Chương 1: Mười một triệu bốn và một cái xe cũ
Thuộc tiểu thuyết Ván Cược Cuối Cùng
Tác giả: Minh Khang · Thể loại: Đô Thị · Đăng ngày · 4231 từ · khoảng 21 phút đọc
Trần Hữu Nghĩa vuốt lại xấp tiền lẻ trên tấm chiếu giữa phòng trọ. Hắn đếm lần thứ hai. Tờ năm trăm nghìn duy nhất nằm trên cùng. Dưới đó là những tờ mệnh giá hai mươi nghìn, mười nghìn và năm nghìn đồng đã bạc màu, mép giấy sờn rách sau bao bận qua tay người ta. Hắn xếp chúng lại cho phẳng phiu, gõ nhẹ cạnh xấp tiền xuống sàn nhà gập ghềnh cho các góc trùng khít. Hắn chia tiền thành ba phần nhỏ. Một phần dành cho cái xe hủ tiếu cũ. Một phần cho nguyên liệu đợt đầu. Phần còn lại là tiền xoay vòng tối thiểu cho hai mươi lăm ngày tới.
Hắn ngồi im lìm giữa bốn bức tường ẩm mốc, bám chặt lấy từng con số khô khốc. 11.400.000 đồng là tất cả những gì còn sót lại trong cuộc đời hắn sau cơn đại hồng thủy tài chính. Hắn đã thanh lý sạch mớ bàn ghế cũ cuối cùng ở kho hàng cũ. Hắn đã chắt bóp nộp nốt tháng tiền phòng trọ tồi tàn này ở Quận 4. Khoản nợ 4,2 tỉ đồng vẫn lơ lửng như một chiếc thòng lọng siết chặt trên đầu. Mười hai triệu đồng tiền gốc lãi cho kỳ trả đầu tiên vào ngày 10 tháng sau là một cái mốc cứng ngắc, không có chỗ cho sự trễ nải hay van xin.
Nghĩa định đứng dậy. Một cơn nhói buốt từ thắt lưng truyền thẳng lên đại não khiến sống lưng hắn đông cứng. Hắn khựng lại, hai bàn tay thô ráp bấm chặt xuống mặt chiếu cói. Hắn giữ nguyên tư thế khom lưng trong mười giây dài đằng đẵng. Đĩa đệm chỗ đốt sống L4-L5 phản ứng dữ dội sau trọn một ngày cuốc bộ khắp hang cùng ngõ hẻm lùng mua đồ thanh lý. Hắn thở hắt ra từng hơi nặng nhọc, mồ hôi rịn ra trán lạnh ngắt. Hắn đợi cơn đau tê buốt dịu dần đi, rồi dùng lực hai cánh tay chống mạnh lên đùi, từ từ đẩy người đứng thẳng dậy. Hắn không dám dùng cơ lưng. Hắn buộc phải dùng sức của cơ đùi và khớp gối. Đó là cách duy nhất để hắn còn có thể trụ vững và đứng bếp suốt nhiều tiếng đồng hồ sắp tới.
Chiếc điện thoại cũ nằm trơ trọi trên sàn gạch bỗng rung lên từng chặp bần bật. Nghĩa cúi xuống nhặt máy. Màn hình nứt một đường chéo hiện lên dòng tin nhắn ngắn ngủi từ Bé Diệp: "Con không cần tiền của bố. Bố đừng nhắn tin nữa."
Hắn đứng sững, nhìn chằm chằm vào những ký tự vô cảm phát ra thứ ánh sáng xanh xao. Đứa con gái mười bốn tuổi của hắn đã phải gánh chịu quá nhiều tủi nhục. Hắn nhớ như in chuỗi ngày đen tối ấy: hai năm trước, khi chuỗi mười bốn quán hủ tiếu Quán Tư bắt đầu thua lỗ triền miên, hắn đã cắn răng ký thỏa thuận bán quyền khai thác thương hiệu cho người ta để gom vốn gồng gánh, nhưng rồi đến một năm trước, cú đánh chí mạng từ vụ bê bối dầu bẩn tráo đổi trong hệ thống nhượng quyền đã khiến toàn bộ chuỗi quán chính thức sụp đổ hoàn toàn trong sự tẩy chay cay nghiệt của dư luận. Con bé Diệp bỗng chốc trở thành con nợ, phải chuyển trường giữa chừng trong sự dè bỉu của bạn bè thầy cô. Nghĩa run run bấm phím, ngón tay thô kệch dừng lại thật lâu trước khi gửi đi một chữ độc nhất: "Ừ".
Hắn nhét vội chiếc điện thoại vào túi quần jean sờn chỉ. Hắn cầm xấp tiền bốn triệu rưỡi, bước dứt khoát ra khỏi căn phòng trọ ngột ngạt.
***
Bãi thanh lý đồ cũ nằm sâu hút trong một con hẻm ngoằn ngoèo ở Quận 7. Không gian nơi này ngập ngụa mùi kim loại rỉ sét quyện với mùi dầu nhớt khét lẹt. Người bán là một gã đàn ông trung niên mặc áo may ô ố vàng, bụng phệ trễ tràng, đang ngồi xổm trên chiếc ghế nhựa húp xì xụp tô mì gói nguội ngắt. Thấy bóng người, gã chỉ chiếc đũa tre về phía góc tường chất đầy phế liệu:
"Đó, cái xe hủ tiếu gõ inox dày cui nằm sau đống bàn ghế mủ đứt góc đó. Thùng nước lèo còn mới tinh tươm. Tui rao bốn triệu rưỡi là giá bèo nhèo sát ván rồi nghen, không có bớt một cắc đâu."
Nghĩa không thèm đôi co. Hắn tiến lại gần, bước chậm rãi quanh chiếc xe một vòng. Ngón trỏ hắn gõ nhẹ vào từng mảng thành xe, lắng tai nghe độ rung và âm sắc dội lại từ lớp kim loại. Inox 201 cán mỏng, tuyệt đối không phải inox 304 chuẩn công nghiệp. Loại này chỉ cần gặp muối mặn và mỡ nóng vài tháng là xỉn màu, hoen ố ngay. Hắn quỳ gối xuống, nghiêng đầu soi kỹ phần khung sắt chịu lực dưới gầm.
"Chỗ mối hàn chân bếp chịu lực nứt chân chim rồi anh." Nghĩa ngẩng lên, giọng đều đều không chút biểu cảm.
Gã bán xe ngừng nhai, sợi mì còn lơ lửng nơi khóe miệng. Gã nhíu mày: "Đâu ra? Khung đó sắt hộp dày cui, tui bao anh nhảy lên nhún còn không suy suyển."
Nghĩa đưa ngón tay chỉ thẳng vào đường nứt ngầm sát góc nối: "Nó nứt ngầm từ phía trong mối hàn do nhiệt co ngót. Xe này anh đặt nồi nước dùng bốn chục lít, hầm xương củi lửa rừng rực liên tục chừng ba tiếng, kim loại giãn nở vì nhiệt cộng với tải trọng nặng là cụm bếp này sụp gãy ngay tại chỗ."
Gã bán xe chép miệng, vờ vịt xua tay: "Ối dào, chuyện nhỏ, đem ra đầu hẻm thợ chấm một que hàn điện là dính chặt như keo chứ có gì to tát."
"Bánh xe bên trái này bạc đạn rơ lỏng, vành bị mòn vẹt một bên rồi." Nghĩa nắm lấy chiếc bánh xe đẩy, giật mạnh theo phương ngang cho gã thấy độ rơ. "Lúc xe rỗng không tải thì anh đẩy nhẹ re không thấy gì. Nhưng khi chất đủ bốn chục lít nước lèo sôi sùng sục, thêm năm bảy ký xương ống với đống tô muỗng bát đĩa, toàn bộ trọng tâm sẽ bị kéo ghì hẳn về bên trái. Trục bánh lệch tâm cọ xát liên tục vào gá đỡ, tạo lực cản cực lớn. Anh đẩy chừng một cây số là cái tay lái nó giằng trẹo cả khớp cổ tay, cơ bắp căng cứng như muốn đứt ra."
Gã đàn ông buông hẳn đôi đũa xuống mép bàn, đứng dậy bước chậm chạp tới cạnh Nghĩa, mắt nheo lại đánh giá: "Anh bạn... dân trong nghề rành sáu câu hả?"
Nghĩa không buồn nhìn gã. Hắn nhấc nắp thùng nước lèo lên, dùng đầu ngón tay cái miết một đường dài dọc theo gờ mép đậy.
"Nắp thùng này vênh mép, đậy không kín hơi rồi." Nghĩa ngước lên nhìn thẳng vào mắt gã bán xe.
"Kín bưng chứ vênh gì ba, tui dập nắp nghe cái cộp rõ ràng mà?" Gã bán xe gân cổ cãi.
"Nồi hủ tiếu truyền thống đặt trên bếp than tổ ong hay bếp than đước, cái giữ được độ ngọt của nước hầm chính là nhiệt âm ỉ và độ kín hơi tuyệt đối. Nắp vênh hở một rãnh thế này, gió lùa vào làm bốc hơi nước lèo, nhiệt thất thoát liên tục. Bình thường người ta ủ hầm một nồi nước bốn chục lít chỉ tốn hai đến ba viên than đước loại tốt cho một đêm tám tiếng, nhưng nếu hở nắp thế này, anh phải nhồi thêm than liên tục, tốn thêm ít nhất một phần ba lượng than mỗi ngày. Tính ra một tháng tiền than đội lên tiền triệu vô ích chỉ vì cái nắp thùng vênh mép."
Nghĩa đứng thẳng người dậy, phủi nhẹ lớp bụi rỉ sắt bám trên đầu ngón tay. Hắn nhìn gã bán xe bằng ánh mắt sắc lẹm:
"Ba triệu sáu. Tôi đếm tiền tươi lấy xe đi ngay bây giờ."
"Trời đất quỷ thần ơi! Anh ép giá người ta vừa vừa phải phải thôi chứ! Bốn triệu rưỡi mà anh chém ngọt xớt một triệu bạc xuống ba triệu sáu, tui còn lời lóm gì nữa trời?"
"Ba triệu sáu là anh tống khứ được cái xe nứt khung lệch trục này trước khi nó rỉ mục thêm một tháng nữa ở đây. Để tới lúc chân bếp sập hẳn, bánh xe kẹt chết thì anh chỉ có nước bán cân ký cho vựa ve chai ve chai sắt vụn được vài trăm nghìn."
Gã đàn ông đưa tay gãi mạnh cái đầu bù xù, mắt đảo qua chiếc xe cũ rồi nhìn chằm chằm vào khuôn mặt góc cạnh, lạnh tanh của Nghĩa. Ánh mắt ấy không có vẻ gì là của một kẻ đi kèo nài bớt một thêm hai ngoài chợ. Đó là ánh mắt của một kẻ đã từng đứng trên đỉnh cao vận hành chuỗi bếp, nắm rõ từng thông số hao mòn của thiết bị trong lòng bàn tay.
"Thôi được rồi, coi như tui xui xẻo đụng trúng sư phụ trong nghề! Ba triệu sáu thì ba triệu sáu!"
Nghĩa bình thản rút tiền, đếm đủ ba mươi sáu tờ một trăm nghìn đồng đã vuốt thẳng thớm trao tận tay gã. Hắn nhét số tiền còn lại vào túi trong. Hắn còn lại chính xác 7.800.000 đồng vốn liếng.
***
Năm giờ chiều. Nghĩa đạp chiếc xe máy cà tàng chở theo bộ đồ nghề chạy đến sạp xương của dì Năm Thoa nằm rìa ngoài chợ đầu mối. Giờ này chợ đêm chưa họp chính thức, mặt đường bê tông lênh láng nước thải tanh tưởi, nhưng các mối cung ứng thịt sỉ đã bắt đầu lục tục dọn hàng đón chuyến xe lạnh đầu tiên. Mùi máu tươi và mỡ tủy bò heo xộc thẳng vào cánh mũi buốt lạnh. Dì Năm Thoa đang ngồi vắt vẻo trên chiếc ghế đẩu gỗ cao, tay lật thoăn thoắt cuốn sổ nợ bìa da dày cộp. Trông thấy bóng Nghĩa lầm lũi bước vào, dì khựng tay, hạ gọng kính lão xuống sống mũi, nhìn hắn trân trối một hồi lâu rồi buông một tiếng thở dài thườn thượt.
"Tưởng con dạt đi xứ nào trốn luôn rồi chớ."
"Tui về rồi dì Năm." Nghĩa bước nhanh tới, chủ động cúi xuống dùng hai tay nhấc bổng cái giỏ sắt chứa xương ống heo nặng trịch lên bàn cân đồng hồ giúp dì. "Cho tui lấy lại mối hàng."
Dì Năm nhìn cái giỏ xương, rồi nhìn lại bộ dạng gầy rộc, đôi má hóp sâu và chiếc áo sơ mi bạc phếch vì sương gió của Nghĩa.
"Lấy mấy ký?" Dì hỏi, giọng trầm xuống.
"Dì để cho tui bốn chục ký một ngày. Tui lấy hàng vào cữ cuối chiều này để kịp về chặt xương ngâm muối, ninh hầm qua đêm." Nghĩa đáp rành rọt.
"Giờ xương ống loại một đã lên ba mươi tám nghìn một ký rồi đó nghen con. Hàng nạc dính tủy đỏ, xương mới mổ buổi chiều, tuyệt đối không có loại đông lạnh ngâm nước đâu." Dì Năm nhắc chừng.
Nghĩa gật đầu dứt khoát: "Tui biết giá thị trường mà, dì cứ yên tâm."
Dì Năm ngừng hẳn ngòi bút bi trên trang giấy nợ, ngước mắt nhìn thẳng vào mặt hắn, hạ giọng thật thấp: "Có tiền tươi chưa? Hay lại tính nợ?"
"Dì cho tui nợ gối đầu như hồi trước. Cuối tuần tui gom tiền bán được, chiều thứ Năm tui qua thanh toán dứt điểm một lần không thiếu một cắc."
"Nghĩa nè... chuyện nợ nần ngoài kia của con đã êm xuôi chưa? Sao không tìm mối quen kiếm một chân quản lý bếp hay làm công ăn lương cho đỡ nhức đầu, lại đâm đầu vào cái nghề xe đẩy cực như chó này?" Dì Năm khẽ thở dài, trong mắt thoáng tia ái ngại.
Nghĩa né tránh ánh nhìn từng trải của bà già. Hắn cúi đầu nhìn chằm chằm vào những khúc xương ống tươi rói còn rỉ máu đỏ tươi trên mặt bàn cân inox.
"Chuyện đó để sau đi dì. Giờ tui chỉ cần có đủ hàng để đỏ lửa lại thôi."
Dì Năm lắc đầu ngao ngán: "Hồi nẳm con làm ông chủ lớn, chuỗi mười bốn mười lăm chi nhánh rải khắp thành phố, con nợ tui một tuần cả trăm triệu tiền xương tui chưa bao giờ chớp mắt. Giờ con trắng tay đi đẩy cái xe gõ đầu đường xó chợ, tui cho con nợ gối đầu cả triệu bạc mỗi ngày là tui đang nắm đằng lưỡi, liều mạng dữ lắm đó con có biết không?"
"Dì hiểu tính tui từ trước tới giờ mà." Nghĩa ngẩng lên, giọng đanh lại đầy kiên định. "Nghĩa này có thể mất sạch tiền bạc cơ nghiệp, chứ không bao giờ quỵt nợ ai nửa xu."
"Được rồi. Tui tin con lần này. Nợ gối đầu ba ngày thôi, đúng chiều thứ Năm hằng tuần là phải thanh toán sạch bách tiền tuần cũ rồi mới xuất hàng mới." Dì Năm dằn mạnh cây bút xuống mặt bàn gỗ, chốt hạ dứt khoát.
Nghĩa lặng lẽ gật đầu. Dì Năm mở lại xấp hóa đơn đã ố vàng theo năm tháng. Cái tên Trần Hữu Nghĩa từng chễm chệ ở trang đầu tiên với tư cách bạn hàng lớn nhất của cả khu chợ này. Năm ngoái, khi cái tin chuỗi Quán Tư phá sản nổ ra rầm rộ trên khắp các mặt báo vì vụ dầu bẩn, các chủ nợ xông vào xâu xé xiết từng cái bàn cái ghế, duy chỉ có bà già bán xương này là không nỡ vác đơn đến tận nhà đòi nợ hắn. Bởi vì mười năm trước, chính lúc vựa xương của dì Năm bị tay buôn lớn bên chợ Bình Điền lừa gạt quỵt sạch vốn liếng suýt phải nhảy cầu, Nghĩa đã không ngần ngại ký trước séc thanh toán ba tháng tiền hàng để cứu cả gia đình dì qua cơn bĩ cực.
Dì Năm xua tay cho hắn chuyển xương ra xe. Nhưng ngay khi Nghĩa vừa nắm lấy quai bao tải, bàn tay nhăn nheo, thô ráp đầy vết sẹo dao chặt thịt của dì bất thần chụp lấy cổ tay hắn, kéo giật mạnh lại gần. Giọng bà già bỗng chốc trở nên thầm thì, đầy vẻ nghiêm trọng:
"Thằng Hai nhà tui... nó vừa nhảy việc qua làm quản lý khu vực bên chuỗi Quán Tư mới của tụi nó đó. Nó mà tình cờ thấy mặt con mon men lấy hàng ở đây là nó báo về ban điều hành bên đó liền. Mấy đứa đó dữ dằn lắm, con liệu mà cẩn thận cái thân."
Nghĩa khựng người lại trong giây lát. Những ngón tay hắn siết chặt lấy quai bao ni lông dày cho đến khi các khớp xương trắng bệch ra.
"Tui biết rồi. Cảm ơn dì Năm."
Hắn vác hai bao tải xương ống nặng trịch trĩu cả vai ra chằng buộc cẩn thận sau yên xe máy. Bốn mươi ký xương ống trị giá 1.520.000 đồng. Hắn chưa phải móc tiền túi ra trả ngay nhờ ân tình cũ, nhưng món nợ ấy lập tức được hắn khắc sâu vào danh sách những con số buộc phải hoàn trả sòng phẳng. Nghĩa gạt chân chống, dùng sức đạp mạnh cần khởi động. Chiếc xe máy cũ kỹ khạc ra một làn khói xám đục, nổ lụp bụp từng tiếng mệt mỏi rồi lao vút ra khỏi cổng chợ đầu mối, hòa vào dòng xe cộ ken đặc trong buổi hoàng hôn chạng vạng.
***
Sáu giờ ba mươi tối. Nghĩa gạt chân chống chiếc xe máy ở một bãi đất trống đầu con hẻm cụt, cách khu phòng trọ của hắn chừng bốn trăm mét. Hắn không chạy xe vào mà lầm lũi đi bộ vào sâu bên trong. Con hẻm dài chừng tám mươi mét, lòng đường tráng xi măng nham nhở, bề ngang chỉ vừa vặn cho hai chiếc xe máy lách qua nhau nếu một bên chịu nép sát vào tường. Hai bên hẻm là bốn dãy nhà trọ hai tầng lợp mái tôn xi măng ọp ẹp dành cho công nhân. Những ô cửa sổ con con chắp vá bằng bìa carton hắt ra thứ ánh sáng vàng vọt, tù mù của những bóng đèn tròn công suất thấp. Nghĩa vừa đi vừa đưa mắt đếm chậm rãi từng cánh cửa gỗ dán ọp ẹp. Một. Hai. Ba... tổng cộng sáu mươi tám phòng trọ.
Hắn dừng chân ở điểm tận cùng của con hẻm. Một bức tường gạch rêu phong cao quá đầu người của khu kho bãi liền kề chắn ngang tạo thành ngõ cụt. Nơi này tối tăm, ẩm thấp, hơi đất ẩm xộc lên ngai ngái nồng nặc mùi nước cống rãnh. Đây chính là điểm hội tụ tĩnh lặng nhất của cả bốn dãy phòng trọ xung quanh. Hắn cúi đầu nhìn xuống mặt đường. Lớp bê tông cũ kỹ đã nứt toác lởm chởm, trơ cả những viên sỏi nhọn hoắt. Không một hàng quán ăn uống nào thèm bám trụ ở cái hốc tối tăm này. Khách vãng lai ngoài đường lớn chẳng bao giờ rồ ga quẹo vào một con hẻm cụt không lối thoát.
Nhưng trong đôi mắt của một kẻ từng gây dựng cơ nghiệp từ vỉa hè, Nghĩa nhìn thấy một mỏ vàng lộ thiên. Hắn liếc nhìn đồng hồ đeo tay. Sáu giờ bốn mươi lăm phút. Từng tốp công nhân mặc áo đồng phục xanh công nghiệp bắt đầu lầm lũi đi bộ về hẻm. Gương mặt ai nấy đều xám xịt, bơ phờ sau mười hai tiếng tăng ca vắt kiệt sức lực. Trên tay họ là những bịch ni lông đựng vội ổ bánh mì nguội ngắt, hay những hộp xôi xéo khô khốc mua vội ở cổng xưởng. Sáu mươi tám căn phòng trọ này chứa ít nhất một trăm năm mươi con người. Phần lớn là dân lao động tứ xứ lên thành phố làm thuê làm mướn, phòng ốc chật hẹp nóng bức cấm nấu nướng bằng bếp gas vì sợ hỏa hoạn. Họ thèm khát một bữa ăn nóng sốt, thèm một tô nước lèo nghi ngút khói có tủy xương béo ngậy để bù lại năng lượng sau một ngày cày ải. Quan trọng nhất, món ăn đó phải thật rẻ và nằm ngay sát trước cửa phòng để họ không phải lết đôi chân rã rời đi xa thêm một bước nào nữa.
Nghĩa nhẩm tính những phép toán quen thuộc trong đầu. Nếu mỗi đêm hắn chỉ cần kéo được hai mươi phần trăm lượng cư dân tại chỗ này ghé lại, hắn đã có chắc trong tay ba mươi tô. Ba mươi tô thì chưa đủ điểm hòa vốn. Hắn bắt buộc phải hút thêm nguồn khách từ các nhánh hẻm xương cá lân cận. Con hẻm này tuy cụt ở đuôi nhưng đầu hẻm lại thông thẳng ra con đường vành đai nối trực tiếp với cổng sau khu công nghiệp, chỉ cách chừng hai cây số chạy xe.
Hắn cúi người, dùng mũi giày vải bảo hộ đã sờn rách di đi di lại trên nền đất lởm chởm, cẩn thận đo đạc và đánh dấu vị trí dự kiến sẽ đặt hai bánh chiếc xe hủ tiếu. Góc thụt này kín gió, khói từ bếp than ủ sẽ men theo luồng gió hút lên cao qua khe hở giữa bức tường kho, tuyệt đối không tạt thẳng vào cửa sổ hay phơi quần áo của dãy trọ đối diện. Một vị trí hoàn hảo, khiêm nhường và lặng lẽ đến mức tàn nhẫn cho một kẻ đang phải bắt đầu lại từ con số âm.
***
Nghĩa quay gót trở ra đầu hẻm để về phòng trọ, dự tính bắt đầu nhóm lò than đầu tiên hầm nồi xương cho kịp mẻ bán thử đêm mai. Nhưng vừa đặt chân ra đến vỉa hè đường lớn, toàn thân hắn đột ngột khựng lại như bị điện giật.
Phía bên kia dải phân cách con đường bốn làn xe, cách chỗ hắn đứng chừng ba trăm mét, một giàn giáo thi công cao ngất đang được nhóm thợ gấp rút tháo dỡ. Ánh đèn LED trắng chói lòa hắt ra rực rỡ từ một tấm biển hiệu mặt tiền bề thế, nổi bật trên nền sơn màu cánh gián trầm mặc sang trọng. Dòng chữ lớn bằng mica nổi sáng rực:
"QUÁN TƯ - HỦ TIẾU MỸ THO TRUYỀN THỐNG".
Nghĩa đứng chôn chân bên rìa mép cống vỉa hè, hai mắt nheo lại thành một đường chỉ mỏng. Hắn nhìn chăm chú vào biểu trưng thương hiệu ngự trị trang trọng ở góc trái tấm bảng hiệu lộng lẫy kia. Đó không phải là một hình vẽ đồ họa vector vô hồn do máy tính thiết kế. Đó là một chữ ký tay được số hóa. Nét chữ "Tư" uốn lượn mềm mại nhưng ẩn chứa lực nhấn gãy gọn, dứt khoát của một người nắm quyền. Thế nhưng, ở nét gạch ngang kết thúc bên dưới lại có một vết xước khuyết nhẹ ở đuôi mực, và dấu chấm trên đầu con chữ mang một độ nghiêng lệch đặc trưng về phía bên phải rất dễ nhận ra đối với người đã tạo ra nó.
Đó chính xác là chữ ký tay của hắn.
Từng mảng ký ức nhức nhối như lưỡi dao cạo cứa vào da thịt dội về rõ mồn một. Hai năm trước, khi chuỗi quán mười bốn điểm rơi vào vòng xoáy nợ nần do mở rộng mặt bằng quá nóng, hắn đã phải cắn răng ký vào bản thỏa thuận độc quyền chuyển nhượng quyền khai thác thương hiệu Quán Tư cho tập đoàn của Đỗ Quang Kiệt nhằm lấy về một khoản tiền mặt khẩn cấp để gồng lỗ. Cây bút máy ký tên buổi chiều định mệnh ấy thực sự đã tắc mực ở nét gạch chân cuối cùng. Đỗ Quang Kiệt hôm đó đã vỗ vai hắn, nở nụ cười rạng rỡ đầy vẻ trân trọng và bảo rằng vết xước tự nhiên cùng dáng nét tài hoa của chữ ký này chính là linh hồn bất tử của chuỗi Quán Tư. Để rồi một năm sau, khi vụ bê bối dầu tái chế từ các cơ sở nhượng quyền mới bị phanh phui, Kiệt đã nhanh tay rút ruột toàn bộ hệ thống cũ, đẩy sạch trách nhiệm pháp lý và món nợ khổng lồ về phía người sáng lập ban đầu là Nghĩa, biến chuỗi mười bốn quán của hắn thành đống tro tàn phá sản, trong khi bản thân Kiệt lại lột xác thương hiệu bằng một pháp nhân hoàn toàn mới.
Bây giờ, chữ ký ấy được phóng đại lên gấp hàng trăm lần, ngạo nghễ tỏa sáng rực rỡ trên nóc một chi nhánh mới toanh giữa trung tâm sầm uất. Còn kẻ sinh ra nó thì đang đứng ở phía bên này bóng tối, trên một vỉa hè nhầy nhụa bùn đất, với hai bàn tay cáu bẩn mùi rỉ sắt của một chiếc xe đẩy phế liệu ba triệu sáu trăm nghìn đồng. Ba trăm mét lòng đường trải nhựa phẳng lì ngăn cách giữa hai bờ thực tại. Nó gần trong gang tấc nhưng lại xa vời vợi như hai thế giới vĩnh viễn không thuộc về nhau.
Nghĩa không mở miệng chửi rủa, cơ mặt cũng không hề giật lên vì phẫn nộ. Hắn hít một hơi thật sâu, nuốt trọn vị đắng ngắt nơi cuống họng vào sâu trong lồng ngực rồi lẳng lặng xoay người bước đi. Bóng lưng gầy guộc của hắn đổ dài trên nền xi măng, hòa tan dần vào bóng tối sâu thẳm của con hẻm trọ nghèo. Ngày mai, hắn sẽ phải thức dậy từ lúc hai giờ sáng để nổi lửa bếp than, tự tay rửa sạch và chần sơ bốn mươi ký xương ống đầu tiên. Ván cược này hắn chưa hề nhận thua. Hắn vẫn còn nguyên vẹn một chiếc lưỡi chuẩn xác để nếm trọn từng tầng vị của nước dùng. Hắn vẫn còn đôi bàn tay giữ vững nhịp điệu của nồi nước lèo truyền thống. Và quan trọng hơn cả, hắn vẫn còn một cái tên thật sự của chính mình — cái tên chưa từng và sẽ không bao giờ bị bán đi trên bất kỳ tấm bảng hiệu nào của kẻ khác.
Tiếng bước chân khô khốc, vững chãi của Nghĩa nện đều đặn trên mặt hẻm gập ghềnh, vang vọng vào màn đêm tĩnh mịch.