Chương 87: Chuyến Xuất Kích Sau Bão

Thuộc tiểu thuyết Pháo Đài Phượng Hoàng 1982

Tác giả: · Thể loại: Khoa Huyễn · Đăng ngày · 2108 từ · khoảng 11 phút đọc

Bốn giờ ba mươi phút sáng ngày 01 tháng 5 năm 1982, bầu trời phía đông đảo Phượng Hoàng hửng lên vệt sáng màu lam nhạt.

Cơn bão số 1 đã tan hẳn về phía bờ biển vịnh Bắc Bộ. Gió trên mặt biển giảm xuống cấp 3. Sóng biển chỉ còn lăn tăn vỗ vào chân vách đá dựng đứng. Màn sương mù mỏng manh sau mưa giăng kín mặt nước phẳng lặng.

Bên trong âu ngầm K-82, đèn tín hiệu tác chiến chuyển sang màu xanh lục. Cánh cổng thép 40 tấn từ từ trượt mở dọc theo rãnh dẫn hướng bê tông. Khối nước biển mát lạnh ùa vào ngập tràn khoang cửa hang ngầm.

Trên tháp chỉ huy tàu ngầm Phượng Hoàng Đen, Trần Hải Giang đội chiếc mũ công tác bọc tai nghe liên lạc. Anh nhìn sang mép cầu tàu số 1. Mai Vy đứng cạnh Chú Tấn và Đại tá Lê Thắng. Cô vẫy nhẹ bàn tay chào chồng. Ánh mắt người vợ trẻ tràn ngập sự tin cậy và ấm áp.

Giang giơ tay chào đáp lễ theo điều lệnh quân đội. Anh bước xuống khoang chỉ huy rồi kéo chốt đóng kín nắp đậy áp lực trên đỉnh tháp.

*Keng!*

Chiếc tay quay hãm ren kim loại xoay tròn 3 vòng khép chặt gioăng cao su bọc kín. Không khí bên trong khoang tàu lập tức chuyển sang nhịp điệu kín nước quen thuộc, phảng phất mùi dầu máy và mùi sơn chống rỉ mới.

"Báo cáo thuyền trưởng, toàn bộ van dằn chính và phụ đã ở trạng thái sẵn sàng," Hoa tiêu Tuấn báo cáo qua ống đàm thoại nội bộ.

"Mở van thông biển các két dằn chính! Cho tàu lặn xuống độ sâu 20 mét!" Giang hạ lệnh dứt khoát.

"Rõ! Mở van thông biển, đưa tàu xuống 20 mét!" Tuấn đáp lời và gạt van khí nén.

Tiếng bọt nước sủi tăm cuộn trào quanh thân vỏ titan. Khối nước nặng nề tràn vào các khoang dằn. Con tàu rẽ nước chìm dần xuống lòng biển sâu. Thân tàu dài gần 40 mét trôi êm ái qua tấm rèm ngụy trang rong biển nhân tạo, tiến ra luồng lạch tự nhiên ngoài cửa hang ngầm.

Khi mũi tàu vượt qua rạn san hô ngầm viền quanh đảo, Giang nhìn bảng đo nghiêng và ra lệnh tăng tốc độ:

"Tuấn, đặt góc bánh lái chữ X chúi 5 độ. Tốc độ 6 hải lý/giờ. Đưa tàu xuống tầng nước 80 mét."

"Rõ! Góc lái chữ X chúi 5 độ, hướng tới độ sâu 80 mét!" Tuấn kéo nhẹ cần gạt thủy lực bằng đồng.

Kim đồng hồ đo sâu cơ khí trên vách ngăn bắt đầu quay nhịp nhàng: 30 mét... 50 mét... 70 mét... rồi dừng lại ổn định ở mức 80 mét.

Ánh sáng mặt trời biến mất sau lớp nước xanh thẫm. Nhiệt độ ngoài vỏ tàu giảm xuống còn 18 độ C. Dưới áp suất nước biển tăng dần, lớp vỏ hợp kim titan dày 35 milimét khẽ co lại, phát ra những tiếng răng rắc cơ học rất khẽ. Đó là hiện tượng bình thường khi vật liệu kim loại tự thích nghi với áp lực môi trường sâu.

Ở khoang máy số 2, Hai Thuận ngồi xổm bên bệ đỡ trục chân vịt chính.

Tay ông cầm chiếc đèn pin bọc cao su chống nước soi chăm chú vào hộp bọc đệm gốm nano. Vòng đệm gốm màu xám đen tuyền ôm khít lấy trục thép đường kính 250 milimét. Trục chân vịt quay đều 300 vòng/phút dưới lực kéo của động cơ điện một chiều.

Không hề có một tia nước nào rỉ qua mép đệm. Khay hứng kim loại phía dưới khô ráo hoàn toàn.

Hai Thuận dùng mu bàn tay chạm nhẹ vào gối đỡ trục:

"Nhiệt độ ổ đỡ 42 độ C! Rất mát!" Ông reo lên qua đường truyền nội bộ. "Vòng đệm gốm tro trấu của cô Vy chịu áp lực 8 át-mốt-phe xuất sắc! Không có ma sát sinh nhiệt!"

Giang đứng bên đài hoa tiêu, mỉm cười hài lòng. Anh bấm nút đàm thoại nói với khoang máy:

"Bác Thuận, tiếp tục theo dõi biến thiên nhiệt độ gối đỡ mỗi 15 phút. Nếu vượt quá 55 độ C thì báo ngay cho tôi."

"Rõ! Tôi luôn túc trực bên trục máy, thuyền trưởng cứ yên tâm!" Hai Thuận đáp giọng hào sảng.

Giang quay sang Kỹ sư Vũ Đình Lâm đang ngồi trước bàn điều khiển điện:

"Lâm, kích hoạt hệ thống cuộn dây khử từ degaussing."

"Rõ! Kích hoạt toàn bộ hệ thống khử từ!" Lâm gạt 3 công tắc điều khiển trên bảng điện khoang số 1.

Dòng điện một chiều 24 vôn chạy qua 3 cuộn cáp đồng bọc quanh thân tàu theo các trục không gian. Đồng hồ am-pe kế chỉ các giá trị định mức chuẩn xác: trục dọc 18 am-pe, trục ngang 14 am-pe, trục đứng 20 am-pe.

Lâm áp tai vào ống nghe của thiết bị đo từ trường fluxgate magnetometer, mắt dán chặt vào kim chỉ thị:

"Từ trường dư của động cơ và cụm ắc-quy đã được triệt tiêu 98%. Độ biến thiên từ trường đo được ở vỏ ngoài chỉ còn 0,6 gam-ma. Tín hiệu này hoàn toàn lẫn vào nhiễu nền của đáy biển."

"Rất tốt," Giang gật đầu. "Bây giờ chúng ta thử tải ở độ sâu giới hạn. Tuấn, cho tàu lặn xuống độ sâu 120 mét. Hướng mũi tàu tiến thẳng vào rãnh đứt gãy bazan ngoài khơi đảo Cồn Cỏ."

"Độ sâu 120 mét! Góc lái chúi 7 độ!" Tuấn siết chặt hai tay cầm lái bánh lái kép.

Phượng Hoàng Đen chúi mũi lướt sâu xuống đáy vực đại dương.

Ở độ sâu 120 mét, áp lực nước biển lên tới 12 át-mốt-phe, tương đương sức ép 120 tấn trên mỗi mét vuông vỏ tàu. Khối nước đen đặc quánh bao bọc lấy con tàu titan. Hai bên mạn tàu, những vách đá bazan dựng đứng của rãnh đứt gãy ngầm hiện lên lờ mờ qua tín hiệu quét sonar thụ động.

Dưới áp suất cực lớn này, gioăng cao su kỹ thuật thông thường sẽ bị bẹp dí và méo mó chỉ sau vài phút vận hành. Nhưng vòng đệm gốm nano tro trấu vẫn giữ nguyên hình dạng hình học hoàn hảo. Cấu trúc mạng nano silic dioxide siêu cứng chống đỡ vững vàng tải trọng nén thủy tĩnh của đại dương.

Hai Thuận lấy chiếc khăn tay trắng muốt miết một vòng quanh khe hở cổ trục máy. Chiếc khăn rút ra vẫn khô nguyên sợi chỉ. Người thợ máy già bật ngón tay cái ra hiệu về phía ống kính tiềm vọng nội bộ báo cáo an toàn.

Trần Hải Giang tập trung tinh thần. Trong tâm trí anh, Bộ Đồng Xử Lý Lượng Tử Não Bộ (Quantum Mental Coprocessor) lập tức khởi động, chiếu rọi luồng dữ liệu phân tích trực quan lên trường thị giác.

Dòng chảy hải lưu ngầm ở độ sâu 120 mét hiển thị dưới dạng các dải xoáy màu xanh lam nhạt với vận tốc 1,2 hải lý/giờ. Đồ thị mật độ khoáng vật bazan của vách núi ngầm phát tán trường từ tính tự nhiên dao động từ 15 đến 22 gam-ma.

Bộ đồng xử lý lượng tử nhanh chóng tính toán ma trận triệt tiêu từ trường theo thời gian thực. Nếu tàu bám sát vách đá phía tây ở khoảng cách 15 mét, từ tính tự nhiên của đá bazan sẽ tạo thành một bức tường che chắn hoàn hảo, nuốt chửng hoàn toàn lượng từ dư 0,6 gam-ma phát ra từ các khối ắc-quy.

"Tuấn, bám mép vách đá bazan phía tây. Giữ khoảng cách 15 mét so với gờ đá ngầm," Giang ra lệnh.

"Rõ! Giữ khoảng cách 15 mét vách đá tây!" Tuấn khéo léo bẻ lái, chỉnh con tàu lướt êm dọc theo khe vực tối sẫm.

Đúng lúc đó, Kỹ sư Lâm chợt giật thót mình, nâng một bên tai nghe sonar lên cao hơn:

"Báo cáo thuyền trưởng! Sonar thụ động mảng kéo phát hiện tín hiệu âm học tần số thấp truyền từ trên không trung dội xuống mặt nước!"

Giang lập tức bước lại bên bàn trắc thủ âm học:

"Tín hiệu gì? Xác định tần số cơ bản!"

Lâm xoay núm lọc tần số, lắng nghe từng nhịp chuyển động âm thanh dồn dập:

"Tần số vòng quay 1.020 vòng/phút kèm tiếng rít cánh quạt 4 lá đặc trưng. Đó là động cơ tuốc-bin phản lực cánh quạt T56. Máy bay tuần thám săn ngầm P-3C Orion của Hải quân Mỹ!"

Giang nhìn nhanh đồng hồ cơ khí trên vách: 06:15 sáng. Đúng như những gì tình báo quân sự nhận định từ căn cứ Subic, phi đội săn ngầm của đối phương đã bắt đầu chuyến bay tuần tra quét từ tính sớm ngay sau khi bão tan.

Lâm tiếp tục đọc thông số dải tần:

"Âm thanh truyền xuống mặt biển rất mạnh. Máy bay đang bay ở độ cao cực thấp, chỉ chừng 60 mét sát mép sóng bạc. Hướng bay từ đông nam tiến thẳng về phía vĩ tuyến 17. Tần số phát xạ âm học tương ứng với chiếc P-3C số 402 thuộc phi đoàn VP-40 đồn trú tại sân bay Cubi Point."

Trong khoang điều khiển, không khí lập tức trở nên căng thẳng nghẹt thở. Các thủy thủ trẻ siết chặt các tay cầm cố định vị trí.

"Nó đang bắt đầu rải tuyến quét MAD," Giang nhận định dứt khoát. "Tuấn, giảm tốc độ xuống 3 hải lý/giờ. Chuyển động cơ điện sang chế độ chạy âm thầm cực thấp. Toàn tàu thực hiện chế độ im lặng tuyệt đối."

"Rõ! Tốc độ 3 hải lý/giờ, chuyển chế độ âm thầm!" Tuấn gạt nhẹ cần điều khiển vòng tua.

"Khoang máy số 2, Hai Thuận nghe rõ không?" Giang hạ giọng qua micro áp cổ.

"Hai Thuận nghe rõ! Động cơ đã chuyển nấc 1, không rung lắc, trục quay cực êm!" Tiếng người thợ máy già vang lên trầm tĩnh qua màng loa kim loại.

Động cơ điện một chiều hạ vòng tua xuống mức tối thiểu. Con tàu titan rẽ nước trôi đi êm như một chiếc lá rụng chìm sâu dưới đáy vực.

Cách mặt nước 120 mét phía trên, chiếc máy bay săn ngầm P-3C khổng lồ sơn màu xám tro đang bay là là trên đầu những con sóng bạc. Chiếc cần dò dị thường từ tính AN/ASQ-81 dài hơn 3 mét vươn dài ra ở đuôi máy bay như một chiếc kim chỉ nam nhạy bén, liên tục quét qua quét lại từng dải nước biển bên dưới.

Bên trong khoang máy bay Mỹ, hai trắc thủ điện tử đeo tai nghe chăm chú nhìn vào chiếc máy ghi dao động từ tính. Cây kim ghi bằng mực đỏ rung rinh trên cuộn giấy kẻ ô, sẵn sàng vạch lên những đỉnh nhọn bất thường nếu phát hiện một khối kim loại chuyển động dưới đáy biển.

Dưới tầng nước lạnh buốt, Trần Hải Giang đứng thẳng người bên bục chỉ huy. Bộ Đồng Xử Lý Lượng Tử Não Bộ của anh liên tục cập nhật quỹ đạo bay của chiếc P-3C dựa trên độ trễ âm học truyền qua môi trường nước.

"Nó đang lượn vòng cung hình số tám để khóa khu vực," Giang quan sát đồ họa lượng tử trong tâm trí rồi nói nhỏ. "Nó nghi ngờ có mục tiêu xuất hiện sau bão nhưng chưa bắt được tín hiệu rõ rệt."

"Thuyền trưởng, cuộn degaussing vẫn giữ ổn định 0,6 gam-ma," Lâm thì thào báo cáo. "Vách đá bazan đang hấp thụ toàn bộ phản xạ từ trường."

"Tốt lắm. Tuấn, giữ nguyên độ sâu 120 mét, cho tàu luồn sâu thêm 200 mét nữa vào hõm đá chữ V phía trước," Giang hạ lệnh.

"Rõ! Luồn vào hõm đá chữ V!" Tuấn gật đầu, ngón tay giữ chắc bánh lái cơ khí.

Hai Thuận cẩn thận đặt chiếc cờ-lê vào túi vải bạt, mắt không rời bảng đồng hồ áp suất nước dằn. Người thợ già ghé sát micro nói nhỏ:

"Thuyền trưởng, khoang máy an toàn 100%, không một giọt nước rỉ."

"Rất tốt. Toàn tàu giữ im lặng, theo dõi sát đường bay của địch," Giang đáp dứt khoát qua ống nghe, mắt chăm chú nhìn đồng hồ đo sâu.