Chương 1: Một gáo dừa vào đầu chân nhân
Thuộc tiểu thuyết Trọng Sinh Dưới Chân Núi Tản
Tác giả: Trần Phong · Thể loại: Huyền Huyễn · Đăng ngày · 2211 từ · khoảng 11 phút đọc
Chuyện ông Sơn ở bến Ngọc, người ta kể nhiều kiểu lắm. Trên chợ huyện kể ông đánh đổ cả Hội Đò bằng một cây sào. Mấy ông đồ thì bảo ông là thần núi đầu thai, có sách hẳn hoi, sách ấy tôi đọc rồi, sai từ trang đầu. Tôi kể theo cách ông ấy kể cho tôi, hồi ông ấy còn nhớ.
Ông ấy bảo phải bắt đầu từ cái gáo dừa.
Giờ Dần ngày mười một tháng Tư, trời chưa rạng, trên khúc sông Đà chỗ bến Ngọc, Tản Sơn chân nhân, người đứng đầu Đạo Sơn hai trăm mười bảy năm, mở mắt ra và thấy mình đang kéo lưới.
Trước đó một khắc ông ấy đang chết. Cái này ông ấy nhớ rõ: sấm trên đỉnh Tản, mưa đứng thành cột, rồi một luồng lạnh đi vào giữa hai bả vai. Không ai đánh được người ở bậc ấy từ phía sau, trừ kẻ được phép đứng sau lưng. Ông không kịp quay lại, nhưng ông nhận ra đường kiếm, vì chính tay ông đã dạy nó, gần ba trăm năm trước, vào một buổi chiều nắng đẹp. Còn ba ngày liền trước đêm ấy thì không có gì. Ông tìm, chẳng thấy lấy một mảnh, chỉ sót lại một mùi nhựa thông cháy và tiếng chuông đá gõ ba nhịp, chẳng biết từ đâu.
Rồi tới sông.
Hai bàn tay đang bám dây. Dây ướt, nặng, cứa đúng vào mấy chỗ phồng, và cái đau ấy rất lạ, vì đã lâu lắm rồi không có gì làm ông ấy đau được ở lòng bàn tay. Dưới chân là ván thuyền trơn mùi cá. Đằng đuôi thuyền có một cái lưng còng gầy như cái móc treo, quấn khăn vuông, đang chửi.
"...mày đứng đấy mà ngủ à? Mày ngủ đứng như con ngựa à? Lưới nó trôi sang đất lão Cả Bền bây giờ, lão ấy lại chẳng ra chợ rêu rao cho, kéo đi cho tao nhờ, giời ơi là giời, tao đẻ ra bố mày đã khổ, bố mày đẻ ra mày còn khổ hơn..."
Từ lúc bước chân lên đỉnh Tản chưa ai nói với ông ấy bằng cái giọng đó. Mười hai trưởng lão Đạo Sơn, lúc thưa chuyện, phải đứng cách ba bước, mắt nhìn xuống đất. Ông ấy chưa hiểu chuyện gì đang xảy ra, nhưng một người ở vị trí ấy, gặp kẻ vô lễ không rõ lai lịch, có một việc phải làm trước tiên. Ông ấy buông dây, đứng thẳng người giữa con thuyền nan, chắp tay sau lưng, và dùng cái giọng từng làm cả chính điện im phăng phắc:
"Ngươi là ai?"
Tiếng chửi ngừng.
Cái lưng còng từ từ quay lại. Trời vừa đủ sáng để thấy một khuôn mặt nhăn, miệng đỏ trầu, đôi mắt nhìn ông ấy lâu tới mức một con cá kịp nhảy lên rồi tõm xuống. Rồi bà cúi xuống, nhặt cái gáo dừa múc nước đáy thuyền.
Người ở bậc Dời Non đỡ được đá lở bằng một tay. Thằng nhóc mười sáu tuổi ở bến Ngọc thì không. Cái gáo bay qua nửa con thuyền, trúng giữa trán, kêu cốp một tiếng rất gọn, và người đứng đầu Đạo Sơn ngồi phịch xuống đống lưới.
"Ngươi!" Bà đã bước tới, thuyền không hề chòng chành. "Ngươi à? Mày học ở đâu ra cái chữ ngươi? Mười sáu tuổi đầu, tao nuôi mày từ hồi mày bằng con mèo, tao rửa đít cho mày, giờ mày đứng giữa thuyền chắp tay đít hỏi tao là ai? Tao là ai à? Tao là con mụ già sắp chết vì mày đây này!"
Bà há miệng chửi, và ông ấy nhìn thấy cái răng thiếu. Bên trái, chiếc răng cửa.
Con sông im đi.
Ông ấy kể tới đây bao giờ cũng dừng một lúc. Suốt mấy trăm năm ấy ông vẫn nhớ tới bà, nhớ theo kiểu người ta nhớ một món nợ: có một bà già, bà nuôi mình, mình bỏ đi, bà chết đói mùa nước năm mình mười tám. Mỗi năm tới ngày đó ông sai đệ tử thắp hương. Nhưng cái mặt thì mất từ quãng năm thứ một trăm. Có lần ông ngồi tĩnh toạ chín ngày liền để gọi cho được khuôn mặt ấy về, một người thuộc từng nhánh mạch khí của ba ngọn núi mà gọi không nổi, chỉ còn sót lại là bà thiếu một cái răng, không nhớ bên nào.
Bên trái.
"Bà," hắn nói.
Từ chỗ này tôi gọi là hắn. Ông ấy dặn thế, ông ấy bảo thằng nhóc mười sáu tuổi chưa đáng một chữ ông.
Tiếng "bà" bật ra vỡ đôi, cái giọng vịt đực của tuổi ấy. Mặt hắn ướt. Hắn lấy mu bàn tay quệt đi và làm như đó là nước sông.
Bà nhìn hắn thêm một lúc nữa, giọng hạ xuống được nửa chừng. Bàn tay ráp như vỏ cây thò ra, sờ cái trán hắn, rồi vòng ra sau gáy, ngón cái miết qua cái sẹo bỏng nhỏ hắn có từ thuở nào, y như người ta thử xem nồi đã sôi chưa.
"Bà gì mà bà. Giờ mới biết là bà. Tao ném có một cái, làm gì mà mặt mũi như đưa đám thế. Hay mày ốm? Đêm qua mày có đi lội không? Kéo lưới đi đã, ốm thì về rồi ốm, ăn đi rồi hẵng cãi, mà chưa có gì mà ăn, kéo đi."
Hắn kéo. Nói cho đúng là hắn cố. Hai trăm năm không đụng tới việc tay chân, đầu hắn biết rõ lực nước, biết sợi đay chịu được bao nhiêu, mà lưng thì chẳng biết gì, may có hai cái tay thằng nhóc tự nhớ lấy việc của chúng. Cái khó hơn là thở. Hít vào theo phép đã thành nếp, hơi đi từ đan điền ra khắp mạch, còn thằng nhóc bến Ngọc thì xưa nay chỉ hít vào cho có hơi. Giờ hắn thở theo lối cũ, cái thân này mở toang ra, và thủy khí dưới sông, thứ dòng khí hắn không hợp, chui vào theo từng hơi, đau như nuốt đá. Hắn nghiến răng, cố tập thở cho thật ngu.
Lưới lên được ba con cá giếc, một con cua, một mớ rác và cái dép rách của ai đó.
Bà nhìn mẻ lưới rồi nhìn trời, chép miệng, gỡ con cua thả vào giỏ.
"Hôm nay mồng mấy hả bà?" Hắn hỏi, rất thận trọng, cố làm giọng thằng cháu.
"Mười một. Còn bốn ngày nữa là lễ nước mà mày còn hỏi mồng mấy. Năm nay chưa biết lấy gì mà nộp, mày thì đứng hỏi tao là ai."
Mười một tháng Tư, năm hắn mười sáu tuổi.
Hắn biết năm ấy. Mặt bà thì quên, nhưng năm ấy hắn nhớ, vì đó là năm hắn rời làng đi thi lên núi. Và trước đó vài tháng, trong một đêm nào đó hắn chưa bao giờ biết rõ, cái Mây nhà bên biến mất, người ta bảo nó theo lái buôn xuôi về đồng bằng. Hắn tin. Mười sáu tuổi, hắn buồn được mấy hôm. Hơn một trăm năm sau, trong đống giấy tờ cũ của một trạm thu, hắn đọc được cái tên ấy trên một dòng sổ, biết nó đã chết ở thượng nguồn năm mười bảy tuổi, và hắn ngồi lặng một lúc, rồi uống nốt chén nước.
Đoạn này thì không phải ông ấy kể tôi nghe. Lúc tôi hỏi tới, ông ấy đã không còn nhớ nữa. Tôi biết từ chỗ khác, chuyện đó để sau.
Nói tới chén nước. Thứ hắn thèm nhất sáng hôm ấy, buồn cười thật, là chén nước thượng nguồn. Suốt hai trăm năm, sáng nào đệ tử cũng dâng lên một chén, thứ nước lấy tận đầu sông gửi về núi, mát, ngọt hậu, người trên đỉnh Tản ai cũng uống, bảo nuôi khí. Giờ thì hắn ngồi giữa thuyền, miệng đắng, tay rớm máu, và còn lâu mới có ai dâng gì.
Cập bến lúc mặt trời vừa lên khỏi rặng tre. Bến Ngọc buổi sáng ấy trông bé hơn hắn tưởng rất nhiều: bốn mươi nóc nhà tranh dưới chân núi, một sân phơi cá, một cái bãi bồi cắm hàng cọc tiêu chạy ra tới luồng, và cái mùi cá phơi, bùn non, khói rơm mà đã lâu lắm hắn chưa từng ngửi lại. Sau lưng làng, ba ngọn Tản đứng trong mây, xanh và xa.
Hai bà cháu về căn nhà sát mép bãi. Bà lục trong chạn ra một nắm cơm nguội bọc lá, đẩy vào tay hắn.
"Của mày đấy. Tao ăn rồi."
Hai trăm năm hắn không ăn cơm, lên tới bậc Vững Gốc là khí nuôi thân, không cần nữa. Hắn cắn một miếng, và cái thân mười sáu tuổi đói từ đêm qua nhảy bổ vào nắm cơm đó như chó vào máng, hắn không kịp ngăn, ăn tới nửa nắm mới ngẩng lên được. Lúc đó hắn thấy bà đang ngồi trên bậc cửa, quay lưng lại, nhai trầu, nhai rất chậm, một tay giữ ngang bụng. Trong chạn không còn gì, hắn trông thấy rồi.
Tao ăn rồi.
Hai năm nữa, mùa nước, bà sẽ chết như thế này: ngồi ở đâu đó, quay lưng lại, bảo với ai đó rằng bà ăn rồi.
Hắn đứng dậy, mang nửa nắm cơm còn lại ra, đặt lên đùi bà. Hắn định nói một câu gì đó, mà đứng đấy không có câu nào.
Bà liếc xuống nắm cơm rồi liếc lên hắn, nheo mắt.
"Mày bị làm sao đấy? Tao hỏi thật. Sáng nay mày bị ma nào nhập?"
"Cháu no rồi."
"No cái đầu mày." Nhưng bà cầm lấy, và tay bà hơi run, hắn thấy.
"Ê! Sơn! Nghe nói mày bị bà ném gáo vỡ đầu à?"
Tiếng ấy từ dưới sông vọng lên. Có một cái đầu đen nhẻm đang rẽ nước vào bờ, miệng ngậm quai giỏ, bơi nhanh tới mức nước sau lưng tách ra thành hai vệt. Nó đứng dậy ở chỗ nước tới đùi, nhả cái giỏ ra, vắt tóc, nhe một cái răng khểnh. Mới sáng ra chuyện cái gáo đã tới được giữa sông, bến Ngọc là thế.
Cái Mây. Mười lăm tuổi, đen, dài chân dài tay, đang sống.
Hắn đã chuẩn bị cho chuyện đó, hắn tưởng thế. Cái hắn không chuẩn bị là thứ vắt ngang vai nó.
Một vệt sáng mờ, rất mảnh, như sợi cước phơi nắng, nằm ngang tầm mắt hắn và đi theo nó khi nó bước. Hắn chớp mắt, nó vẫn đấy. Hắn nhìn sang bà, sang rặng tre, chẳng có gì. Hắn nhìn lại cái vệt và nhìn sâu vào nó, theo thói quen của người suốt đời nhìn mạch khí, thì nó mở ra.
Hình ảnh đi qua câm lặng, như nhìn từ dưới nước lên. Đêm. Trăng non quá nửa, đúng cái trăng của đêm nay, đọc trăng thì hắn không nhầm. Một chiếc thuyền mui đen đậu ở mép bãi ngoài, treo một ngọn đèn. Cái Mây đi xuống bãi, tay ôm tay nải, không ai giữ nó, không ai đẩy nó. Nó đứng lại ở chân ván, quay đầu nhìn về một căn nhà sát mép bãi. Căn nhà này. Rồi nó tự đi lên ván, tự cúi đầu chui vào mui thuyền, và ngọn đèn tắt.
Hết. Sợi cước lại chỉ là sợi cước.
"Mày nhìn gì mà như con cá chết thế?" Cái Mây khoát nước vào chân hắn. "Đúng là vỡ đầu thật rồi."
Hắn nghe tiếng mình nói ra, rất bình tĩnh, cái giọng đã ra lệnh cho nghìn người:
"Đêm nay ngươi đi đâu?"
Nó há miệng, rồi cười phá lên, cười gập cả người, gọi to về phía nhà bên: "Tí ơi ra mà nghe! Anh Sơn nhà bà Nhàn gọi chị là ngươi!" Nhưng trước khi nó cười, có một chỗ rất nhỏ, chừng một cái chớp mắt, nụ cười chưa kịp lên tới mắt nó. Đọc người thì hắn đọc cả đời rồi, hắn thấy.
Hắn còn chưa kịp hỏi lại thì có tiếng bước chân nhẹ trên mặt bãi, và một cái bóng dừng ở cạnh hắn. Đứa trẻ này mặc áo vải lành, da trắng hơn đám trẻ bến, một tay cầm cái que quấn mạch nha, tay kia dắt cái Bống năm tuổi, em cái Mây, đang ngậm một que khác, ngủ gà ngủ gật mà vẫn đi.
Về thằng này tôi phải nói cho đúng, vì nó không đáng được nói đỡ. Con ông Diêm buôn muối, mười lăm tuổi, ngoan, lễ phép, cả bến ai cũng khen, đứa bé nào cũng được nó cho kẹo. Đấy là hồi ấy.
Nó ngẩng lên, cười với hắn, cái cười trong veo, và chìa que mạch nha ra.
"Anh Sơn ăn kẹo không?"
Gần ba trăm năm hắn nghe giọng ấy gọi sư huynh. Hắn dạy nó cầm kiếm. Hắn trao cho nó chỗ đứng sau lưng mình.
Bàn tay phải của Đinh Vũ Sơn, tự nó, không cần ai bảo, đã tìm tới con dao vá lưới giắt ở cạp quần.