Chương 2: Dòng sổ không ai trong nhà đọc được

Thuộc tiểu thuyết Tiệm Cầm Đồ Chợ Âm Dương

Tác giả: · Thể loại: Huyền Huyễn · Đăng ngày · 1892 từ · khoảng 9 phút đọc

Mồng tám tháng Giêng, gà gáy lần thứ ba.

Sương từ sông Vị bò lên bãi đê, trắng đục. Tiếng chợ tan không ồn ào, chỉ có tiếng sào tre dỡ hàng lạch cạch và tiếng những vòng xe thầu dầu nghiến trên lối đất. Người sống lục tục gánh những thúng nông cụ ế xuống chân đê về làng. Người âm thì nhạt dần trong sương, liêu xiêu đi về phía mép nước rồi mất hút. Không ai chào ai một câu, vì phiên chợ này mua may bán rủi, tiền trao xong là dứt, lời thừa thãi chỉ làm vận hạn vương thêm.

Phạm Đắc đóng hai cánh cửa gỗ của tiệm Đợi. Then cài khép lại, tiếng ồn vãn hẳn bên ngoài vách rạ.

Hắn quay vào quầy. Chiếc vòng bạc của bà vẫn nằm đó, phản chiếu ánh đèn dầu sắp cạn bấc. Đắc với tay lấy cuốn sổ giấy dó. Cuốn sổ nặng, bìa bọc vải thô đã sờn bốn góc. Hắn lật về trang của mùa chợ năm ngoái.

Giấy dó để lâu có mùi mốc ngái, nhưng đúng trang này, mặt giấy nhẵn hơn hẳn các trang khác. Đắc biết bà đã chạm tay vào đây rất nhiều lần. Hắn dò ngón tay xuống cuối trang, dừng lại ở một dòng chữ mực tàu còn đen nhánh.

Cột ngày ghi: mồng bảy tháng Giêng. Cột hạn ghi: rằm tháng Giêng năm sau.

Đến cột "món cầm" và "chuộc bằng", mắt Đắc bỗng trượt đi. Hắn nhìn thẳng vào trang giấy, thấy rõ từng nét sổ, nét mác, nhưng đầu óc không thể ghép chúng thành nghĩa.

Đắc nheo mắt, bưng cây đèn dầu lại sát mặt giấy. Ánh lửa bập bùng soi rõ cả những xơ giấy li ti. Vẫn không đọc được.

Bên ngoài, tiếng sào tre đổ kình kịch vào vách. Một cái đầu nhỏ bù xù thò qua khe cửa ngách, giọng lanh lảnh:

"Cậu Đắc, dọn hàng xong chưa để con quét tước? Có cần đun nước tắm không cậu?"

Đắc giật thót, gập mạnh cuốn sổ, gắt gỏng:

"Chưa. Ra ngoài bến mà trực, bao giờ gọi mới được vào."

Thằng nhỏ rụt cổ biến mất. Cái im lặng lại ập xuống, đặc quánh. Đắc lấy một mẩu giấy sạch, cầm bút lông định chép lại mặt chữ ấy ra ngoài. Ngòi bút thấm đẫm mực, vừa chạm xuống mặt giấy thì tay Đắc cứng đờ. Cổ tay hắn bị một sợi lạt tàng hình siết chặt, không sao đưa nét nổi. Giọt mực loang ra trên mặt giấy trắng.

Đắc buông bút. Hắn hít một hơi sâu, mùi mực tàu xộc vào mũi đắng ngắt. Luật của tiệm: người giữ sổ không đọc được dòng về nhà mình. Bà Đợi đã đi, nhưng cái luật ấy vẫn ở lại, lù lù sau quầy gỗ.

Hắn kẹp cuốn sổ vào nách, thổi tắt đèn rồi đẩy một cánh cửa gỗ bước ra ngoài.

Trời đã mờ sáng. Dãy hàng nông cụ ở khúc giữa đê chỉ còn lại vài gian chưa dọn xong. Nhài đang lúi húi xếp mấy chiếc liềm cùn vào bao tải gai. Tóc nàng dính sương, bết lại bên thái dương.

Đắc dừng lại trước gian hàng. Nhài ngẩng lên, tay nàng khựng lại giữa chừng.

"Anh chưa nghỉ à?" Nhài hỏi, giọng khàn đi vì thức đêm.

Đắc đặt cuốn sổ lên mặt chiếc chõng tre đã trống phân nửa. Hắn dán mắt vào bìa sổ sờn.

"Đọc cho tôi dòng này."

Nhài không cúi xuống ngay, nàng nhìn thẳng vào mắt Đắc, hỏi gọn:

"Mắt anh để đâu mà không tự đọc?"

Đắc nhìn sang đống liềm cùn, đáp tránh:

"Đêm qua trông đèn nhiều quá, mắt nhòe đi, không thấy rõ nét."

Nhài nhìn hắn một nhịp, đôi lông mày hơi nhíu lại rồi mới đón lấy cuốn sổ bằng cả hai tay. Nàng lật đến trang có vết gập, ngón tay chỉ vào dòng cuối cùng. Nàng đọc, giọng đều và lạnh:

"Vũ Thị Bảy. Cầm: chính mình. Hạn: rằm tháng Giêng năm sau. Chuộc bằng: tên cúng cơm, người ruột thịt gọi, giờ Tý."

Hơi thở của Đắc nghẹn lại nơi cổ họng.

"Chữ đó... có đúng là chữ 'chính mình' không?"

Nhài nhìn lại lần nữa, gật đầu:

"Đúng hai chữ ấy. Không sai được đâu."

Đắc đứng lặng một lúc, cố nén cơn rùng mình đang chạy dọc sống lưng, hỏi tiếp:

"Trong dòng ấy có ghi ai đứng bên kia giao kèo không? Ai là người nhận món cầm này?"

Nhài lướt mắt qua các cột, lắc đầu:

"Chỗ đó bỏ trống. Chỉ có một dấu triện nhỏ xíu ở góc dưới, tôi không biết của nhà nào."

"Dấu triện hình gì?"

"Nhìn kỹ thì thấy giống một con thuyền không lái trôi trên ba gợn sóng."

"Anh tính làm gì với cái dòng chữ quái gở này đây?" Nhài hỏi, mắt vẫn không rời dấu triện.

"Tôi phải lo cho xong việc của cửa tiệm, thế thôi."

Nhài thở ra một hơi dài, nàng khẽ vuốt lại mép giấy dó cho phẳng: "Đêm mồng bảy năm ngoái trời không có mưa, sương còn mỏng hơn năm nay. Tôi ngồi ở đúng chỗ này, bán được ba chiếc liềm với hai con dao bài. Lúc ấy đã quá nửa đêm, tôi thấy bà Đợi đi ngang qua đây, dáng bà vội vã lắm. Bà đi về phía mép nước, chỗ có mấy chiếc đò đậu sẵn từ chiều."

"Bà đi một mình hay đi cùng ai?" Đắc hỏi nhanh.

"Bà đi một mình, nhưng vai bà trĩu xuống như đang gánh một vật rất nặng." Nhài trả lời ngay lập tức, không một giây ngập ngừng.

Đắc nhìn nàng, nhận ra sự quả quyết quá mức trong giọng nói ấy. Hắn im lặng một lát, thu lại cuốn sổ rồi hỏi:

"Đêm nay hàng họ của cô thế nào, có khấm khá không?"

"Cũng được. Tôi bán sạch năm mươi chiếc liềm, mỗi chiếc lấy ba đồng, chỗ dao cùn cũng có người hốt hết rồi."

"Cô có thấy ai khác lạ đi qua đây đêm nay không?"

Nhài cúi đầu buộc miệng bao tải, không trả lời câu hỏi của hắn.

Đắc cầm cuốn sổ, cảm giác nó nặng hơn lúc mang đi gấp bội. Hắn quay người bước về phía tiệm. Nhài không gọi theo, cũng không nói thêm lời nào. Sau lưng hắn chỉ còn tiếng dây lạt siết vào miệng bao tải gai nghe ken két.

Về đến tiệm, Đắc thấy thằng nhỏ giúp việc đang đứng đợi ở bậc cửa.

"Này... C..."

Chữ "Cò" nghẹn lại trong miệng Đắc. Lưỡi hắn tê dại. Hắn cố rặn hơi, cố nhớ lại cái tên mà hắn vẫn gọi mỗi ngày, nhưng trong đầu bỗng chốc trống rỗng.

Hắn nhớ rõ mặt nó. Nhớ nó hay mặc cái áo cộc tay vá vai trái. Nhưng cái tên gọi của nó thì không còn nữa.

"Này!" Đắc gọi to.

Thằng nhỏ quay lại, dạ một tiếng thật to.

"Cậu bảo gì cháu ạ?"

Đắc nhìn nó trân trân. Nỗi sợ hãi thực sự đang bò dọc sống lưng.

"Mày ra đầu chợ mua bún về đây."

"Vâng ạ!"

Thằng nhỏ chạy biến vào màn sương. Một lát sau, nó quay về, hơi thở hổn hển, tay bưng hai bát bún bọc trong lá chuối. Nó đặt bát bún lên bàn, lau mồ hôi trán rồi liến thoắng:

"Ngoài đầu chợ người ta giải tán gần hết rồi cậu ạ. Hàng bún của bà béo cũng đang dọn, may mà cháu đến kịp bát cuối. Bà ấy bảo từ mai bà nghỉ ăn Tết muộn. Chỗ gốc đa còn mấy ông hàng thịt đang cãi nhau chí tử vì thiếu một con dao bầu, chửi bới ầm ĩ cả một góc đê."

"Hàng bún đóng rồi thật à?" Đắc hỏi.

"Vâng, bà ấy dập lửa lò rồi. Mà cậu ơi, cái tiệm mình sao lúc nào cũng tối thui thế này? Sao ban ngày mình không mở hết cửa ra cho thoáng hả cậu?"

"Việc của mày là quét tước, hỏi lắm làm gì. Hết bao nhiêu tiền?"

"Hết hai xu, người ta thối lại ba xu đây cậu."

Thằng nhỏ chìa mấy đồng xu lẻ ra lòng bàn tay. Đắc nhìn mấy đồng tiền rồi xua tay:

"Thôi mày cầm lấy mà ăn quà. Để bát bún đó cho tao."

Thằng nhỏ toe toét cười, cất tiền vào túi áo rồi tót ra sau bếp. Nó hoàn toàn không nhận ra từ nãy đến giờ, chủ nó không hề gọi đến tên nó lấy một lần.

Đắc vào trong, ngồi xuống sau quầy gỗ. Hắn thu dọn mấy món đồ khách cầm cố đêm qua, xếp lại ngay ngắn vào chiếc rương lớn phía sau. Hắn dùng một mảnh vải xô sạch, từ tốn lau bụi bám trên mặt quầy gỗ mòn. Đắc lấy thỏi mực tàu, thêm vài giọt nước vào đĩa đá rồi bắt đầu mài. Hắn xoay thỏi mực chậm rãi, đều tay cho đến khi nước mực trở nên đen đặc và bóng lộn.

Hắn lấy một mẩu giấy dó dày, loại giấy mịn nhất chuyên dùng để ghi khế ước lớn. Hắn chọn cây bút lông thỏ cán trúc, chấm mực rồi nín thở viết ba chữ: Vũ Thị Bảy.

Từng nét chữ hiện ra sắc sảo. Hắn đưa mẩu giấy lên môi thổi nhẹ cho mực mau khô. Đắc đặt mẩu giấy ngay ngắn lên mặt quầy gỗ, đúng vị trí mà khách thường đặt những món đồ quý giá khi đến cầm cố. Sau đó, hắn mới mở cuốn sổ ra, tìm đến một trang trắng.

Hắn cầm cái tên của bà vào tiệm.

Ngày ghi: mồng tám tháng Giêng. Hạn ghi: rằm tháng Giêng. Món cầm: Vũ Thị Bảy.

Đắc nín thở nhìn xuống cột giá. Một dòng chữ từ từ hiện lên, mực sẫm màu như thấm từ mặt sau giấy ra. Chữ hiện đến đâu, mắt Đắc lại trượt đi đến đó. Hắn không đọc được mình phải trả cái gì để giữ lấy cái tên này cho đến đêm rằm. Nhưng hắn vẫn đóng sổ lại.

Chợ vãn hẳn. Tiếng gà gáy từ xóm trong đê vọng ra, nghe thưa thớt và lạnh lẽo. Còn đúng bảy ngày nữa là tới rằm tháng Giêng. Bảy ngày để chuộc lại một người đã thuộc về tiệm vĩnh viễn.

Đắc cầm chiếc vòng bạc lên, mở rương gỗ rồi đặt nó vào góc trong cùng. Tiếng khóa đồng sập lại nghe khô khốc.

Hắn đứng dậy, bước vòng ra sau quầy. Đắc không nằm lên chiếc chõng tre như mọi khi. Hắn kéo cái ghế tre cũ của bà ngoại ra, chậm rãi ngồi xuống. Ghế hơi lún, hằn lên hình bóng của người cũ.

Phía bên kia đê, sông Vị bắt đầu đổi màu theo ánh sáng của buổi sớm mai. Sương vẫn dày, che khuất cả điếm canh và những ngôi nhà tranh trong làng Vọng.

Đắc ngồi yên, hai tay đặt lên mặt quầy gỗ mòn bóng, nhìn ra cửa tiệm đang mở một cánh. Hắn chỉ tính xem trong đầu mình còn lại bao nhiêu cái tên để đổi lấy bảy ngày sắp tới.