Chương 5: Cân cho đúng
Thuộc tiểu thuyết Tuyết Đen
Tác giả: Hải Đăng · Thể loại: Mạt Thế · Đăng ngày · 2157 từ · khoảng 11 phút đọc
VỰA MƯỜI CÂN. MUA BÁN ĐỒNG, NHÔM, SẮT THÉP, GIẤY VỤN. NƯỚC.
Chữ NƯỚC được viết thêm bằng sơn đỏ, còn ướt mép, trên tấm bảng tôn cũ treo ở cổng một cái bãi rộng chừng 2 sân bóng chuyền, cách quốc lộ 200 mét, sâu trong một xóm ở Bình Chánh. Đoàn mình tới đó lúc 07:15 sáng ngày thứ 5, với đúng 1 chai rưỡi nước cho 7 người, vì trên giấy cô tính 1 chai mỗi người mỗi ngày, trong khi ngoài đời chị Diệp bầu 34 tuần, bà Tư nấu, và ông Bảy đổ thêm nước vào két xe trong lúc cô không để ý. Đó là lần đầu con thấy cô tính sai. Con nhìn cái chai rồi nhìn cô, không nói gì, con thật là đứa khó sống chung.
Trước cổng có khoảng 30 người xếp hàng, mỗi người một cái can và một bao tải. Không ai chen. Mọi người bịt khăn ướt, đứng cách nhau một khoảng đều, im lặng theo cái cách của những người đã biết luật. Tới lượt thì đổ bao tải ra một cái bàn cân sắt lớn, một thằng nhỏ đọc số, một bà ghi sổ, và người đó được đi vào sân đong nước. 1 ký nhôm là 1 can 20 lít. 3 ký sắt là 1 can. Đồng thì khỏi nói. Xe máy tháo ra cân, dây điện đốt vỏ rồi cân. Thằng Phèn nhảy khỏi xe trước khi xe dừng, đứng nhìn cái bàn cân với vẻ mặt mà cô chỉ thấy ở những người lần đầu gặp đức tin.
"Chị Hai bác sĩ," nó thì thầm, giọng run lên, "ở đây người ta còn xài kí lô."
Cô đi theo mùi nước vào trong sân. Nói cho đúng là đi theo tiếng, vì nước chảy nghe rất rõ khi cả một vùng không còn tiếng gì khác. Giữa sân, dưới mái tôn che tạm, có một cái giếng khoan bơm tay loại cũ, và có một người đàn ông cởi trần đang bơm. Cần bơm lên, cần bơm xuống. Vòi giếng nối vào một đoạn ống nhựa xanh dẫn tới 2 cái bồn 2.000 lít đặt trên giàn sắt. Cô đếm được 4 giây một nhịp. Tấm lưng người đó đen sạm, gân nổi đều, trên lưng có một lớp nước và bụi đã khô rồi lại ướt, rồi khô, thành vân như vỏ cây. Cô đi vòng ra trước mặt anh ta, và anh ta không để ý tới cô.
Bên cạnh đó có một bà già đang đạp xe. Xe đạp cũ, gắn trên giá, bánh sau tháo ra, thay bằng dây curoa nối tới một cái đinamô to bằng nồi cơm, dây điện chạy tới một dãy bình ắc quy. Bà đội nón lá, chân đạp đều, hai tay nắm ghi đông, mắt nhìn về phía trước như đang đi chợ. Cô đoán từ cách người ta sửa cái giá là bà đã được dời từ ngoài đường vào đây.
Cô đứng đó hơi lâu. Rồi có người kéo một cái ghế nhựa tới cho cô.
"Cô Hai ngồi đi. Đứng ngoài trời hít bụi uổng lắm."
Đó là một người đàn ông ngoài 50, bụng tròn, áo ba lỗ, kính lão trễ xuống mũi, khẩu trang vải ướt đeo rất ngay ngắn, một tay cầm cái cân đòn nhỏ loại đi chợ của mấy bà bán thuốc bắc. Giọng ông nhỏ và dễ nghe, cái giọng của người chưa cần nói to lần nào trong đời. Sau này cô biết đó là Mười Cân, vựa này của ông, 60 miệng ăn trong bãi này là người của ông. Ông nhìn cái áo blouse, nhìn ống nghe, nhìn tới cục u trên trán cô.
"Thằng Sửu," ông nói, chỉ người bơm bằng cái cân. "Nó đang bơm nước rửa xe cho tui hồi trưa ngày thứ 2 thì nó vậy. Tui kêu hổng được, tui cũng sợ như mọi người. Mà qua tối, thấy nó còn bơm. Qua sáng, còn bơm. Tui mới nghĩ, nước nó chảy ra sàn uổng quá. Tui nối cái ống. Đó, cô Hai, tui chỉ nối cái ống thôi."
"Còn bà kia?"
"Bà Bông bán bánh ở đầu xóm. Bà ấy đạp xe đi bán thì bị. Đứng giữa đường, ngã xuống vẫn đạp. Tui cho người khiêng về. Chứ để ngoài gió bụi tội nghiệp. Hổng có bà Bông thì đêm không có đèn, không có đèn thì mấy đứa nhỏ ở đây khóc." Ông đẩy kính lên. "Thằng Sửu bơm 24 tiếng được 40 khối, cô Hai biết hông. 40 khối là nước uống cho cả cái xóm này với 3 xóm kế bên. Mỗi can tui lấy chút đỉnh là để có đồng mua dầu, mua gạo, nuôi người canh cổng. Ai không có gì đổi thì tui cho nợ, tui ghi sổ. Cân cho đúng."
"Đó là một con người," Khang nói.
Cô không biết cậu ấy theo vào từ lúc nào. Khẩu trang cậu ấy thở phập phồng. Con đứng phía sau, sát hông cậu ấy.
"Bệnh nhân. Hai bệnh nhân. Ông lấy hai bệnh nhân không có năng lực nhận thức rồi gắn vô máy, em xin phép nói thẳng, cái này là tội, cái này còn tệ hơn tội. Ổng có vợ con hay không? Có ai hỏi ổng chưa? Chú tính xem, ổng làm vậy 24 giờ không nghỉ thì tim ổng, khớp ổng..."
"Mạch nó tốt lắm, cậu," Mười Cân nói, không hề khó chịu. "Tui có cho người bắt thử. Mà hồi sáng tới giờ cậu uống nước chưa?"
Khang ngừng lại.
"Bà Tư bên cậu mới mua của tui 1 can nhỏ, trả bằng cái mâm nhôm. Tui thấy cậu uống ngoài kia rồi, khi nãy. Ngon hông?"
Ngoài sân, cần bơm xuống, cần bơm lên. Khang đứng yên một lát rồi cúi đầu chùi khoé miệng qua lớp khẩu trang, một cử chỉ vô ích, cô thấy tội cho cậu ấy lần đầu. Mười Cân ngồi xuống cái ghế đối diện cô, đặt cái cân đòn lên đầu gối.
"Tin chạy nhanh hơn xe, cô Hai. Tui có 3 thằng đang ho ban đêm. Tui nghe nói cô đọc được."
Vậy là cô biết tại sao có cái ghế.
Ông mở một cuốn sổ bìa đen, giơ cho cô xem. Mỗi trang là một cái tên, dưới tên là chữ ký, có chỗ là dấu vân tay. Ông nói từ ngày thứ 3 tới giờ, ai trong xóm biết mình sắp lặp thì có thể tới gặp ông. Người ta đã thấy họ hàng mình đi tới đâu rồi: ho, rồi quên tên cái ly, rồi lặp lại một câu, rồi 2 ngày sau là đứng im giữa đường làm một việc vô nghĩa cho tới khi không còn ai đi ngang. Nhưng nếu trong những ngày cuối cùng đó người ta đang đứng ở chỗ này, đang cầm cái cần này, đang đạp cái máy này, thì họ sẽ lặp việc đó. Một việc có ích. Gia đình họ được ghi vào sổ của Mười Cân, mỗi ngày 1 can nước và 2 ký gạo, chừng nào vựa còn thì chừng đó còn. Trong sổ đã có 4 tên.
"Người ta còn gì để bán nữa đâu cô Hai," ông nói. "Có mỗi cái động tác cuối cùng. Vậy thì bán cho có giá."
Cái khó của ông nằm ở ngày tháng. Bắt người ta đứng cầm cái cần từ bây giờ thì không ai làm, mà để trễ thì họ kẹt ở đâu đó giữa đường, mất luôn cả họ lẫn lời hứa. Ông cần biết chính xác còn bao nhiêu ngày. Và ở đây, trên chiếc ghế nhựa này, có người đọc được chuyện đó. 3 thằng ho ban đêm, ông trả 1 can 20 lít cho mỗi lượt đọc. Dầu thì tính riêng.
Cô có 7 người, 1 chai rưỡi nước, nửa bình dầu, và cái vạch của con sáng nay còn 16. Đáng lẽ phải là 17. Hôm qua con ngồi trên cầu lâu, gió bụi tạt vô cửa xe lúc ông Bảy chạy, cô đã thấy gió có ăn vào vạch rồi. Tính theo giá của mình thì 3 lần đọc là 3 món. 3 món đổi 60 lít nước.
Cô thấy đây là giá quá rẻ.
"Em xin phép cãi," Khang nói, rất nhỏ, sau lưng cô.
"Cậu đi đổ nước đi."
"Chú tên gì?" cô hỏi người thứ 1, một người đàn ông xương xẩu đã xưng tên từ lúc ngồi xuống. Ông nhìn cô lạ, rồi nói lại: Hào, 44 tuổi. Vạch 11, còn gần 3 tuần. Người thứ 2 là thằng Vũ, 19 tuổi, vạch 8. Mười Cân gật đầu, ghi vào một cuốn sổ khác bằng cây bút bi buộc dây, chữ tròn như chữ học sinh. Người thứ 3 đi ra từ phía đống vỏ lon, cao, gầy, tay đầy vết cắt, mặc cái áo thun của một công ty gì đó đã giải thể, và anh ta dắt theo một đứa nhỏ chừng 4 tuổi, sau đó bảo nó đứng yên chỗ cái thùng phuy chờ ba. Tên anh là Đực, 31 tuổi. Cô bắt cổ tay anh, đặt ống nghe lên ngực anh qua lần áo mỏng. Anh ta ngó lên trời y như con ngó lên trời. 1, 2, 3.
Vạch 26.
Cô giữ ống nghe ở đó thêm 1 giây, để tính lại. Có những người hỏi cô câu đó bằng mắt, cô quen rồi. Anh Đực nhìn cô, rồi nói nhỏ, không phải sợ, mà để đứa nhỏ đừng nghe:
"Dạ, chị cứ nói số. Em có chuẩn bị."
"4 ngày," cô nói.
Anh gật đầu mấy cái, như người ta nghe giờ xe chạy. Anh quay qua Mười Cân, xin ông cho xem cái giếng thứ 2 ở cuối bãi, cái mà ông mới cho khoan hôm qua, cần bơm còn sơn đỏ. Rồi anh quay lại phía cô, ngập ngừng, một tay gãi cái vết cắt ở cổ tay.
"Chị bác sĩ cho em hỏi, cái này có cần tập trước hông chị? Tại em chưa bơm cái loại này bao giờ. Em sợ tới lúc đó tay em nó làm sai thì hổng ra nước."
Cô mở miệng.
Cô đã nói với hàng nghìn người rằng họ bị ung thư, rằng con họ không qua khỏi, rằng chồng họ đã mất lúc 03:40. Cô có câu cho từng trường hợp, cô từng dạy sinh viên những câu đó.
"Tôi không biết," cô nói. "Chắc nên tập."
Ngoài sân thằng Phèn đang cãi với thằng nhỏ đọc số về cách tính cái gương xe cong. Đứa con của anh Đực ngồi xổm cạnh thùng phuy, vẽ cái gì đó lên lớp bụi bằng một cọng dây đồng. Anh ta đi tới cái giếng mới, đứng nhìn nó, rồi nắm thử vào cần bơm. Xuống, lên, xuống. Rất chậm. Tay anh còn lóng ngóng, anh sửa lại chỗ nắm.
Cô ngồi một lát trên cái ___ kê ở góc vựa, đọc Danh mục, kiểm tra đủ: mất thêm 3 món. Tổng cộng sáng nay trừ của con nữa là 4. Mười Cân đến, đưa cô tờ biên nhận đã ghi sẵn. Ông cho khiêng ra xe 3 can nước, 40 lít dầu, cộng thêm 10 cái khăn xô và một ký muối, vì ông thấy chị Diệp. Cô nói thỏa thuận là 3 lượt. Ông nói phải, 3 lượt là 3 can, còn 40 lít dầu giá trị bằng 1 lượt, tính theo ký gạo thì cô đang thiếu ông 1 lượt đọc. Ông đọc số cho cô nghe, không sai đồng nào. Rồi ông ngoắc đầu về phía căn chòi lợp tôn ở góc bãi, nơi có một người đàn bà tóc bạc đang ngồi nhặt đậu bên cửa.
"Vợ tui. Bả ho từ đêm có tuyết. Bữa nay cô Hai vội thì thôi, tui biết cô tính từng lần. Khi nào cô có dịp ghé thì đọc cho bả. Tui ghi."
"Tôi không ghé lại đây đâu."
"Đường có một đường à, cô Hai." Ông đẩy kính lên, đưa cuốn sổ cho cô ký. "Cân cho đúng."
Cô ký. Lúc xe ra khỏi cổng thì trời bắt đầu nóng, tiếng 2 cái cần bơm nghe lệch nhịp nhau từ xa, một cái đều, một cái đang tập. Khang ngồi ở băng 5, không nói một lời suốt buổi sáng hôm đó, cậu ấy không uống nước, tới chiều bà Tư phải dí chai vào tay cậu ấy.
Giao ban trưa, ngày 5. Nước: 66 lít. Khẩu trang kín: 19. Khăn xô: 10. Dầu: gần đầy. Đã đọc: 18 lần. Danh mục còn 42. Người bệnh Lâm Mỹ Châu: còn 16. Nợ: 1 lượt (Mười Cân).
*Bút chì: Băng ca. Cô ghi hôm bữa rồi mà.*
*Bút chì: Thằng nhỏ con anh Đực vẽ cái bơm nước. Con có ra coi.*