Chương 1: Bà Đợi giao chìa khoá đêm 30 Tết

Thuộc tiểu thuyết Tiệm Cầm Đồ Chợ Âm Dương

Tác giả: · Thể loại: Huyền Huyễn · Đăng ngày · 2249 từ · khoảng 11 phút đọc

Tôi cần bạn giữ hộ tôi một cái tên.

Không tốn gì đâu. Không chuyển khoản, không bấm theo dõi, cuối bài cũng không có đường link nào bắt bạn nhập số điện thoại. Bạn chỉ việc đọc hết chương này rồi nhớ lấy một chữ. Một chữ thôi. Tối nay đánh răng mà tự nhiên nhớ tới nó thì càng tốt, tôi xin cảm ơn trước.

Cái tên đó là Thơm.

Tôi biết. Bạn không quen ai tên Thơm, hoặc bạn có một bà cô tên Thơm ở quê và chuyện đó chẳng liên quan gì tới ai. Không sao. Tôi làm kế toán được 2 năm, tôi hiểu đề nghị nào nghe cũng giống lừa đảo cho tới khi mình biết tiền đi đâu. Nên để tôi kể, kể đàng hoàng, có đầu có đuôi, bạn đọc xong thấy vô lý thì tắt máy đi ngủ, tôi không mất gì mà bạn cũng chẳng mất gì.

Tôi tên là Lương Văn Tỉnh, 24 tuổi. Hồi đại học tụi nó gọi tôi là Tỉnh Lẻ, vì cả lớp chỉ mình tôi mang một cái tên nghe như đơn vị hành chính. Bà tôi đặt tên đấy. Bà bảo tôi đẻ ra không khóc, mắt mở thao láo nhìn đời, tỉnh như sáo. Hôm nay là mồng 8 Tết, tôi ngồi gõ những dòng này trên cái laptop cũ, ở gác hai một tiệm cầm đồ cuối chợ, và tôi ghi rõ ngày tháng vì từ giờ tôi sẽ ghi rõ mọi thứ. Sau này nếu có đoạn tôi không viết được tên ai, bạn đừng vội chê tôi cẩu thả. Chính vì thế nên tôi mới viết.

Bắt đầu từ hôm 23 tháng Chạp. Tôi đang ngồi chốt công nợ cuối năm ở một công ty vận chuyển trên Hà Nội thì cô Lụa gọi. Cô Lụa bán bún ở chợ Dưới, nuôi cơm tôi từ hồi tôi còn phải kiễng chân mới với tới mặt bàn, và trong 6 năm tôi đi xa, cô chưa gọi cho tôi lần nào vì cô bảo gọi điện tốn tiền.

"Cu Tỉnh ơi, về đi cháu. Bà mày đứng giữa chợ từ sáng, túm áo từng người hỏi tên bà là gì."

Tôi về. Xe khách 2 tiếng rưỡi. Tôi xin nghỉ không lương với một lý do mà sếp nghe xong còn dặn thêm "nhớ bàn giao file trước khi đi". Bác sĩ trên trung tâm y tế huyện đo cho bà, chấm điểm, rồi viết vào sổ bốn chữ sa sút trí tuệ, mức nặng, rồi nhìn tôi bằng con mắt người ta nhìn cháu đích tôn đi làm ăn xa về muộn. Tôi không cãi. Tôi đã tính rồi: 6 năm, tôi về quê 9 lần, mỗi lần trung bình 1,8 ngày. Tháng nào tôi cũng gửi bà 3.000.000 đồng, đều như trả góp. Hôm dọn tủ tôi tìm thấy toàn bộ số tiền đó trong một hộp bánh quy, vẫn nguyên dây chun, bà xếp theo từng năm và không tiêu đồng nào.

Giờ tôi kể tình trạng của bà, kể như lập báo cáo, vì đấy là cách duy nhất tôi kể được.

Bà tôi tên Đợi, 78 tuổi, người bé bằng đứa lớp 6, trông cái tiệm này đã 60 năm. Cả chợ sợ bà. Bà có thể cầm cái nhẫn lên, không cần nhìn, ném lại quầy rồi bảo "vàng mười của mày pha đồng 3 phân", và đúng 3 phân. Bây giờ bà không biết mình tên gì. Bà không biết cầm đũa. Bà không nhớ ông tôi. Bà không nhớ rằng bà từng có một đứa con gái, là mẹ tôi, tôi đưa ảnh ra thì bà khen cô này xinh, cô làm ở đâu. Bà nhìn cái tiệm của mình như nhìn nhà người lạ, đêm đêm hỏi bao giờ thì được về.

Chỉ có một thứ còn sót lại. Cứ khoảng 2 tiếng một lần, tôi đo rồi, bà ngẩng lên, nhìn thấy tôi, mặt sáng ra như vừa nhặt được của, và bà hỏi:

"Thằng Tỉnh ăn chưa?"

Hết. Cả một đời người, 78 năm, 60 năm giữ sổ, còn lại đúng 4 tiếng ấy. Bà không biết tháng này là tháng mấy, không biết tiền là gì, không biết cái thìa đang đưa tới miệng mình dùng để làm gì. Nhưng bà biết tôi. Và bà muốn biết tôi đã ăn chưa.

"Cháu ăn rồi bà ạ."

"Ừ." Rồi bà lại đi đâu mất, ngồi đấy mà đi mất.

Đêm 30 Tết, cả dãy chợ Dưới đóng cửa từ chiều. Khu này giờ gần như bỏ không từ ngày phố trên mọc lên cái trung tâm thương mại 2 tầng, còn lại vài hàng bám trụ, mấy con mèo và cái tiệm của bà tôi ở cuối dãy, tường vàng, biển tôn ghi CẦM ĐỒ ĐỢI, VÀNG, XE MÁY, ĐIỆN THOẠI. Tôi nấu nồi cháo thịt băm, bê lên gác. Tivi nhà bên đang chiếu Táo Quân, tiếng cười cả nước vọng qua bức tường 110. Tôi xúc từng thìa, thổi nguội, đưa lên, bà há miệng theo phản xạ. 22:47, tôi nhớ con số đó vì tôi vừa nhìn điện thoại xem bao giờ thì hết năm.

Bà gạt cái thìa ra.

Không gạt kiểu người ốm. Bà gạt như gạt một tờ biên nhận viết sai. Rồi bà ngẩng lên nhìn tôi, và tôi xin thề với bạn, tôi đã gặp lại ánh nhìn đó. Đó là cái nhìn ngày xưa bà dành cho nhẫn giả.

"Mấy giờ rồi?"

Thìa cháo trên tay tôi rung lên. "Dạ, 22:47 bà ạ."

"Đêm 30?"

"Vâng. Bà ơi, bà có biết cháu là..."

"Tao biết mày là ai, tao còn mỗi cái đấy thôi. Nghe đây, tao không có nhiều thời gian." Bà thò bàn tay khẳng khiu vào cổ áo, kéo lên một sợi lạt đã đen bóng, đầu sợi lạt buộc cái chìa khoá sắt to bằng ngón tay tôi. Tôi sống trong nhà này 12 năm chưa thấy nó lần nào. "Giờ Tý mở cửa sau. Ngồi vào ghế. Ai đưa cái gì cũng phải đọc giá, đọc xong mới được ghi. Cấm mặc cả. Cấm cho chịu. Trước gà gáy phải vào sổ được một dòng, một dòng thôi, không thì mất sạch. Nhắc lại."

"Bà ơi, cửa sau ra cái sân với bãi sông thôi mà, giờ này..."

"Nhắc lại, tao bảo."

Từ năm 6 tuổi tới giờ, chưa có ai trên đời bảo tôi nhắc lại mà tôi không nhắc. "Giờ Tý mở cửa sau. Ngồi ghế. Đọc giá rồi mới ghi. Cấm mặc cả, cấm cho chịu. Trước gà gáy một dòng."

Bà gật. Bà đặt cái chìa khoá vào lòng bàn tay tôi, gập từng ngón tay tôi lại, tay bà lạnh và rất khoẻ. Bà nhìn tôi thêm một lúc. Tôi không biết mô tả cái nhìn đó, kế toán không có tài khoản cho thứ ấy. Rồi bà nói:

"Thằng Tỉnh ăn chưa?"

Và tôi thấy bà tắt. Mắt vẫn mở, mặt vẫn hướng về phía tôi, nhưng người vừa ngồi đó đã rời đi, như đèn hành lang nhà ai đó hết giờ hẹn.

"Cháu ăn rồi bà ạ."

Tôi ngồi với cái chìa khoá chừng 10 phút. Đổi lại là bạn, bạn cũng xuống. Tôi biết trong y văn có cái chuyện người bệnh nặng tự dưng tỉnh ra một lúc, Google nói thế, 3 giây sau khi tôi hỏi nó. Nhưng người làm sổ sách không để một cái chìa khoá chưa rõ công dụng nằm ngoài danh mục tài sản được.

Tôi xuống qua cửa hàng tối om, qua quầy kính, đi ra sân gạch sau nhà. Cuối sân có một cánh cửa gỗ thấp, cũ hơn cả cái nhà, trên ngang cửa có khắc ba chữ mà từ bé tôi đọc mãi thành quen: CẦM, GIỮ, ĐỢI. Từ bé tôi không bao giờ ra lối đó. Ra đó là tới bãi sông, mà tôi không gần nước. Tôi không biết bơi, đi cầu còn đi giữa lòng đường, chuyện này để sau.

23:00 đúng trên điện thoại. Vừa nhảy số thì cột sóng biến mất.

Chìa khoá vào ổ không cần lắc. Tôi đẩy cửa, và mùi tới trước: dầu hoả, hương vòng, bê thui, bùn mùa cạn. Sau đó tới tiếng. Rồi tôi mới dám nhìn.

Sáng hôm đó tôi còn thấy bãi sông sau nhà có một vạt ngô chết và mấy túi rác. Bây giờ nó là một phiên chợ. Đèn dầu treo trên sào tre kéo thành hai dãy dài tít xuống tận mép nước, người đi kín lối, hàng bày trên chiếu, trên phản, trên thúng. Ngay trước mặt tôi một bà mặc áo tứ thân ngồi bán thứ gì đó gói lá chuối, buộc lạt gọn gàng như bánh nếp, và một anh mặc đồng phục bảo vệ đang cúi xuống hỏi giá. Bà giơ hai ngón tay. "Hai giấc ngủ trưa, không bớt." Anh bảo vệ gãi đầu, rồi lấy trong ngực áo ra một thứ tôi không nhìn rõ, đặt vào tay bà. Anh ấy đi về phía tôi, đi xuyên qua cái sào tre.

Lúc này cơ thể tôi tự làm một việc rất thực tế là lùi lại, gót chân vấp vào cái gì đó.

"Đóng cửa vào, gió lùa. Mày là thằng Tỉnh chứ gì. Y hệt cái ảnh bà mày giắt trong ví, trông như con mắm khô đeo kính."

Tôi quay lại. Bức tường sau nhà tôi không còn ở đó. Chỗ đó là một gian mái rạ, trước mặt là cái quầy gỗ mòn bóng, trên quầy có cái cân tiểu ly bằng đồng và một cuốn sổ to bằng cái thớt. Sau quầy kê cái ghế tre, mặt ghế lõm xuống đúng hình một người rất bé. Và trên quầy, ngồi vung vẩy hai cái chân trần đang nhỏ nước tong tỏng, là một đứa con gái chừng 16 tuổi, áo cánh nâu, tóc tết một bím thả trước ngực, tay đang cầm cái lược sừng chải dở.

"Em... ơi," tôi nói, giọng rất người lớn, "em là con nhà ai mà..."

"Em cái gì. Gọi bà."

"Dạ?"

"Bà là em gái bà mày. Em ruột. Vai mày phải gọi là bà trẻ, bà đợi mày gọi một tiếng từ hôm mày về tới giờ, ngồi trên kia nhìn mày đút cháo mà sốt ruột hết cả người, đút thế thì sang năm cũng không xong bát. Gọi đi."

"Bà tôi không có em gái."

Con bé ngừng tay chải. Chỉ một chút thôi, ngắn như lúc người ta đang đi mà hụt một bậc thang.

"Có. Bà mày quên rồi. Từ tháng Mười." Nó nói cái câu đó nhẹ như bảo chợ hôm nay hết đậu. "Bà trẻ tên Thơm. Nhớ lấy, mày mà quên nữa là bà chửi."

Lúc nó đưa tay lên vén tóc, tôi nhìn thấy vân gỗ của cái cột phía sau, nhìn thấy xuyên qua lòng bàn tay nó, mờ mờ, như nhìn qua kính nhà tắm.

Có một ông già đi ngang, lưng còng, nón rách, trong người tỏa ra mùi thuốc lào mà chẳng thấy khói. Ông đứng lại trước quầy, nhìn tôi từ đầu tới chân, rồi cái mặt nhăn như giấy vò của ông toét ra cười như gặp người quen.

"Thầy giữ sổ mới đấy à? Hôm nay qua chưa?"

"Dạ, qua đâu ạ?"

Ông cười khà khà, chẳng trả lời, chống gậy đi thẳng xuống phía bến. Bà trẻ Thơm, tôi xin phép gọi thế cho đỡ bị chửi, nhìn theo ông, mặt không vui lắm.

"Kệ cụ ấy. Ngồi vào ghế đi. Mày nghe bà mày dặn rồi đấy, đêm chợ mở mà tiệm không vào sổ được dòng nào thì mất chỗ, mất chỗ thì cả kho thành đồ vô chủ, ai nhặt được thì nhặt. Cái tủ kia, mấy cái ngăn kéo kia, cả cái rương buộc lạt đỏ, cái đấy mày cấm chạm vào, chạm là bà vặt tai."

Tôi nhìn cái tủ. Hàng trăm ngăn kéo con, ngăn nào cũng dán nhãn bằng chữ của bà tôi, thứ chữ tôi tập đọc từ hồi lớp 1. Ngăn gần nhất ghi: *Giấc ngủ trưa của bà Tý, tháng Năm.*

"Xin lỗi," tôi nói, và tôi tự hào về câu này vì giọng tôi gần như không run, "kho này mất thì tôi tiếc, nhưng tôi là kế toán. Tôi có một bà già trên gác cần thay bỉm lúc 2:00 sáng. Tôi không ngồi đây bán giấc ngủ cho ai được."

Thơm nhảy xuống khỏi quầy. Chân nó chạm đất không có tiếng nào, chỉ để lại một vệt nước. Nó đi tới sát tôi, thấp hơn tôi một cái đầu, ngước lên nhìn, và nó không còn vẻ gì là đang đùa.

"Thằng ranh con. Mày tưởng bà mày lẫn thật đấy à?"

Tôi chưa kịp mở miệng thì có tiếng dép lẹt xẹt ngoài quầy, dép nhựa, thứ tiếng rất người sống, rất tầm thường, giữa một cái chợ không ai có tiếng bước chân. Một giọng nói vang lên, hụt hơi, quen đến mức tôi sáng nay vừa nghe nó bảo tôi ăn thêm miếng giò.

"Bà Đợi ơi, cháu đem đồ tới đây, cháu nghĩ kỹ rồi."

Cô Lụa đứng đó, áo khoác ngoài bộ đồ ngủ, tay ôm trước ngực một cái gì bọc trong khăn mặt. Cô nhìn cái ghế. Rồi cô nhìn tôi.

"Cu Tỉnh?"