Chương 5: Ba tiếng gọi giữa sân đình đêm rằm
Thuộc tiểu thuyết Tiệm Cầm Đồ Chợ Âm Dương
Tác giả: Trần Vũ Phong · Thể loại: Huyền Huyễn · Đăng ngày · 2641 từ · khoảng 13 phút đọc
Sân đình làng Vọng đêm rằm tháng Giêng không có tiếng trống chèo. Đèn bão treo quanh các cột đình, bấc hạ thấp, tỏa ra thứ ánh sáng vàng đục và đặc quánh. Gió từ sông Vị thổi vào ràn rạt, làm những dải lụa điều buộc trên xà rủ xuống như những cánh tay dài. Dân làng đứng kín sân, nhưng lặng ngắt. Mỗi người ôm trong tay một món đồ bọc bằng vải chàm hoặc rơm rạ khô. Người ôm cái lưỡi cày mòn vẹt, người giữ khư khư chiếc nồi đồng đã rỗ đáy, có kẻ lại cầm một đôi khuyên tai bạc mỏng tang. Họ đứng thành từng hàng, mắt nhìn chăm chắm vào chiếc bệ đá trước cửa đình. Ở đó, ông thu bến của Hội Đò đã ngồi sẵn. Ông ta mặc áo dài đen, khăn xếp phẳng phiu, trước mặt đặt một cái tủ sổ nhỏ bằng gỗ trắc. Hai người làm việc cho Hội Đò đứng hai bên, một người cầm đèn, một người mài mực. Phạm Đắc đứng đối diện, tay tì lên cuốn sổ giấy dó của tiệm Đợi. Nhài đứng sau lưng hắn, hơi thở cô gấp gáp giữa cái lạnh của đêm rằm. "Dựng quầy ở đây." Đắc nói ngắn gọn với thằng nhỏ phụ việc. "Thưa ông, xong rồi ạ." Thằng nhỏ đáp, nó lùi lại phía sau cái ghế tre. Ông thu bến ngẩng lên, mắt ông ta sắc như dao cau rạch vào bóng tối. "Đến giờ đối sổ." Ông ta nói, giọng khô khốc. "Nhà ai có đồ, đặt lên." Người làng Vọng bắt đầu bước lên. Từng món đồ được đặt lên bệ đá. Tiếng gốm chạm vào đá nghe lạch cạch. Tiếng kim loại va nhau lanh lảnh. Ông thu bến không nhìn người, chỉ nhìn đồ. Ông ta nhấc một chiếc mâm đồng lên, lật đáy xem vết mòn, rồi gật đầu. Người làm việc đứng bên cạnh liền ghi vào bảng kê. "Nhà ông Tứ, một mâm đồng." "Nhà bà Hoán, một chiếc vòng bạc vụn." "Nhà anh Cân, một lưỡi cày." Cuộc đối sổ kéo dài hơn nửa tiếng. Khi món đồ cuối cùng được đặt xuống, sân đình chỉ còn tiếng gió lùa qua tán cây gạo già. Ông thu bến cầm cây bút lông, vẩy nhẹ đầu ngòi rồi tính toán trên mặt sổ. Tiếng lạch tạch của những quân bàn tính gỗ vang lên giữa sự im lặng đến nghẹt thở. Ông thu bến dừng tay, ngước nhìn Đắc. "Phạm Đắc. Nhà ông nhìn xem." Hắn bước lại gần. Trên bảng kê của Hội Đò, con số tổng cộng được khoanh bằng mực đen. "Mười bảy lượng bạc, ba mươi hũ rượu nếp cái hoa vàng cho lễ nước năm nay." Ông thu bến gõ móng tay vào mặt đá. "Cộng cả phần lãi chậm nộp mười hai tháng qua, tổng nợ của làng Vọng là bốn mươi lượng bạc trắng. Chỗ đồ này, tính cả nát cả lành, tôi chỉ thu được hai mươi hai lượng." Cả sân đình xao động. Có tiếng thở dài nén lại, tiếng một người đàn bà nấc lên rồi im bặt. "Vẫn thiếu mười tám lượng." Ông thu bến kết luận. "Theo giao kèo, nếu không đủ lễ nước trước giờ Tý đêm nay, Hội Đò sẽ siết bến. Từ mai, thuyền không được neo, lưới không được thả. Và toàn bộ người đứng tên trong danh sách nợ sẽ thuộc về Thuỷ phủ." Đắc nhìn xuống cuốn sổ của mình. Những dòng mực tàu đen nhánh hiện rõ dưới ánh đèn. Hắn hít một hơi sâu, tay chạm vào mép giấy dó khô kháp. "Ông thu bến, cho tôi hỏi một câu." Đắc lên tiếng. "Nhà ông cứ nói." "Trong giao kèo của Hội Đò với bà ngoại tôi năm ngoái, cột giá ghi thế nào?" Ông thu bến lật trang sổ cũ, đọc chậm rãi: "Giá của một món là thứ chủ cũ đã mất khi có được nó." Đắc quay lại nhìn dân làng. Những gương mặt hốc hác vì đó đói, những đôi bàn tay thô ráp nứt nẻ. "Làng Vọng một năm qua có được gì?" Đắc hỏi to. Ông Trương tuần đứng đầu hàng đáp: "Một năm bến yên, đò chạy, không nhà ai bị siết đồ, không ai bị Hội Đò bắt đi." "Vậy làng Vọng đã mất gì để có cái yên ấy?" Đắc vặn lại. Dân làng nhìn nhau. Họ ngơ ngác. Chẳng ai thấy mình mất gì cả. Ruộng vẫn cày, cá vẫn đánh, tên tuổi vẫn còn đó. "Làng không biết mình mất gì, vì cái mất ấy nằm ở chỗ sâu nhất." Đắc quay sang ông thu bến. "Bây giờ, tôi đề nghị tất cả mọi người ở đây gọi tên người giữ sổ đời trước của tiệm Đợi." Ông Trương tuần hắng giọng: "Thì là bà Đợi chứ ai." "Không. Đó là tên người ta gọi ở chợ." Đắc lắc đầu. "Tôi muốn các người gọi tên cúng cơm của bà." Ông Trương tuần mở miệng, rồi ông khựng lại. Một giây, hai giây trôi qua. Gương mặt ông ta nhăn nhúm lại như cố nhớ ra một điều gì đó rất giản đơn nhưng lại bị một bức tường vô hình ngăn cản. "Bà... bà..." Ông ta ú ớ. Đắc chỉ tay sang bà Hoán: "Bà Hoán, bà là bạn thân từ nhỏ của bà ngoại tôi. Bà gọi đi." Bà Hoán đứng bật dậy, đôi môi run rẩy. Bà nhớ rõ bà ngoại Đắc thích ăn trầu không cay, nhớ rõ bà ngoại Đắc có cái nốt ruồi bên cánh mũi trái, nhớ cả tiếng cười của bà. Nhưng khi định phát âm cái tên ấy, cổ họng bà chỉ phát ra những tiếng khò khè. "Tôi... tôi chả nhớ." Bà Hoán ngồi thụp xuống, hai tay ôm mặt. "Rõ ràng là biết, mà sao chữ nó chạy đi đâu mất." Hai người khác trong làng cũng thử. Người thì gọi nhầm sang tên một người đã khuất từ lâu, người thì vừa mở miệng đã quên mất mình định nói gì. Cả sân đình chìm vào một nỗi sợ hãi kỳ lạ. Họ nhận ra mình đã đánh mất một thứ mà họ chưa từng nghĩ là có thể mất. "Ông thu bến thấy chưa?" Đắc quay lại, giọng đanh thép. "Một năm qua bến đò này yên ổn là vì cả làng đã trả bằng chính cái tên ấy. Họ đã dùng sự lãng quên tên người thân thiết nhất để đổi lấy sự bình an. Cái giá ấy, Hội Đò đã thu rồi, chỉ là ông chưa ghi vào cột giá." Ông thu bến im lặng. Ông ta nhíu mày, cây bút lông trên tay hơi khựng lại. "Lệ không cho phép ghi những thứ không thấy được." Ông thu bến vặn lại. "Có ghi." Đắc lật cuốn sổ tiệm Đợi ra, trải rộng trên quầy gỗ. "Ngày hai mươi ba tháng Chạp năm đói. Bà ngoại tôi đi từng nhà, nhận những món đồ rách nát nhất để bảo lãnh nợ cho làng. Ba mươi hai dòng này, mỗi dòng đều có dấu tay của chủ nhà. Ông đối chiếu với bảng kê của ông đi. Đúng ba mươi hai món này, Hội Đò đã nhận lễ nước từ tay bà ngoại tôi bằng một giao kèo thế thân. Nếu cái tên ấy chưa mất, sao người làng không ai gọi được?" Ông thu bến cầm bảng kê, đối soát từng cái tên bằng mực đỏ với những dòng trong sổ tiệm. Tiếng giấy sột soạt hòa với tiếng bấc đèn cháy lách tách. "Đúng là có sự thiếu hụt trong trí nhớ của dân làng." Ông thu bến thừa nhận. "Luật khí không tự sinh. Cái được của làng là cái mất của bà Đợi. Tôi ghi nhận mười tám lượng bạc còn thiếu đã được trả bằng danh tính người giữ sổ." Ông ta hạ bút, vạch một đường mực đen dài lên bảng kê nợ. Dân làng thở phào, một vài người lảo đảo như vừa trút được gánh nặng nghìn cân. Lúc này, từ góc tối của tán cây gạo, Thầy Khoát bước ra. Hắn vẫn mặc bộ đồ màu xám tro, gương mặt nhã nhặn nhưng đôi mắt lạnh lẽo. "Khoan đã." Thầy Khoát lên tiếng. "Phạm Đắc, cậu thắng bằng luật, nhưng cậu quên mất một tì vết." Đắc nhìn hắn: "Thầy muốn nói gì?" "Người giữ sổ không được cầm đồ của chính mình." Thầy Khoát đi lại gần quầy gỗ. "Bà ngoại cậu đã cầm chính mình cho Hội Đò để cứu làng. Theo luật tiệm, giao kèo đó vô hiệu ngay từ đầu. Nếu cậu tuyên bố nó vô hiệu, bà ngoại cậu sẽ thành chưa từng cầm đồ. Bà sẽ tự do ngay lập tức mà cậu chẳng mất gì cả." Nhài đứng sau lưng Đắc, mắt sáng lên: "Thật thế sao anh Đắc?" Đắc nhìn Thầy Khoát, rồi nhìn dân làng đang chờ đợi. Hắn cầm cái vòng bạc của bà ngoại lên, ngón tay cái miết vào vết mòn chỗ bông hoa cúc. "Giao kèo vô hiệu thì bà tôi về được." Đắc nói chậm rãi. "Nhưng nếu bà chưa từng cầm mình, thì phần lễ nước mười tám lượng kia lấy gì bù vào? Lúc đó, nợ sẽ bật ngược trở lại đầu dân làng. Hội Đò sẽ siết bến ngay trong đêm nay. Có đúng không, ông thu bến?" Ông thu bến gật đầu: "Đúng luật là vậy." Thầy Khoát mỉm cười: "Cậu chỉ cần lo cho bà cậu thôi, còn làng này, họ tự làm tự chịu. Đó là lối tắt sạch sẽ nhất cho cậu lúc này." Đắc im lặng nhìn Thầy Khoát. Hắn nhớ đến khuôn mặt thằng Cò mà hắn không còn gọi được tên, nhớ đến cái Nhài mà giờ hắn chỉ có thể gọi là "cô". Hắn biết cái giá của những lối tắt. "Tôi không dùng lối tắt ấy." Đắc trả lời, giọng không đổi. "Bà tôi giữ sổ bốn mươi năm, chưa từng để nợ bật ngược lại con nợ. Tiệm Đợi không làm thế." Thầy Khoát thu lại nụ cười. Hắn gật đầu, lùi lại một bước: "Cậu giống bà cậu hơn tôi tưởng. Đáng tiếc." Đúng lúc đó, tiếng trống từ phía đình gõ lên ba hồi dài. Giờ Tý đã đến. Sương mù từ sông Vị tràn lên sân đình, làm ánh đèn bão mờ đi. "Giờ Tý." Ông thu bến đứng dậy. "Giao kèo của làng đã xong, nhưng giao kèo của Vũ Thị Bảy thì chưa. Phạm Đắc, theo luật, muốn chuộc người thì người ruột thịt phải gọi đúng tên cúng cơm của người ấy. Gọi đi, để tôi xóa tên trong sổ Hội Đò." Đắc bước lên trước bệ đá. Hắn mở miệng, định gọi cái tên đã hằn sâu trong tâm trí hắn suốt mười chín năm qua. Nhưng khi hơi thở đẩy lên cổ họng, hắn bỗng thấy một khoảng trống mênh mông. Cái tên ấy như một con cá trơn tuột, lặn mất tăm vào vùng tối của ký ức. Hắn thử lại lần nữa. Môi hắn mấp máy, nhưng không có âm thanh nào phát ra. "Anh Đắc, gọi đi!" Nhài thốt lên, cô bước tới định nói thầm vào tai hắn. Ông thu bến đưa tay ngăn lại: "Người ruột thịt gọi. Người khác nhắc không tính. Sai một chữ, thiếu một âm, giao kèo vĩnh viễn không đổi." Đắc nắm lấy thành quầy gỗ. Hắn nhớ mặt bà. Hắn nhớ mùi trầu, nhớ cái ghế tre mòn bóng, nhớ cả cách bà cầm cân. Chỗ đáng lẽ là cái tên thì trống. Hắn đã trả nó cho tiệm từ tối mồng Bảy, lúc chạm tay vào chiếc vòng bạc. Hắn cúi xuống, lật thật nhanh cuốn sổ giấy dó của mình. Hắn tìm đến trang ghi ngày mồng Tám tháng Giêng. Ở đó, có một dòng chữ do chính tay hắn viết, mực vẫn còn hơi sẫm. Dòng sổ ấy ghi: "Cầm: Tên cúng cơm của Vũ Thị Bảy. Hạn: Rằm tháng Giêng." Và ở cột giá, vốn dĩ hắn không đọc được, thì nay những nét chữ bỗng hiện lên rõ mồn một. Nét chữ mảnh, sẫm hơn mực tàu một bậc. Đắc cầm cây bút lông, nhúng đậm mực đen. Hắn nhìn vào cột giá của chính mình. "Giá: Tên cúng cơm của người giữ sổ hiện tại." Hắn không do dự. Đắc đặt bút xuống, viết thẳng tên mình vào cột giá: "Phạm Đắc". Hắn gạch một đường dứt khoát qua dòng nợ, rồi cầm con dấu bằng gỗ thị của tiệm Đợi, ấn mạnh xuống. Tiếng "cộp" khô khốc vang lên giữa sân đình. Con dấu vừa chạm giấy dó thì trong miệng hắn có chữ trở lại. Ba tiếng, nằm sẵn ở đó, như chưa từng đi đâu. Hắn ngẩng đầu lên, nhìn thẳng vào bóng tối phía cửa đình. "Vũ Thị Bảy!" Ba tiếng ấy đi hết sân đình. Không ai nói gì. "Vũ Thị Bảy!" Dân làng bắt đầu gọi theo. Họ ngạc nhiên thấy môi mình tự phát ra được cái tên ấy. Âm thanh cộng hưởng như một luồng sóng đẩy lùi màn sương mù đang bao phủ sân đình. Từ bóng tối của gian đình chính, một bóng người chậm rãi bước ra. Bà cụ mặc áo nâu sồng, tóc búi gọn, vai hơi còng xuống. Bà đi qua bệ đá, không nhìn ông thu bến, không nhìn dân làng. Bà đi thẳng đến sau quầy gỗ của tiệm Đợi. Bà Bảy nhìn vào rương đồ cầm cố, rồi nhìn xuống cuốn sổ. "Hàng họ xếp thế này thì hỏng hết, Đắc ạ." Bà nói đúng một câu, giọng tỉnh táo và bình thản như thể bà chỉ vừa đi chợ về muộn một chút. Bà ngồi xuống chiếc ghế tre, tay kéo cái cân tiểu ly lại gần mình. Ông thu bến đóng tủ sổ của Hội Đò lại. Ông ta nhìn Đắc, rồi nhìn bà Bảy, gật đầu một cái coi như lời chào rồi đứng dậy rời đi. Người làm việc của Hội Đò xách đèn theo sau, bóng họ dài ra rồi mất hút trên đường đê. Dân làng Vọng bắt đầu tản ra. Họ đi trong sự ngơ ngác, thỉnh thoảng có người quay lại nhìn tiệm Đợi với ánh mắt phức tạp. Họ đã có lại tên của người giữ sổ, nhưng họ không biết mình vừa mất đi thứ gì khác. Nhài bước lại gần quầy gỗ, cô nhìn Đắc, ánh mắt đầy lo lắng. "Anh... anh không sao chứ?" Đắc nhìn cô, hắn định mỉm cười nhưng cơ mặt cứng lại. "Anh tên là gì?" Nhài hỏi, giọng cô nhỏ dần. "Tự nhiên em... em không nhớ được anh tên gì nữa." Bà Bảy đang lật trang sổ cuối cùng, tay bà khựng lại. Bà ngước lên nhìn cháu mình, đôi mắt đục mờ của người già hiện lên một tia đau xót. Đắc mở miệng. Hắn biết mình có một cái tên. Hai chữ, bố mẹ hắn đặt trước khi chìm xuống sông Vị. Chỗ ấy bây giờ trống. Hắn nhìn xuống tay mình. Mực tàu còn dính ở ngón trỏ. Bà Bảy kéo cuốn sổ lại, lật tới trang cuối, rồi quay ngược sang cho hắn xem. Trên trang ấy có một dòng mới. Nét chữ mảnh, không phải chữ hắn, cũng không phải chữ bà. Bà đọc dòng ấy. Bà đọc xong thì ngẩng lên nhìn hắn, và bà không đọc lại lần nữa. Đắc cúi xuống nhìn theo. Chữ ở đó rõ từng nét, nét sổ nét mác đều rõ. Mắt hắn trượt đi.