Chương 5: Bầu thứ hai

Thuộc tiểu thuyết Về Làm Dâu Làng Gốm

Tác giả: · Thể loại: Ngôn Tình · Đăng ngày · 1975 từ · khoảng 10 phút đọc

Mồng Mười tháng Ba.

Sương muối còn đọng trắng mặt lá cau ngoài sân, Nhài đã lách mình khỏi chăn. Nàng không nhóm bếp ngay như mọi khi mà đi thẳng ra sau nhà. Hơi lạnh thấm qua lớp áo nâu sờn, nhưng cái nóng âm ỉ phả ra từ khối gạch vôi của lò bầu mới là thứ khiến nàng nín thở. Lò đã nhóm lửa từ mồng Bảy, cháy ròng rã ba ngày đêm, rồi lại nín lặng chờ nguội thêm hai ngày nữa. Sáng nay là kỳ mở cửa.

Dưới chân lò, những dấu vết của ba đêm thức trắng hiện ra rõ mòn một. Đống củi nỏ cao ngang đầu người nay chỉ còn lại một góc nhỏ, trơ ra vài đoạn gỗ bìa cháy dở xám ngoét. Chấn đã đốt hết sạch mười lăm bó củi gộc trong ba đêm. Đống củi dự phòng sau lò vơi hẳn một mảng lớn. Ba đêm ròng, Chấn thức trắng hai đêm đầu để giữ lửa cháy đều. Đêm cuối cùng, Nhài ra thay cho anh chợp mắt một khắc. Chỗ nằm tạm của Chấn là một chiếc chiếu rách trải ngay sát chân lò để canh nhiệt. Anh lót thêm một lớp lá chuối khô dưới chiếu cho đỡ hơi đất. Trên đó vẫn còn vương vãi những mẩu thuốc lào cháy dở và một cái bát sành sứt mẻ. Chấn ngồi tựa lưng vào vách lò, đôi mắt đỏ quạch vì thiếu ngủ và ám khói. Râu anh lởm chởm trên cằm. Trên mu bàn tay trái của anh có một vết bỏng nhỏ bằng hạt ngô do than hồng bắn trúng. Cái Bến ngủ gục ngay cạnh đống tro bếp từ lúc nửa đêm. Chấn đã bế nó vào giường khi trời bắt đầu tảng sáng. Chiếc ấm đất kê trên mấy viên gạch làm bếp dã chiến đã cạn trơ đáy. Nhài đã đun lại nồi nước chè xanh tới lần thứ tư mới đủ cho anh tỉnh táo.

Chấn đứng dậy. Anh bước đến gần vách lò. Đôi bàn tay thô ráp áp vào lớp gạch bịt cửa. Anh sờ vào mảng vữa phía trên. Đoạn anh cúi xuống chạm tay vào giữa cửa lò. Sau cùng anh áp cả lòng bàn tay vào sát chân đế.

"Nguội hẳn rồi." Chấn nói.

"Mở được chưa u ơi?" Bà Tạ gọi vọng ra từ trong buồng.

Cái Bến cuống quýt: "Mở thật nhé? Thật không anh?"

Chấn gật đầu: "Thật."

Cái Bến vẫn chưa tin: "Có cháy hết không anh? Có hỏng không?"

"Đã dỡ đâu mà biết." Chấn đáp.

Nhài lẩm nhẩm: "Bốn mươi hai vại thô, mười sáu vại men, mười bình vôi, hai chục bát sành."

Cái Bến lại hỏi: "Lỡ hỏng hết thì sao?"

Chấn cầm cái búa nhỏ lên.

Anh gõ nhẹ vào lớp đất sét trát cửa lò. Lớp vữa đất bám trên khe gạch bắt đầu bong ra từng mảng. Chấn dỡ từng hàng gạch đinh bịt kín cửa lò từ trên xuống dưới. Tổng cộng có mười hai hàng gạch xếp khít nhau. Anh dùng một thanh sắt bẹt để bẩy từng viên ra ngoài. Những viên gạch vẫn còn âm ấm khi chạm vào tay trần. Một luồng hơi nóng hầm hập từ trong lòng lò phả mạnh ra sân. Nhài lùi lại một bước vì hơi nóng nồng mùi đất nung. Mùi men tro rơm bốc lên ngai ngái.

Cửa lò mở toang. Chấn dùng một chiếc sào tre có móc sắt để lấy hàng ra. Anh dỡ từng chiếc vại thô từ bầu thứ nhất. Mỗi lần đặt một cái xuống sân, anh lại đếm to. Một chiếc vại thô vừa chạm đất đã nứt toác làm đôi. Vết nứt chạy dọc từ miệng xuống đáy. Chấn xếp riêng mười cái vại từ bầu đầu tiên ra góc sân. Có ba cái bị nứt chân chim ở đáy. Hai cái khác bị méo miệng trông rất thảm hại. Năm cái bình vôi bị men chảy dính chặt vào nhau. Anh phải dùng búa gõ mạnh mới tách được chúng ra.

Mười chiếc bát sành bị sống lửa nên màu đất vẫn còn xám. Những chiếc vại hỏng được xếp thành một hàng bên trái sân. Nhài cúi xuống đếm: "Một vại, hai vại, ba vại..."

Cái Bến bấm đốt ngón tay. Nó lườm Chấn: "Tại anh cả đấy. Anh xếp vại tốt xa bầu hai làm chi? Chỗ ấy lửa mới đượm, giờ thì hỏng cả."

Chấn im lặng dọn mảnh vỡ. Anh không giải thích.

Nhài lên tiếng: "Hai năm nay chỗ ấy hay táp lửa hỏng hàng. Ai cũng tránh, không riêng anh Chấn."

Cái Bến xị mặt xuống. Nó không cãi nữa.

Chấn tiếp tục dỡ hàng ở các ngách lò. Có mười hai cái hũ bị rạn men chằng chịt như mạng nhện. Những món đồ hỏng nằm ngổn ngang trên nền đất. Chấn lầm lì thu dọn đống mảnh vụn sang bên cạnh. Cuối cùng anh mới dỡ tới dãy hàng ở sâu trong bầu thứ hai. Những chiếc vại ở đây được lấy ra sau cùng. Chúng nằm ở vị trí khuất nhất nhưng lại đón được luồng nhiệt quẩn.

"Mười một, mười hai... mười sáu cái vại có men." Chấn hô to.

Nhài nhìn những chiếc vại vừa ra lò. Màu men tro xám xanh hiện ra rõ rệt dưới nắng sớm. Lớp men này không bóng lộn như đồ men Sành Thượng ngoài phố. Nó vẫn còn những chỗ mỏng tang nhìn rõ xương đất bên dưới. Bề mặt vại hơi nhám chứ không mịn màng. Dẫu vậy, đây là những món đồ đẹp nhất mà lò này từng làm ra. Nhài đưa tay sờ vào vách vại còn ấm. Cái Bến chạy lại gần rồi bỗng dừng bước đứng nhìn. Chấn đặt chiếc vại cuối cùng xuống một cách cẩn thận. Anh nhìn dãy hàng mới mà không nói một lời nào. Tổng cộng sau khi trừ hết hàng hỏng, nhà họ Tạ còn lại ba mươi sáu món dùng được.

Chấn cầm một chiếc vại lên, xoay đi xoay lại dưới ánh sáng. Anh bỗng chỉ tay vào một đường nứt nhỏ chạy dọc vách lò bầu thứ hai.

"Lửa chạy lệch rồi Nhài ạ." Chấn nói bằng giọng thợ. "Cái khe nứt này làm ngọn lửa không thoát thẳng lên ống khói. Lửa bị quẩn lại ở đây lâu hơn hai khắc so với mọi khi. Chỗ này lửa già hơn hẳn nên men tro mới chảy đều được. Cô nhìn cái vại bầu một này xem, lửa non nên men vẫn còn bết lại. Còn cái vại bầu hai này ăn đúng cái lửa gắt nhất của mẻ. Men tro gặp lửa già mới ngấm sâu vào xương đất. Lửa đi tới đâu là men chín tới đó. Tôi chỉ cần nhìn vết loang ở cổ vại là biết nhiệt độ lò. Cái lò nứt này lại giúp mình giữ nhiệt cho men tro rơm."

Anh cầm hai cái vại ở hai bầu lò lên để so sánh cho Nhài thấy. Một cái xám xịt, một cái ánh lên sắc xanh của tro. Cái Bến quay phắt lại nhìn anh đầy ngạc nhiên. Nhài đứng im nghe hết những lời giải thích tỉ mỉ của anh. Xưa nay Chấn vốn lầm lì như hòn đá tảng. Đây là lần đầu tiên anh nói nhiều như thế.

Cái Bến vào trong với bà Tạ. Nhài và Chấn ngồi bệt xuống bên đống hàng hỏng. Nhài nhặt một chiếc bát sống lửa lên.

"Cái này đập đi anh ạ." Nhài bảo.

"Để lại. Để tôi nung mẻ sau xem sao." Chấn nói.

Họ nhặt ra được năm cái vại nứt nhẹ. Loại này bán rẻ làm hàng xô. Mười cái vại thô hỏng nặng thì đập bỏ lấy mảnh kê lò.

"Mẻ sau lấy đất ở đâu anh?" Nhài hỏi.

"Tôi ra bãi xin đào nhờ nhà cụ Tú."

"Cần bao nhiêu rơm?"

"Năm gánh. Để tôi sang xóm trên hỏi xin."

Nhài gật đầu: "Bốn hôm nữa nhóm lửa được không?"

"Được." Chấn đáp.

Bàn tay Chấn đưa ra định nhặt mảnh gốm. Tay Nhài cũng vừa đưa tới. Hai bàn tay chạm vào nhau. Ngón tay Chấn nắm nhẹ lấy tay Nhài. Tay hai người đều dính đầy đất sét khô và tro bụi. Chấn giữ như thế một lúc. Nhài không rụt tay lại. Cả hai nhìn xuống đống gốm vỡ.

Chấn buông tay ra. Anh đứng dậy bê đống mảnh vụn ra sau vườn.

Giữa lúc ấy, từ trong buồng vọng ra tiếng chõng tre kêu cót két. Nhài quay lại, thấy bà Tạ đang gồng mình dậy. Bà chống mạnh tay phải xuống mặt chõng tới ba lần mới nâng được vai lên. Cánh tay trái của bà vẫn buông thõng, không có chút sức lực nào. Chiếc chõng tre già kêu răng rắc dưới sức nặng của bà. Bà phải bám chặt vào cột cái giữa nhà để giữ thăng bằng. Đôi chân bà vẫn run rẩy không thể bước đi được. Bà Tạ nhìn trân trân vào chiếc vại men tro trên tay Chấn.

"Đúng là men tro rơm chín bằng lửa củi gộc rồi." Bà Tạ thào thào.

Cả nhà lặng đi trước câu nói của người thợ già. Bà nhìn đống vại trên sân rồi nhìn sang phía lò bầu nứt. Một giọt nước mắt từ từ lăn dài trên gò má nhăn nheo của bà. Bà không nói thêm lời nào về nỗi đau hay sự vất vả. Giọt nước mắt ấy rơi xuống vạt áo nâu đã bạc màu.

Nhài và Chấn gánh hàng ra bến trả nợ. Họ đi ba chuyến mới hết số vại cần bán. Nhài bán cho ghe nhà ông Giáo được mười ba đồng sáu hào. Nàng đi thẳng đến nhà bà Cẩm hàng xáo.

Bà Cẩm xách cái cân đòn và ống bơ ra sân. Bà đặt hai thúng không lên bàn cân.

"Gớm, tưởng nhà đằng ấy quỵt luôn chứ." Bà Cẩm bĩu môi.

Bà xúc gạo vào thúng. Bà dùng một thanh tre gạt ngang miệng ống bơ. Tuyệt không có hạt nào nhô lên quá vành.

Bà Cẩm cân đủ hai thúng gạo rồi bảo: "Làm thợ vại mà trả nợ đúng hẹn là giỏi đấy."

Nhài đếm đủ năm đồng bốn hào đưa cho bà. Nàng mua thêm mười bơ gạo hết hai đồng nữa. Số tiền còn lại là sáu đồng hai hào. Nhài cất kỹ vào túi áo. Cái bàn xoay vẫn nằm im lìm trong góc xưởng.

Khi bà Cẩm vừa đi thì ông Đỗ Quýnh xuất hiện. Ông ta đi vòng quanh cái lò, gõ nhẹ vào vách lò phía sau rồi cúi xuống nhìn rất kỹ chỗ nứt ở bầu thứ hai.

"Cái khe này dẫn lửa đi vòng, hèn chi người ở bến bảo nhà này có mẻ men lạ." Ông Quýnh nhìn Chấn, hỏi một câu rất trúng: "Lửa quẩn ở đây bao nhiêu canh thì men bắt đầu chín?"

Chấn im lặng không đáp. Ông Quýnh mỉm cười, đưa ra đề nghị thẳng thừng: "Tôi trả ba đồng cho cả cái lò này. Các người bán lò, tôi cho người dỡ đi, tiền ấy đủ để nhà họ Tạ sang làng Thượng mua một mảnh ruộng nhỏ mà làm ăn. Làm thợ vại chi cho cực, nung mười hỏng bảy thế này thì bao giờ mới ngóc đầu lên được?"

"Không bán!" Bà Tạ ở trong buồng quát ra, giọng đanh thép lạ thường.

Nhài đứng lặng bên lò, nhìn theo bóng ông Quýnh khuất dần sau rặng cau. Nàng cúi xuống nhặt một mảnh gốm vỡ, cảm nhận cái nóng vẫn còn âm ỉ.

Tám đồng hai hào.