Chương 88: Bóng Cắt Dưới Cánh Bay
Thuộc tiểu thuyết Pháo Đài Phượng Hoàng 1982
Tác giả: Hà Tinh Vân · Thể loại: Khoa Huyễn · Đăng ngày · 2092 từ · khoảng 10 phút đọc
Sáu giờ hai mươi phút sáng, không khí bên trong khoang điều khiển trung tâm đặc quánh mùi dầu biến thế và hơi ẩm lạnh.
Mọi nguồn sáng huỳnh quang trần tàu đều được chuyển sang chế độ chiếu sáng tác chiến màu đỏ sẫm. Thứ ánh sáng màu máu hắt lên mặt các thủy thủ những nét căng thẳng tột độ. Không một ai nói to. Tiếng thở dốc của những người lính trẻ hòa lẫn vào tiếng ù ì rất nhỏ của quạt thông gió tuần hoàn khép kín.
"Khoảng cách máy bay địch bao nhiêu?" Giang ghé sát tai Lâm, hạ giọng hỏi.
"Bốn phẩy năm hải lý. Nó đang thu hẹp nhanh chóng," Lâm thì thào đáp. Một tay anh giữ chặt ốp tai nghe sonar bọc nỉ đen. "Nó bay zíc-zắc hình số 8 quét ngang luồng rãnh đá."
"Góc quét từ trường thế nào?" Giang tiếp tục hỏi dồn.
"Góc quét mở rộng ba mươi độ về phía đông nam," Lâm nhìn bảng đồng hồ.
Phía trên mặt biển cách đó 120 mét, chiếc P-3C số hiệu 402 thuộc phi đoàn VP-40 đang nghiêng cánh lướt qua những ngọn sóng xám đục. Bốn cụm cánh quạt tuốc-bin T56-A-14 gầm rú xé tan bầu không khí sau bão. Cần dò dị thường từ tính AN/ASQ-81 vươn dài ra sau đuôi máy bay như một chiếc que thử nhạy cảm.
Bên trong khoang tác chiến điện tử chật hẹp của chiếc P-3C, Trung úy trắc thủ Miller đeo kính cận dày cộp. Hai mắt anh ta dán chặt vào màn hình ống tia catốt và cuộn giấy ghi đồ thị từ trường.
"Độ nhạy cần dò đặt mức cực đại 0,1 gam-ma," Miller nói qua micro nội bộ máy bay. "Khu vực này có phay đứt gãy núi lửa ngầm. Tín hiệu nhiễu nền bazan nhảy lung tung từ mười lăm đến hai mươi gam-ma."
"Cứ quét kỹ từng ô cờ," giọng cơ trưởng vang lên từ buồng lái. "Tình báo Subic cảnh báo chiếc tàu ngầm vỏ titan của đối phương vừa mới hoàn tất nâng cấp. Nó có thể lợi dụng đợt bão vừa rồi để xuất kích thử nghiệm. Một khối kim loại bốn mươi mét di chuyển dưới nước chắc chắn sẽ bẻ cong đường sức từ trường của khu vực."
"Tôi đang tăng tốc độ cuộn giấy ghi," Miller đáp lời cơ trưởng.
Dưới đáy biển sâu, Trần Hải Giang cảm nhận từng nhịp rung động vô hình đang trùm xuống con tàu.
Trong tâm trí anh, Bộ Đồng Xử Lý Lượng Tử Não Bộ (Quantum Mental Coprocessor) đang hoạt động hết công suất. Không gian ba chiều của rãnh đứt gãy bazan Cồn Cỏ hiện lên với độ phân giải lượng tử cực cao. Từng vỉa đá bazan chứa quặng man-hê-tít màu xám sẫm hiện rõ mồn một. Từng vết nứt địa tầng kiến tạo nghiêng 45 độ hiển thị với các thông số đo đạc cụ thể. Từng xoáy nước lạnh đối lưu chảy ngầm ở nhiệt độ 16 độ C đều được mô phỏng chi tiết.
Bộ đồng xử lý nhanh chóng tính toán: nếu động cơ điện tiếp tục quay, dù chỉ ở nấc 1 với tốc độ 3 hải lý/giờ, từ trường xoay của rô-to vẫn sẽ tạo ra một vệt biến thiên chu kỳ 5 héc. Vệt tần số này quá đặc trưng đối với trắc thủ MAD của Hải quân Mỹ.
"Ngắt cầu dao cấp điện động cơ chính!" Giang lập tức hạ lệnh qua micro ống truyền thanh.
Hoa tiêu Tuấn bất ngờ quay lại:
"Ngắt động cơ? Chúng ta sẽ mất lực đẩy cơ động!"
"Đúng vậy," Giang giải thích ngắn gọn, ánh mắt bình tĩnh. "Chúng ta không cần lực đẩy cơ động bằng chân vịt. Dòng đối lưu nước lạnh dưới đáy rãnh bazan đang chảy từ bắc xuống nam với tốc độ 1,4 hải lý/giờ. Chúng ta sẽ thả trôi theo dòng nước."
"Tuấn, đặt góc bánh lái chữ X mở 12 độ sang mạn phải. Cho tàu tự trôi bám sát mép vách đá bazan góc nghiêng 45 độ."
"Rõ! Mở lái mạn phải 12 độ, tắt động cơ chính!" Tuấn nhanh tay thao tác theo khẩu lệnh.
*Tách!*
Cần gạt ngắt mạch điện cao thế bật lên. Tiếng vo ve rất khẽ của động cơ điện một chiều 3.000 mã lực im bặt. Trục chân vịt chậm rãi dừng quay. Con tàu dài gần 40 mét chìm vào trạng thái im lặng tĩnh mịch như một tảng đá ngầm khổng lồ.
Ở khoang máy số 2, Hai Thuận lập tức đặt tay lên van cơ khí xả khí nén điều chỉnh két dằn phụ.
Người thợ máy già hiểu rõ từng thớ thịt của con tàu. Khi tắt máy thả trôi, việc giữ cân bằng thủy tĩnh là bài toán sống còn. Nếu tàu bị chúi mũi hoặc chổng đuôi quá 3 độ, dòng nước sẽ đẩy thân tàu va đập trực tiếp vào các phiến đá bazan sắc nhọn hai bên vách rãnh.
"Bác Thuận, xả nhẹ ba mươi lít nước ở két dằn số 3 để giữ thăng bằng sống tàu," tiếng Giang vang lên nhỏ nhẹ qua loa ống nói.
"Rõ, xả ba mươi lít két dằn số 3!" Hai Thuận xoay tay van đồng thau một phần tư vòng.
Khối nước dằn phụ xả ra êm ru qua van giảm áp. Thân tàu rùng mình nhẹ một cái rồi từ từ nghiêng theo góc vát 45 độ của vách đá bazan ngầm. Con tàu lọt thỏm vào trong một hõm đá tự nhiên sâu hun hút, nơi các mỏm đá núi lửa vươn ra che khuất cả phần đỉnh tháp chỉ huy.
Cách mặt nước 120 mét, chiếc máy bay P-3C số 402 lướt qua ngay trên đỉnh đầu họ. Tiếng gầm rú của bốn động cơ cánh quạt dội qua tầng nước sâu. Âm thanh truyền vào thân vỏ titan tạo thành tiếng rền rĩ nghẹt thở. Vỏ tàu hơi rung lên theo chấn động sóng âm trên không.
Lâm ngồi bất động bên bàn đo từ trường. Ngón tay anh siết chặt chiếc bút chì gỗ đến mức trắng bệch các đầu ngón:
"Máy bay đang bay cắt ngang trục tàu ở cự ly một trăm năm mươi mét trên không," Lâm thì thào qua kẽ răng.
Trên máy bay P-3C, cây kim ghi mực đỏ của máy dò MAD AN/ASQ-81 bỗng nhiên nẩy mạnh lên hai vạch kẻ.
"Có biến thiên từ tính!" Miller hô to qua ống nói buồng lái. "Độ dốc tín hiệu tăng không phẩy tám gam-ma!"
"Vị trí nào?" Cơ trưởng hỏi dồn dập.
"Ngay dưới rãnh đá Cồn Cỏ!" Miller cau mày, mắt nhìn chằm chằm vào biểu đồ hình sin đang vạch ra trên giấy. "Nhưng kỳ lạ thật. Đỉnh xung từ trường không có dạng lưỡng cực đối xứng của thân tàu ngầm kim loại. Nó bị méo mó và phẳng lỳ ở phần đáy."
"Có thể là gì?" Cơ trưởng gặng hỏi lại.
"Nhiễu từ trường địa chất của đá bazan núi lửa," Miller lắc đầu bối rối. "Vách rãnh Cồn Cỏ có hàm lượng quặng sắt tự nhiên rất lớn. Nếu bên dưới là một khối thép ngầm, từ trường xoay của chân vịt hoặc dòng điện ắc-quy sẽ tạo ra sóng điều hòa. Đằng này tín hiệu phẳng lặng, chỉ có dao động ngẫu nhiên của địa tầng."
Cơ trưởng chiếc P-3C suy nghĩ vài giây rồi nghiêng cần lái:
"Thả một quả phao thủy âm thụ động kiểm tra xem sao!"
"Rõ! Thả phao SSQ-53B DIFAR góc chín mươi độ!" Miller bấm nút thả phao dưới bụng máy bay.
*Bụp!*
Một ống phao thủy âm rơi khỏi ống phóng bụng máy bay P-3C. Chiếc dù nhỏ bung ra hãm tốc độ rơi. Chiếc phao cắm ngập vào mặt nước biển, đầu dò thủy âm chìm xuống độ sâu 60 mét rồi xòe các cảm biến thu âm định hướng.
Dưới đáy biển sâu 120 mét, Lâm ghé sát tai nghe:
"Báo cáo thuyền trưởng! Địch vừa thả phao thủy âm thụ động DIFAR ở mạn trái, cự ly sáu trăm mét!"
"Động cơ chúng ta đang tắt hoàn toàn," Giang bình tĩnh phân tích. "Không có tiếng chân vịt chém nước. Không có tiếng bơm làm mát. Phao thủy âm thụ động của nó chỉ thu được tiếng sóng ngầm cọ vào đá."
"Đúng vậy," Lâm mỉm cười khẽ. "Tín hiệu âm học của phao chỉ ghi nhận tiếng xào xạc của các luồng nước ngầm."
Trên máy bay P-3C, Miller lắng nghe tín hiệu phát lại từ phao vô tuyến:
"Kênh âm học số 4 hoàn toàn tĩnh lặng. Không có tiếng máy ngầm. Chỉ có tiếng nước chảy xiết qua khe đá."
Cơ trưởng chiếc P-3C gật đầu qua kính chắn gió:
"Vòng lại quét thêm một lượt nữa theo trục bắc nam bằng cần MAD. Hạ độ cao xuống bốn mươi lăm mét sát ngọn sóng."
"Rõ, quét lại trục bắc nam!" Miller gạt công tắc cân chỉnh lại bộ lọc tần số thấp.
Chiếc máy bay săn ngầm nặng gần 60 tấn hạ thấp độ cao, cánh máy bay gần như liếm sát những đợt bọt sóng biển trắng xóa. Cần dò MAD lại một lần nữa lia ngang qua bầu trời phía trên rãnh đứt gãy bazan.
Dưới độ sâu 120 mét, Bộ Đồng Xử Lý Lượng Tử của Giang tính toán chính xác góc quét của lượt bay thứ hai.
"Nó đang bay vòng lại hạ thấp độ cao xuống bốn mươi lăm mét," Giang thông báo ngắn gọn cho toàn kíp trực. "Lâm, điều chỉnh dòng điện cuộn degaussing trục đứng lên hai mươi mốt am-pe. Cần bù thêm không phẩy hai gam-ma từ trường cục bộ của mỏm đá nhô ra phía trên mũi tàu."
"Rõ! Nâng dòng trục đứng lên hai mươi mốt am-pe!" Lâm xoay nhẹ biến trở gốm.
Dòng điện trong cuộn cáp đồng bọc quanh thân tàu biến đổi nhẹ nhàng theo lệnh. Trường từ tính nhân tạo do cuộn dây sinh ra hòa quyện với trường từ tính tự nhiên của vỉa đá bazan bao quanh. Toàn bộ con tàu dài gần 40 mét hòa vào rặng núi ngầm dưới đáy biển.
Chiếc P-3C gầm thét bay qua lần thứ hai.
Lần này, cây kim mực đỏ trên máy dò MAD của Miller chỉ khẽ rung rinh trong dải nhiễu nền bình thường, không hề xuất hiện một điểm xung nào vượt quá ngưỡng 0,2 gam-ma.
"Không có gì bất thường," Miller thở dài qua micro buồng lái. "Tín hiệu vừa rồi chỉ là một vỉa đá ngầm có nồng độ man-hê-tít cao. Đáy biển khu vực này hoàn toàn tĩnh lặng."
"Được rồi, thu tín hiệu phao và chuyển hướng bay về phía đông bắc tiếp tục tuần tra luồng tàu vận tải," cơ trưởng ra lệnh kéo cần lái nâng độ cao.
Tiếng gầm rú của động cơ cánh quạt P-3C xa dần, rồi biến mất hẳn sau tiếng sóng biển rì rào trên tầng mặt.
Trong khoang điều khiển, Lâm thở phào nhẹ nhõm, tháo nửa bên tai nghe xuống:
"Nó đã đổi hướng bay về phía đông bắc, cự ly bốn hải lý và đang xa dần."
"Chúng ta đã lừa được cần dò MAD của nó," Tuấn reo khẽ, nụ cười rạng rỡ hiện trên gương mặt trẻ măng.
"Đừng chủ quan," Giang nhắc nhở nhẹ nhàng. "Đối phương có thể quay lại bất cứ lúc nào."
Giang bước lại vách ngăn khoang máy số 2, ghé miệng vào micro đàm thoại:
"Bác Thuận, tình trạng vòng đệm gốm và trục chân vịt thế nào?"
"Báo cáo thuyền trưởng, vòng đệm khô ráo hoàn toàn," Hai Thuận trả lời dõng dạc qua đường truyền. "Áp lực ngoài một trăm hai mươi mét không làm suy chuyển gốm nano. Tôi vừa siết chặt lại hai bu-lông hãm nắp hộp đệm bằng cờ-lê tròng hai mươi tư."
"Rất tốt. Bác Thuận chuẩn bị sẵn sàng khởi động lại động cơ chính nấc 1," Giang đáp dứt khoát.
"Rõ! Tôi đã mở khóa bảo vệ động cơ, sẵn sàng đóng điện!" Hai Thuận gạt chốt khóa an toàn trên bệ máy.
"Tuấn, giữ chắc bánh lái, chúng ta sẽ bắt đầu di chuyển chậm ra khỏi khe đá bazan," Giang dặn dò kíp lái rồi cầm lấy tập nhật ký hải trình trên bàn hoa tiêu.