Chương 4: Nước men thứ tư
Thuộc tiểu thuyết Về Làm Dâu Làng Gốm
Tác giả: Nguyễn Thảo Chi · Thể loại: Ngôn Tình · Đăng ngày · 2095 từ · khoảng 10 phút đọc
Mồng Ba tháng Ba, trời còn tờ mờ đất thì bến Vại đã lục đục tiếng đòn gánh kĩu kịt.
Nhài trở dậy khi sương muối còn đọng trắng mặt đống củi sau lò. Nàng lấy chiếc khăn nâu vuông vức quấn chặt mái tóc, giấu kỹ mấy sợi tóc tơ xòa xuống trán, rồi ra sân giúp Chấn xếp hàng vào quang gánh. Gánh hàng phiên này là tất cả vốn liếng nhà họ Tạ tích cóp trong tám ngày qua: sáu cái vại nhỏ chuốt thanh, mười cái nồi đất nung già lửa, hai cái tiểu sành mặt đanh lại. Riêng hai món đồ men, Nhài gói kỹ trong hai lớp vải thô rách, đặt cẩn thận trên cùng của thúng nồi.
"Đi thôi nhà tôi." Chấn khẽ nhắc, giọng đục vì ngái ngủ.
Anh kề vai vào đòn gánh, gân cổ nổi lên khi nhấc bổng hai thúng hàng nặng. Nhài gánh thúng nhẹ hơn, đựng nồi và hai món đồ men giấu kín. Từ xóm Bãi ra tới bến Vại mất chừng hai khắc đi bộ. Đường đất ven ngòi trơn trượt do trận mưa đêm qua, nhưng Nhài đi rất vững. Đôi bàn tay chai vết mái chèo cũ của nàng bám chắc vào đòn gánh, từng bước chân miết xuống đất nện không chút phân tâm.
Khi hai vợ chồng tới bến, chợ đã họp được nửa buổi. Đèn dầu lạc trên các sạp hàng nhấp nháy khắp các ngả.
"Cuối bến, chỗ gốc đa gãy ấy chị Nhài ơi!" Cái Bến từ đâu chạy lại, mặt mũi lấm lem bùn đất, tay chỉ về phía hạ nguồn.
Hàng men Sành Thượng chiếm lĩnh những chỗ cao ráo, sạch sẽ ngay đầu bến, nơi ghe lớn đậu san sát. Nhà nào khá giả ở Hạ thì ngồi quãng giữa. Còn nhà nghèo, nhà nợ như nhà họ Tạ, mặc nhiên phải lui xuống cuối bến. Chấn đặt gánh hàng xuống, trải hai tấm chiếu manh sờn rách rồi lẳng lặng xếp hàng ra. Nhài không bày hai món đồ men ngay. Nàng cứ để chúng nằm im lìm dưới lớp vải thô. Chấn lặng lẽ dịch hai cái men vào sát chân Nhài, rồi đứng chắn bớt gió cho nàng.
Đến khi mặt trời hửng lên, người mua bắt đầu đổ về phía cuối bến. Nhưng đúng như Nhài dự tính, người ta đi từ đầu bến đã mua gần đủ. Tới chỗ nàng, họ chỉ còn vài hào lẻ trong túi, hoặc chỉ muốn tìm hàng thứ phẩm giá rẻ.
"Nồi này bán thế nào mợ?" Một người đàn bà xách giỏ đi tới, dùng chân hích hích vào cái nồi đất.
"Dạ, ba xu một cái. U lấy cả đôi tôi bớt cho một xu." Nhài đáp, mắt không rời xấp tiền lẻ đang cầm trên tay.
Người đàn bà lật tới lật lui, chê lửa chưa già rồi trả hai xu rưỡi.
"Gớm, nồi này mà mợ đòi ba xu cơ mà? Chả bớt cho tôi thì tôi đi hàng khác nhá." Người đàn bà nguýt dài một cái.
Nhài không cãi, không giải thích rằng nồi này nung bằng củi khô ròng rã hai ngày đêm. Nàng gật đầu, nhận lấy năm xu cho hai cái nồi. Đến giờ Thìn, nàng bán được bốn cái nồi và hai cái vại, thu về được mười hai hào. Nhài vuốt phẳng từng tờ giấy bạc, đếm đi đếm lại ba lần rồi gói vào khăn tay.
Cái nắng tháng Ba bắt đầu hanh rát. Nhài đứng dậy, đi ngược về phía đầu bến. Nàng muốn nhìn.
Ở đó, hàng của làng Sành Thượng bày trên những bục gỗ cao. Cùng một cái vại nhỏ giống vại nhà nàng, nhưng ở đây người ta bán đúng một đồng sáu hào, tức là gấp bốn lần giá vại thô ở cuối bến. Nhài đứng nhìn hồi lâu, mắt dán vào cách lớp men "ăn" vào xương đất ở cổ vại. Lớp men của họ được tráng cực kỳ đều tay, độ dày mỏng tăm tắp từ miệng xuống tới chân đế. Màu xanh đồng nhất như nước ao lúc lặng gió, tuyệt không có một vết rạn chân chim nào. Nhài đưa tay miết thử vào khoảng không, thầm so sánh với hai cái bát của mình. Đồ của nàng men chảy sệ thành từng vệt, chỗ thì dày cộp đọng lại thành cục, chỗ lại mỏng đến độ lộ cả xương đất xám xịt bên trong.
"Mợ Chấn! Bà Cẩm tới kìa!" Tiếng cái Bến gọi giật giọng từ phía cuối bến.
Nhài quay lại. Bà Cẩm hàng xáo đang đi tới, phía sau là một người lực điền vác cái cân đòn dài ngoằng và mấy chiếc thúng không. Bà Cẩm dừng lại trước sạp hàng của Nhài, không quát tháo, cũng không niềm nở.
"Tới hạn rồi đấy mợ Chấn. Hai thúng gạo mùa trước, tính cả lãi là hai thúng rưỡi gạo ngon. Nhà mợ tính sao?"
Bà Cẩm đặt chiếc ống bơ bằng đồng xuống mặt đất nện. Chiếc ống bơ sáng loáng, miệng phẳng lỳ. Bà gạt ngang một phát dứt khoát khi đong thử.
"Nhà mợ vay tôi mười hai đồng từ vụ trước để mua củi nung. Lãi mỗi tháng là sáu hào, vay từ tháng Chạp tới nay là ba tháng, vị chi lãi là một đồng tám hào. Tổng cả gốc lẫn lãi là mười ba đồng tám hào. Chứ lị mợ tính xem tôi nói có sai chữ nào không?" Bà Cẩm bắt đầu nhẩm tính thành lời.
Nhài nhẩm theo rất nhanh, con số của bà Cẩm khớp hoàn toàn với những gì nàng ghi nhớ.
"Hôm nay mợ định trả bao nhiêu? Hay định khất mãi thế này, rõ khổ cơ chứ!" Bà Cẩm bồi thêm một câu.
Nhài bước tới, rút xấp tiền mười hai hào vừa bán được ra: "Bà cho tôi gửi trước mười hào tiền hàng sáng nay. Vậy là tôi còn nợ bà mười hai đồng tám hào. Bà cho tôi khất đến phiên sau."
Bà Cẩm không nhìn tiền, mắt bà quét qua đống vại thô còn lại trên chiếu: "Mười hào này chưa đủ một thúng. Hàng này ghe lớn không ăn, tôi lấy về cũng chỉ để chật kho. Tôi đã bảo rồi, không có gạo trả thì tôi dỡ cái bàn xoay. Lời nói gói vàng, mợ đừng để tôi phải nặng tay nhở?"
Chấn đứng bên cạnh, lặng lẽ ghì chặt đôi quang gánh vào vai. Nhài cúi xuống, mở lớp vải thô ở đáy thúng, bưng ra hai cái bát lớn có phủ men tro.
"Bà nhìn cái này xem có khất được không?"
Bà Cẩm nhướn mày, đón lấy cái bát. Màu men không xanh ngọc như hàng Sành Thượng mà có màu xám xanh, lấm tấm những hạt tro li ti chưa tan hết. Ở chân bát, men chảy sệ xuống thành những giọt tròn đọng lại, cứng ngắc.
Bà Cẩm xoay cái bát ba vòng, soi dưới nắng. Bà là người buôn, bà biết thứ này lạ. Sành Hạ chưa ai làm được men này.
"Đồ này mợ lấy đâu ra? Ối giời, nhìn cái màu lạ nhỉ?"
"Tôi tự nung. Hai cái này, tôi định giá sáu hào. Cộng với mười hào kia là mười sáu hào. Tôi xin hẹn đúng phiên mồng Ba tháng Tư sẽ trả nốt mười hai đồng hai hào còn lại."
Bà Cẩm còn đang phân vân thì một người đàn ông trung niên đi ngang qua. Ông ta dừng lại, mắt ghim chặt vào cái bát trong tay bà Cẩm. Không đợi ai cho phép, ông ta cầm lấy cái bát. Người này lật đáy bát lên soi rất kỹ dưới ánh nắng mặt trời, rồi gõ nhẹ ngón tay vào thành bát để nghe tiếng kêu. Tiếng kêu đanh và thanh. Ông ta miết ngón tay lên những chỗ men chảy sệ ở chân bát, rồi đưa ra ánh sáng nghiêng đi nghiêng lại tới mấy lần.
"Nước men này mợ pha thêm vôi sống hay dùng tro củi gụ?" Người đàn ông bất ngờ hỏi một câu rất trúng.
Nhài giật mình, tim đập chệch một nhịp. Nàng không trả lời được, vì công thức men tro này nàng vẫn đang làm theo trực giác và sự điều chỉnh thô sơ của mình. Nàng đứng lặng nhìn ông ta.
"Bao nhiêu?" Người đàn ông hỏi tiếp.
"Sáu hào một đôi." Bà Cẩm nhanh nhảu đáp thay.
"Tôi trả một đồng hai hào. Đưa đây cho tôi."
Người đàn ông rút túi tiền, đặt ba đồng hào bạc lên chiếu. Bà Cẩm nhanh tay chộp lấy tiền, đưa hai cái bát cho người lạ kia.
"Xong nhé mợ Chấn! Mười hai hào này tôi cầm, coi như mợ còn nợ tôi đúng mười hai đồng hai hào nữa. Đằng ấy nhớ lấy cái hẹn phiên sau nhá."
Bà Cẩm bỏ đi. Người đàn ông kia cầm hai cái bát bát, đi về phía những chiếc ghe lớn của làng Sành Thượng. Cái Bến chạy lại, thầm thì vào tai Nhài:
"Chị ơi, đằng ấy là quản kho của lò ông Đỗ Quýnh bên Thượng đấy. Em thấy ông ấy hay đi sau kiệu ông Quýnh lắm."
Nhài đứng lặng giữa bến Vại. Nàng vừa khất được một phần nợ, nhưng lòng nặng trĩu. Một đồng hai hào cho hai cái bát lỗi. Người của lò họ Đỗ không mua thứ gì mà không có lý do. Họ nhìn ra vết men chảy, họ nhìn ra cái lò nứt.
Chiều muộn, hai vợ chồng gánh những cái vại ế về nhà. Bùn bến Vại bám đầy ống chân Nhài, khô lại thành những vệt xám.
Vừa về tới sân, Nhài thấy Chấn lẳng lặng ra đống đất sét nhào dở sáng nay. Nhài không nói gì, nàng đi thẳng ra phía bể nước, úp hai bàn tay còn dính đầy bùn bến Vại xuống mặt đất nện cạnh gốc cau.
Trong một khắc ngắn ngủi, nàng bật vào Vườn Chín Luống.
Luống rau muống thứ nhất mới lên được ngần này. Nhài cúi xuống đếm từng lá, nàng nhẩm tính trong đầu rằng còn đúng năm ngày nữa mới đủ tuổi cắt được. Luống thứ hai gieo cải cũng mới chỉ có mấy lá thật bé xíu, lá xanh mỏng manh giữa đất nâu. Không luống nào ăn được trong lúc này cả. Nhài không hái rau. Nàng ngồi sụp xuống giữa những luống đất, hồi tưởng lại hình ảnh lớp men Sành Thượng và cái cách giọt men trên bát của nàng chảy xuống chân lò.
Nàng hiểu rồi.
Nước men thứ nhất của nàng hỏng vì quá đặc. Nước men thứ tư coi được nhưng vẫn chảy vì nàng chưa hiểu được "ngọn lửa đi tắt". Cái lò nứt ở bầu thứ hai làm lửa hắt vào mạnh hơn bình thường, khiến men chảy trước khi xương đất kịp đanh lại. Nàng cần một thứ để kìm ngọn lửa ấy, hoặc một thứ men chịu được nhiệt già hơn.
Một nén nhang cháy hết. Nhài bị bật ra ngoài.
Dưới chân nàng, mẻ đất sét Chấn vừa đổ nước vào nhào bỗng khô lại, nứt nẻ như ruộng hạn. Chấn đứng chết lặng, nhìn bàn chân mình kẹt giữa mẻ đất cứng ngắc. Anh ngước nhìn vợ, không hỏi một câu, nhưng trong mắt đầy vẻ mỏi mệt.
Nhài nhìn đống đất hỏng - cái giá của một khắc vào vườn - rồi nhìn về phía buồng trong. Tiếng bà Tạ gõ vách "cộc, cộc, cộc" vang lên.
"Nhài đâu... vào u bảo."
Nhài lau tay vào vạt áo, bước vào buồng. Bà Tạ nằm trên chõng, đôi mắt đục mờ hướng ra phía cửa lò nung sau nhà.
"U dặn này... có chết cũng không được bán cái bãi sau lò cho họ Đỗ."
Bà dừng lại thở dốc, bàn tay phải chỉ về phía bóng tối sau nhà.
"Lửa ở bầu thứ hai... không phải lửa chết đâu con."
Nhài đứng lặng trong bóng tối lờ mờ của gian buồng, mùi đất ẩm và mùi thuốc bắc nồng nặc. Nàng bước ra sân, đi vòng ra sau lò, đặt tay lên đường nứt dài hơn sải tay ở bầu thứ hai. Gạch lò nhám và nguội ngắt.
Nàng biết mình phải làm gì với nước men thứ năm.
Nhài cúi người, vơ lấy nắm rơm khô rồi bắt đầu nhóm bếp.