Chương 2: Bảy cái cọc trong đêm
Thuộc tiểu thuyết Trọng Sinh Dưới Chân Núi Tản
Tác giả: Trần Phong · Thể loại: Huyền Huyễn · Đăng ngày · 2135 từ · khoảng 11 phút đọc
Con dao vá lưới của bà Nhàn dài bằng ngón tay giữa, lưỡi mỏng, mài đi mài lại bốn chục năm nên chỉ còn bằng cái lá tre. Dao ấy cắt đay. Muốn cắt cổ một thằng bé mười lăm tuổi thì phải đúng chỗ, phải dùng hết sức, và phải ở gần.
Hắn tính xong trong một hơi thở. Ba bước, thằng bé không đề phòng, phía bên trái dưới quai hàm là chỗ mạch nổi, sau đó chạy ra sông, nước sâu cách đấy mười lăm sải.
Tôi kể đoạn này chẳng vui gì, nhưng ông ấy dặn đừng bỏ. Ông ấy bảo đó là lúc người ta nên biết rõ cái ông cụ mà tôi vừa kể cho cười ấy thật ra là thứ gì. Hắn đã từng giết người, nhiều, có lần cả một trại. Ngón tay hắn đặt lên chuôi dao không hề run, cái run là ở bắp tay, vì bắp tay đó chưa ăn no, và ở đầu gối.
Thằng Trạch vẫn chìa que kẹo.
Cái Bống bên cạnh nó ngủ gật, mũi thò lò chảy xuống tới mép. Thằng Trạch không nhìn, chỉ hơi cúi, lấy vạt áo lành chùi cho con bé một cái, gọn, quen tay, rồi lại ngẩng lên cười.
"Em để phần anh đấy. Bố em vừa ở dưới đồng về, có mạch nha tốt, chị Mây bảo anh sáng nay bị đau đầu."
Hắn nhìn cái bàn tay đó, dính kẹo, móng cắt sạch, chưa có một vết chai, chưa từng cầm kiếm. Trên cõi đời này ngày hôm nay chưa có nhát kiếm nào hết, thứ duy nhất có là một thằng bé đang lau mũi cho một đứa bé.
"Sơn!" Tiếng bà trên nhà. "Mày chết ở đâu rồi, ra phơi lưới!"
Hắn thả chuôi dao ra.
"Bần đạo không..." Hắn nuốt nửa câu lại. Cái Mây sau lưng đã kịp nghe, reo lên như bắt được của. Hắn sửa, cổ cứng đơ: "Tao không ăn."
Thằng Trạch chớp mắt một cái.
"Vâng," nó nói. Rồi nó bẻ đôi que kẹo, đưa nửa cho cái Mây, dắt cái Bống đi tiếp, không hỏi thêm câu nào.
Ông ấy bảo tôi ghi rằng hắn không ra tay vì tiếng bà gọi, vì có mặt người, vì bắp tay yếu. Ông ấy không muốn ai ghi công cho thứ gì cao hơn thế. Tôi ghi.
---
Tiếng tù và vang lên lúc mặt trời đứng bóng.
Cả bến Ngọc biết tiếng ấy, chó cũng biết, chó chui vào gầm phản. Một chiếc thuyền mui đen từ khúc quanh đi xuống, cắm lá cờ vẽ ba làn sóng, và hắn đứng giữa đống lưới đang phơi, thấy chính nó, chính cái mui ấy, cái mũi vuông ấy, trong sợi cước sáng nay.
Không ai bảo mà cả làng đều ra sân phơi cá, đàn bà bế con, đàn ông đứng cúi, chừng hai trăm người trên cái sân đầy mùi tanh. Từ trên thuyền bước xuống trước là một gã râu quai nón, vai u, áo chàm cộc tay, dao bản rộng giắt hông. Đó là Cai Ngạnh, tu tới bậc Nhóm Khí, dân bến trước mặt gọi là cai, sau lưng gọi là con cá ngạnh. Gã bước rất nặng, chỗ gã bước qua hắn cảm thấy thủy khí xao lên như nước sau mái chèo. Hồi còn trên núi, hắn không biết mình đã từng đi ngang bao nhiêu kẻ bậc một mà không để ý. Giờ hắn tính ra một đấm của gã làm vỡ được cái sọ mình.
Sau gã là một người béo chắc, râu thưa, áo the sạch tới mức lạ ở giữa bến cá, tay cầm quyển sổ bọc da lươn, móng tay cắt rất gọn. Đó là ông quản Lý Thu Hoạch của Hội Đò Sông Đà. Cả đời tôi chưa nghe ông ấy quát bao giờ. Ông đứng lên cái thùng gỗ người ta đặt sẵn, mở sổ, đợi cho sân yên, rồi đọc bằng cái giọng của người đọc kinh mà nghĩ tới bữa trưa.
"Thưa bà con. Năm nay nước kém, mạch sông kém, trên có lệnh. Tôi đọc để bà con cùng nghe."
Ông rút từ trong sổ ra một tờ trát giấy dó, giơ lên, cuối tờ có một dấu ấn vuông màu xanh sẫm.
"Lễ nước năm nay, các bến từ Ghềnh Đá tới bến Trúc, nộp gấp đôi lệ thường. Đóng vào rằm tháng Tư. Nhà nào thiếu thì ghi nợ. Nhà nào nợ đã quá hai năm, nộp người."
Sân cá im một lúc, cái im của đám đông vừa bị đánh vào bụng, rồi tiếng thì thào lan ra.
Để tôi nói về lễ nước cho rõ. Dân ven sông sống nhờ sông, thì mỗi năm nộp cho sông, đó là lệ từ mấy trăm năm, cha ông đều nộp, chẳng ai hỏi. Tính bằng muối, vì trên thượng nguồn muối là tiền, một bơ là một ống gỗ đong đầy, đủ cho một nhà ăn mặn cả tháng. Nhà bà Nhàn lệ thường năm bơ, một năm nhặt nhạnh mãi mới đủ. Năm nay mười.
"Bẩm ông quản." Ông Trùm Lạc, đầu bến, tóc bạc phơ, đã khom xuống. "Xin ông quản thương cho, nước kém thật, cá kém thật, gấp đôi thì bà con bến này lấy đâu ra mà..."
"Sổ nói thế," ông quản nói, nhẹ như gạt một hạt bụi. Ông lật một trang. "Nhà ông Vạc, nợ ba năm. Nhà góa Bưởi, nợ hai năm rưỡi. Bà con có bốn ngày."
Hắn đứng ở cuối sân, mắt nheo lại. Chuyện gấp đôi làm hắn thấy lạ. Hai trăm năm ngồi ghế trấn phái, năm nào hắn cũng đọc giao ước với Thủy Phủ, sông nhận bao nhiêu, núi được bao nhiêu, thuộc lòng, mà hắn không nhớ đời cũ có năm nào lễ nước tăng đôi cả. Nhưng cái năm hắn mười sáu tuổi thì hắn nhớ được gì, một thằng nhóc lo kéo lưới, nghe người ta chửi trời chửi đất. Năm ấy có khi có thật mà hắn chẳng để ý. Cái ấn thì xa quá, hắn chỉ thấy một chấm xanh.
Một bàn tay nhăn véo vào bắp tay hắn, đau điếng.
"Đừng có đứng thẳng lưng như thế," bà nói nhỏ, không quay đầu. "Cúi xuống. Ông quản mà nhìn thấy đứa nào đứng như quan là ông ấy nhớ mặt, mà ông ấy nhớ mặt ai thì người đó đi đời, ông nội mày ngày xưa cũng đứng thẳng như thế đấy, tao bảo mãi."
Hắn cúi xuống. Cả đời hắn chưa biết cúi xuống sao cho giống người cúi.
Thuyền mui đen không đi ngay. Hội Đò còn đi thu một vòng các nhà nợ, chập tối mới dời ra đậu ở mép bãi ngoài, lấy nốt mấy thứ rồi đi lên Ghềnh Đá cho kịp đêm. Hai bà vá lưới ngồi cạnh hắn bàn nhỏ với nhau chuyện ấy. Từ sân cá ra bãi ngoài, thuyền lớn phải đi vòng theo luồng cọc tiêu.
Đủ rồi. Nước cờ thứ nhất là đây.
---
Nhà cái Mây ở ngay cạnh, cách một bờ rào dâm bụt thưa. Bảo là nhà thì hơi quá. Bố nó, ông Vạc, ba năm trước bỏ lại cái khung nhà và một cái thuyền hỏng rồi một chiều đi chài không về, u nó mất lúc đẻ cái Bống, giờ trong đó có ba chị em và một cái bếp. Thằng Tí chín tuổi, đầu trọc để chỏm, bụng ỏng, đang ngồi ở sân khoét một cái vỏ ốc to bằng cái que, thấy hắn vào thì ngẩng lên hỏi liền ba câu.
"Anh Sơn có thật bị ném không? Có chảy máu không? Em xem được không?"
Hắn đi qua nó như đi qua một cái cột. Cái Mây đang ngồi trong bếp, quay lưng lại, buộc túm cái gì đó bằng một mảnh vải. Thấy hắn vào, nó ném cái gói đó vào góc, tiện tay vơ cái rổ.
"Đại nhân giá lâm," nó nói. "Ngươi có việc gì?"
Hắn không cười. Hắn đã nghĩ kỹ đường đi: không thể nói với nó rằng ta biết trước, không ai tin, chỉ cần đêm nay nó ở yên trong nhà, còn lại để hắn lo.
"Đêm nay mày ở nhà. Không được ra bãi. Có ai gọi cũng không được đi."
Cái Mây đặt cái rổ xuống, nhìn hắn từ đầu tới chân, chậm rãi, đúng cái kiểu bà già nhìn con cá nghi đã ươn.
"Mày bị ném thật."
"Tao nói nghiêm túc."
"Mày đang ra lệnh cho tao đấy à?" Nó bắt đầu nhại, hai tay chắp sau lưng, cằm hếch, cái giọng ồm ồm đúng đến mức tệ: "Đêm nay ngươi ở nhà. Hãy lui." Thằng Tí ngoài sân cười sằng sặc. "Thế mày nuôi em tao à? Mày biết lễ nhà tao năm nay bao nhiêu không? Mày có biết sáng nay thằng Tí ăn gì không? Hay mày biết bói, bói xem chiều nay tao có bắt được con cá nào không? Về phơi lưới đi Sơn, bà mày đang gọi kìa."
"Mày..."
"Tính đi rồi nói." Nó quay lưng, nhấc cái rổ. "Mày có tính được gì thì hẵng sang."
Hắn nhìn cái lưng ấy thêm một lúc rồi đi ra. Một con bé mười lăm tuổi không hiểu, và cũng chẳng cần nó hiểu.
Hồi ông ấy kể cho tôi chuyện này, tới chỗ đó ông ấy bắt tôi ghi đúng mấy chữ, và tôi viết nguyên văn: hắn không hỏi trong gói vải có gì.
---
Việc thì đơn giản. Ông Tư Cọc coi hàng cọc tiêu của bến, mỗi sáng chèo ra đếm, bốn mươi hai cái, cắm từ mỏm Đá Mũi chạy chéo ra giữa sông, đánh dấu cái luồng cho thuyền lớn đi qua bãi. Ngoài hàng cọc là doi cát ngầm, mùa này nước chỉ trên mặt cát hai gang tay. Ban đêm thuyền không nhìn nước, thuyền đi theo cọc, đầu mỗi cọc buộc một mảnh vải trắng. Dời bảy cái ở đoạn cuối, xiên đi một chút, luồng giả sẽ đâm thẳng vào doi cát, và thuyền mắc cạn tới sáng, cách mép bãi ngoài cả một quãng nước. Đêm nay qua đi là cái trăng ấy qua đi. Sợi cước trên vai con bé sẽ tắt.
Hắn ngồi ăn bát canh rau bà nấu, loãng tới mức thấy đáy, và cảm thấy cái khoái nhỏ quen thuộc của người đặt quân.
Chập tối, thuyền mui đen còn đậu ở sân cá, người Hội Đò đang đi các nhà. Bà ngáy từ sớm. Hắn ra bãi, lội xuống.
Thằng Sơn mười sáu tuổi lội sông như người ta đi bộ. Khổ nỗi người đang lội lúc này mang theo cả một đời thói quen. Vừa ngập tới ngực, cái lạnh đã chui vào, hắn lỡ hít một hơi theo phép, và thủy khí của cả con sông đổ vào đúng cái lỗ đó. Răng hắn đập vào nhau. Cảm giác như ai cầm nắm sỏi nhét thẳng xuống họng rồi xoa đều ra khắp xương.
Hắn ngậm miệng lại, thở như thằng kéo lưới, hít, thở, hít, thở, đừng nghĩ.
Cái cọc thứ nhất cắm sâu hơn hắn tưởng. Chân hắn dẫm xuống cát, hai tay ôm thân tre, lắc. Giờ hắn lắc tới khi tay rã, cọc mới lỏng, hắn kéo được nó lên, ôm nó bơi đi một quãng, cắm xuống, dẫm cho chặt, mảnh vải trắng ướt dính vào má.
Cánh quẩn sau mỏm Đá Mũi kéo chân hắn đi. Cái này tôi phải nói, vì về sau còn nhắc. Sông chảy xuôi, nhưng sát bờ, ngay sau một mỏm đá nhô ra, nước quay ngược lại, chảy về phía nguồn, người bến gọi là cánh quẩn, trẻ con bến Ngọc học điều đó trước khi học nói. Hắn thì quên béng. Nó vớt hắn đi ba sải trước khi hai cái chân thằng nhóc tự đạp ra được.
Tới cái thứ bảy thì trăng đã lên cao, và hắn không còn cảm thấy mười đầu ngón tay. Hắn cắm nó xuống, dựa vào nó mà thở, lạnh run bần bật, nước ngập tới cổ, nhìn lại hàng vải trắng lờ mờ bây giờ cong đi một đoạn rất đẹp, cái đường cong mà chỉ người đã đứng trên cao đọc cả dòng sông mới biết vẽ. Bùn và vảy cá dính đầy người. Hắn cười, lần đầu từ sáng tới giờ. Mặt mũi một chân nhân lúc đó, ông ấy kể, chắc giống con rái cá vừa ăn trộm được gà.
Đằng xa, phía sân cá, có người vừa thắp đèn.
Ngọn đèn treo cao, vàng, lắc nhẹ. Rồi nó bắt đầu di chuyển, chậm rãi, đi ra phía hàng cọc.