Đồn trưởng Hoàng Văn Nam đang chăm chú theo dõi.

"Qua phân tích mạch điện tử của quả phao thu được chiều qua, chúng ta đã nắm được nguyên tắc của chúng," Mai Vy chỉ đầu bút vào ba đỉnh sóng trên bảng. "Hàng rào săn ngầm mà Đại tá Vance giăng ra có quy luật riêng. Hệ thống máy tính trên máy bay P-3C Orion không nghe toàn bộ âm thanh của biển cả. Nó chỉ tìm kiếm tổ hợp ba tần số đặc trưng của một chiếc tàu ngầm đang di chuyển."

Cô gõ nhẹ vào đỉnh sóng thứ nhất:

"Thứ nhất là tần số bốn mươi tám héc. Đây là tiếng dòng nước xoáy thoát ra từ ống đẩy hoặc chân vịt. Thứ hai là tần số một trăm hai mươi héc của ổ bi trục chính và động cơ điện. Thứ ba là tiếng lách cách ngắt quãng của rơ-le điều khiển cánh lái thủy lực. Khi một quả phao thu được đồng thời ba tần số này, nó sẽ đánh dấu đó là mục tiêu thật. Sau đó nó lập tức báo động cho toàn bộ phi đội."

Hai Thuận gãi đầu. Ông hỏi:

"Vậy bây giờ mình làm sao để bịt tai sáu mươi mấy quả phao đó hả cô Vy? Hay là mình chế máy phát sóng gây nhiễu làm điếc luôn kênh vô tuyến của tụi nó?"

"Không dùng máy gây nhiễu vô tuyến được đâu anh Thuận," kỹ sư Lâm lắc đầu. Anh giải thích thêm: "Nếu chúng ta phát sóng gây nhiễu làm trắng màn hình của máy bay Mỹ, chúng sẽ sinh nghi ngay. Chúng biết khu vực bị nhiễu chính là nơi có tàu của ta. Thay vì làm điếc tai địch, chị Vy định chế tạo những chiếc mồi nhử. Chúng sẽ phát ra âm thanh dưới nước giống hệt một chiếc tàu ngầm đang chạy."

"Đúng vậy," Mai Vy gật đầu. Cô mở tờ giấy vẽ thiết kế cơ khí vừa phác thảo xong trải lên bàn. "Chúng ta sẽ chế tạo sáu thiết bị mồi nhử âm học tự hành. Tên gọi tắt là thùng phát âm M-82. Mỗi thiết bị làm bằng một vỏ bình khí nén hình ngư lôi nhỏ dài một mét hai, đường kính hai mươi phân. Bên trong lắp một bình ắc quy chì hai mươi bốn vôn và một motor điện nhỏ. Motor này quay cánh quạt tạo bọt nước ở đuôi, kết hợp với một màng loa gốm áp điện gắn sát vỏ thép."

Chú Tấn cầm tờ bản vẽ lên xem kỹ. Ông vuốt râu hỏi lại:

"Cái motor nhỏ và cái loa gốm bé bằng bàn tay này làm sao tạo ra được tiếng động trầm và nặng như một chiếc tàu ngầm hàng trăm tấn hả cháu?"

"Dưới nước, máy thu sonar không phân biệt được kích thước vật lý của nguồn phát," Mai Vy giải thích. "Điều kiện cần là chúng ta tái tạo đúng biên độ và phổ tần số cộng hưởng. Vỏ bình khí nén bằng thép rỗng của chúng ta sẽ đóng vai trò như một thùng đàn cộng hưởng âm học dưới nước. Chú Lâm sẽ lắp một mạch dao động đa hài bằng bóng bán dẫn. Mạch này phát ra đúng hai tần số bốn mươi tám héc và một trăm hai mươi héc truyền thẳng vào màng gốm áp điện. Cùng lúc đó, một búa gõ cơ khí nhỏ gắn trên trục motor sẽ gõ nhẹ vào vách trong cứ mỗi mười giây một nhịp. Tiếng gõ đó giả làm tiếng van thủy lực đóng mở."

Trần Đức Giang nhìn vào tấm hải đồ cửa vịnh Bắc Bộ. Mắt anh sáng lên. Thế trận đã hiện rõ:

"Sáu thùng mồi nhử này sẽ được ghép thành ba cặp. Mỗi cặp cách nhau một trăm mét để giả làm hiệu ứng âm thanh nổi của một thân tàu dài. Nhưng chúng ta thả chúng ở đâu để kéo bọn máy bay P-3C Orion và tàu khu trục của Vance đi xa luồng hành quân của Phượng Hoàng Đen nhất?"

Đồn trưởng Hoàng Văn Nam đứng bật dậy. Anh chỉ ngón tay trỏ vào một vùng nước xoáy nằm ở phía đông bắc đảo Bạch Long Vĩ. Vị trí này cách cửa lạch Vạn Hoa hơn ba mươi hải lý:

"Chỗ này đây anh Giang! Đây là rãnh hải lưu Cồn Nhạn. Vào mùa gió nồm tháng Tư, ở độ sâu hai mươi mét tại khu vực này có một dòng chảy ngầm rất mạnh. Nó hướng thẳng từ trong vịnh lao ra vùng biển sâu phía đông nam. Tốc độ dòng chảy khoảng bốn hải lý một giờ. Tàu đánh cá của xã đội sẽ mang sáu cái thùng phát âm của cô Vy thả xuống đầu nguồn dòng chảy này. Nếu chỉnh cho cái motor đuôi chạy thêm hai hải lý một giờ nữa, cả sáu cái thùng sẽ trôi băng băng qua hàng rào phao của Mỹ với tốc độ đúng sáu hải lý một giờ!"

"Sáu hải lý một giờ là tốc độ hành trình ngầm kinh điển của tàu ngầm chiến thuật!" Giang đập tay xuống bàn. "Hơn nữa hướng trôi của dòng chảy Cồn Nhạn lại dẫn thẳng về phía bãi đá ngầm Hòn Hải ở phía đông. Khi đàn phao DIFAR ở cánh phía đông của Mỹ bắt được tín hiệu của mục tiêu giả đang vượt rào, Vance sẽ mắc bẫy. Ông ta chắc chắn sẽ điều máy bay P-3C và tàu săn ngầm ở cánh phía tây dồn sang vây bắt. Lúc đó, cánh cửa phía tây nam sẽ mở toang cho Phượng Hoàng Đen đi qua!"

"Phương án tác chiến đã rõ!" Giang quay sang nhìn toàn ban kỹ thuật. "Chúng ta chỉ có ba mươi sáu giờ để chế tạo xong sáu thùng mồi nhử M-82. Toàn xưởng bắt tay vào việc ngay trong đêm nay!"

Không một ai bảo ai, cả phòng họp lập tức tỏa về các vị trí sản xuất.

Dưới xưởng cơ khí, Tư Râu và bốn thợ hàn trẻ lăn sáu chiếc vỏ bình đựng khí oxy cũ ra giữa sàn. Bình đã hết hạn sử dụng. Những chiếc bình thép hình trụ tròn trịa được cắt bỏ phần cổ van hẹp. Thợ tiện tiến hành tiện ren trong để lắp một nắp bịt bằng đồng có gioăng cao su kín nước.

Chú Tấn và Hai Thuận đứng bên máy phay và máy tiện. Hai người gia công sáu cụm chân vịt ba lá nhỏ bằng gang và bộ hộp số giảm tốc. Chiếc thùng mồi nhử không được chìm xuống đáy biển mà cũng không được nổi phềnh lên mặt nước. Vì thế, bài toán khó nhất là cân bằng trọng lượng tĩnh ở độ sâu ba mươi mét.

Mai Vy đứng bên bể nước thử nghiệm ở góc xưởng. Tay cô cầm thước kẹp và cân đĩa cân từng miếng chì dằn. Cô tính toán thể tích nước biển bị chiếm chỗ của chiếc bình thép đến từng xăng-ti-mét khối. Sau đó, cô hướng dẫn chú Tấn gắn thêm một chiếc phao cân bằng áp suất nhỏ bằng ống xếp đồng ở mũi thùng.

Khi thùng mồi nhử chìm xuống đúng độ sâu ba mươi mét, áp suất nước biển sẽ ép ống xếp đồng lùi lại ba phân. Chuyển động đó đẩy cần gạt mở công tắc điện cho motor chân vịt và mạch phát âm bắt đầu hoạt động. Nhờ hai cánh vây nhỏ đặt hơi nghiêng ở hai bên sườn, lực đẩy của chân vịt sẽ giữ cho chiếc thùng thép lướt ngang ở độ sâu ba mươi mét. Nó sẽ trôi theo dòng hải lưu suốt sáu tiếng đồng hồ liền trước khi hết điện ắc quy.

Ở phòng điện tử, kỹ sư Lâm cùng hai chiến sĩ thông tin thức trắng đêm bên những mỏ hàn thiếc bốc khói thơm mùi nhựa thông. Từ những con tụ điện và bóng bán dẫn tháo ra từ các đài vô tuyến hỏng, Lâm lắp ráp sáu bộ tạo dao động âm tần kép.

Cần phải kiểm tra xem tiếng kêu của thùng mồi nhử có đánh lừa được thiết bị của Mỹ hay không. Mai Vy đã nghĩ ra một cách thử nghiệm trực tiếp. Cô cho thả chiếc đầu thu thủy âm của chính quả phao AN/SSQ-53A thu được xuống đáy âu thuyền K-82. Phần mạch điện tử của quả phao thì được nối vào màn hình hiện sóng trên bờ.

Chiều ngày mười bốn tháng Tư, chiếc thùng mồi nhử M-82 đầu tiên được sơn màu xám đen và thả xuống đầu bên kia âu đá. Vị trí thả cách đầu thu của quả phao Mỹ năm mươi mét.

Hai Thuận gạt cần mở van xả nước tạo dòng chảy trong âu. Chiếc thùng thép dài một mét hai từ từ chìm xuống độ sâu năm mét. Công tắc áp suất bật mở. Motor nhỏ ở đuôi thùng bắt đầu quay tít, đẩy chiếc thùng lướt đi dưới làn nước xanh thẫm.

Trên bờ âu thuyền, kỹ sư Lâm hồi hộp nhìn vào màn hình máy hiện sóng đang nối với bo mạch của quả phao Mỹ.

Chỉ ba giây sau khi thùng mồi nhử hoạt động, màn hình xanh lục của bộ phân tích Mỹ có phản ứng. Ba vạch phổ tần số ở mốc bốn mươi tám héc, một trăm hai mươi héc và dải âm va đập cơ khí đồng loạt dựng đứng lên. Đèn báo phát hiện mục tiêu tàu ngầm trên vỉ mạch của quả phao Mỹ nhấp nháy đỏ rực liên hồi!

Kỹ sư Lâm đeo tai nghe thủy âm vào. Anh lắng nghe một lúc rồi tháo ra đưa cho Trần Đức Giang và Hai Thuận:

"Anh Giang, anh Thuận nghe thử xem! Giống đến mức chính em làm ra nó mà nghe trong tai nghe còn tưởng có một chiếc tàu ngầm lớp Whiskey thật đang chạy dưới âu đá!"

Hai Thuận áp chiếc tai nghe vào một bên tai. Ông lắng nghe thật kỹ. Trong ống nghe vang lên tiếng nước bị chân vịt cắt qua trầm đục. Xen lẫn vào đó là tiếng rền đều đặn của động cơ điện và tiếng lách cách rất khẽ của van lái. Người thợ máy già vỗ đùi cười sảng khoái:

"Tài thật! Cái ống sắt rỗng kêu bằng cục gốm của cô Vy và chú Lâm mà nghe y hệt tiếng hầm máy tàu ngầm lớn! Quả này thì thằng cha đại tá Mỹ ngoài kia cứ gọi là tha hồ mà quăng lưới bắt gió!"

Đến nửa đêm ngày mười bốn tháng Tư, cả sáu thùng phát âm mồi nhử M-82 đều đã hoàn tất. Chúng vượt qua bài kiểm tra ngâm nước và hiệu chỉnh tần số. Mỗi chiếc thùng được cài đặt một bộ hẹn giờ cơ học bằng dây cót đồng hồ Liên Xô đã được tháo chuông. Bộ hẹn giờ chỉ đóng mạch điện sau khi thả xuống biển đúng ba tiếng đồng hồ.

Khoảng hai giờ sáng ngày mười lăm tháng Tư, sương mù dày đặc bao phủ mặt vịnh Bắc Bộ. Lợi dụng lúc biên đội máy bay P-3C Orion đang đổi ca trực, hai chiếc tàu đánh cá vỏ gỗ của phân đội dân quân xã đảo Vạn Hoa lặng lẽ rời bến. Đồn trưởng Hoàng Văn Nam trực tiếp chỉ huy chuyến đi này.

Sáu thùng mồi nhử M-82 được giấu kín dưới các khoang chứa đá lạnh ướp cá hồng và lưới cước. Trên boong tàu, các chiến sĩ biên phòng mặc áo tơi lá và đội nón mê. Trông họ giống hệt những ngư dân đang ra khơi đánh lưới vây đêm.

Trần Đức Giang và Mai Vy đứng trên mỏm đá đài quan sát cửa hang. Hai người nhìn theo ánh đèn dầu của hai chiếc thuyền gỗ khuất dần vào màn sương trắng đục. Gió lạnh ngoài khơi thổi tạt vào vách đá. Giang cởi chiếc áo khoác da lính thủy của mình choàng thêm lên vai vợ. Anh cài kín cúc cổ cho cô.

"Lần xuất kích đêm mai là chuyến đi biển đường trường thực chiến đầu tiên của Phượng Hoàng Đen," Giang nắm lấy bàn tay nhỏ ấm áp của Mai Vy. Giọng anh trầm và kiên quyết. "Hải trình kéo dài năm ngày qua vùng biển động, lại phải đối đầu trực tiếp với lưới săn ngầm của Hạm đội Bảy. Anh và bác sĩ Thành đã thống nhất rồi. Chuyến này em sẽ ở lại trung tâm chỉ huy K-82 để điều phối mạng lưới radar và thông tin liên lạc cho tàu. Ở dưới tàu đã có anh, anh Thuận, cậu Tuấn và chú Lâm đảm nhiệm toàn bộ các vị trí."

Mai Vy ngước nhìn chồng. Cô hiểu rõ tính chất khắc nghiệt của chuyến đi năm ngày đêm trong khoang sắt chật hẹp giữa mùa dông bão. Cô cũng biết sinh linh bốn tháng tuổi trong bụng mình cần được bảo vệ. Đứa bé không thể chịu đựng được những cú cơ động lặn gấp ở độ sâu tám mươi mét nếu xảy ra đụng độ. Một người kỹ sư trưởng biết lúc nào cần trực tiếp cầm lái, và lúc nào cần đứng ở sở chỉ huy hậu phương để giữ cho đầu não thông tin thông suốt.

"Em nghe lời anh," Mai Vy nhẹ nhàng đáp. Bàn tay cô siết chặt lấy tay chồng. "Hệ thống ống thở Snorkel, trạm tái tạo dưỡng khí zeolit và bảng tính con quay chú Lâm đều đã nắm vững quy trình vận hành. Em sẽ trực bên máy thông tin sóng cực dài ở hang ngầm suốt ngày đêm để dẫn đường cho anh và anh em vượt vây."

Đến rạng sáng, từ ngoài khơi xa ba mươi hải lý, chiếc máy bộ đàm sóng ngắn của Đồn trưởng Nam gửi về một chuỗi tín hiệu gõ ma-níp ngắn gọn. Hai chiếc thuyền cá đã tiếp cận đầu nguồn dòng chảy ngầm Cồn Nhạn. Họ đã thả trót lọt cả sáu thùng mồi nhử xuống độ sâu hai mươi mét. Bộ hẹn giờ đã bắt đầu đếm ngược.

Dưới âu thuyền K-82, công tác chuẩn bị xuất kích cho Phượng Hoàng Đen bước vào những khâu cuối cùng. Tư Râu và các chiến sĩ hậu cần đang chuyền tay nhau những thùng lương khô quân đội. Họ bê thêm những can nhựa đựng nước ngọt và mấy túi cam tươi từ trên cầu cảng xuống khoang tàu. Hai Thuận ngồi bên cạnh nắp hầm ắc quy. Tay ông cầm chiếc bút thử điện và cuốn sổ nhỏ, tỉ mẩn đo lại điện áp của từng cặp cực chì một lần cuối trước giờ mở cửa âu.