Chương 3: Tiếng kêu cứu giữa cơn mưa chiều mười hai
Thuộc tiểu thuyết Bát Thuốc Cuối Của Bà Lang Xoan
Tác giả: Miên Hạ · Thể loại: Huyền Huyễn · Đăng ngày · 2260 từ · khoảng 11 phút đọc
Sáng mười hai tháng Bảy, mưa ngâu giăng một lớp màn đục lên những mái ngói thâm nâu của phố Thuốc Bắc. Hơi nước ám vào gỗ, vào giấy, làm mùi thuốc bắc trong gian ngoài hiệu Đoàn Thọ Đường trở nên nồng nặc và đặc quánh hơn thường lệ.
Đoàn Thị Nghi ngồi bệt trên một chiếc ghế thấp ở góc quầy. Trước mặt nàng là một chồng giấy bản vàng xỉn và một rổ mây đựng lạt tre đã chẻ mỏng. Công việc của nàng hôm nay là xếp giấy, đếm đủ mười lăm sợi lạt đặt lên trên mỗi xấp để người làm chỉ việc bốc thuốc rồi buộc. Đó là một việc nhạt nhẽo dành cho kẻ không biết nghề, hoặc kẻ mà nhà này không còn tin tay để cho chạm vào dao cầu.
Tay phải Nghi hơi run. Nàng dùng tay trái siết chặt lấy cổ tay phải, tì lên đầu gối để kìm lại. Cảm giác tê dại vẫn đóng đinh ở đầu lưỡi từ mẻ phụ tử nếm trộm hôm kia. Trên bàn có vài hạt muối trắng rơi ra từ gói thuốc của khách, nàng đưa ngón tay chấm một hạt, đặt vào đầu lưỡi. Hạt muối tan ra, để lại một cảm giác nhạt nhẽo như nước lã. Nàng không thấy mặn. Lưỡi nàng giờ đây chỉ còn cảm được vị cay và đắng. Một phần giác quan đã chết lâm sâm.
Vọng lên từ phía chái sau, tiếng đảo chảo gang trên bếp than của cụ Chuẩn nghe ràn rạt. Mùi thuốc sao cháy sém quyện với hơi than củi ẩm nồng nặc khắp không gian. Cụ Chuẩn không nhìn Nghi, mắt cụ dán vào mẻ thuốc, nhưng mỗi khi tiếng nong kéo lê dưới sàn gạch vang lên khô khốc, Nghi lại thấy lòng mình thắt lại.
"Cứu... cứu con nhà cháu với ông chủ ơi!"
Một tiếng kêu thất thanh xé toạc nhịp làm việc. Cả Vạc lao vào từ cửa chính. Gã không kịp cởi nón lá, nước mưa từ vành nón chảy ròng ròng xuống tấm áo vải thô rách vai. Hai tay gã run bần bật, mặt xám ngoét như người không còn giọt máu.
"Con cháu... nó giật. Nó tím tái hết cả rồi!"
Ông Đoàn Bỉnh ngẩng lên khỏi cuốn sổ y, đẩy nhẹ gọng kính một mắt. Ông nhìn cái nón sũng nước của Cả Vạc, rồi nhìn ra màn mưa.
"Cả Vạc đấy à? Thầy thuốc có sổ đi vắng cả rồi. Hôm nay trong Viện có việc, các hiệu đều phải chốt đơn phát chẩn, không ai rảnh mà ra ngoài."
"Nhưng nó lịm đi rồi ông ơi! Ông làm phúc..."
Bà Hai Điểm từ gian trong bước ra, tay cầm chiếc khăn lau. Bà nói giọng dịu dàng, âm lượng vừa đủ nghe nhưng lạnh ngắt: "Anh Vạc này, hiệu nhà tôi không có sổ khám ngoài giờ. Với lại, vị thuốc chữa sài kinh cho trẻ con toàn thứ đắt tiền, anh gánh thuê cả tháng chả đủ một thang. Anh đưa nó lên trạm trên phố, may ra..."
"Trạm xa lắm, nó không chịu nổi đâu bà ơi!" Cả Vạc quỵ xuống hè phố, tay bấu chặt vào cánh cửa gỗ lùa.
Nghi đặt xấp lạt xuống. Nàng đứng dậy, không nhìn cha, cũng không nhìn dì Hai. Nàng bước vòng qua quầy thuốc, đi thẳng ra cửa. Khi đi ngang qua Cả Vạc, nàng chỉ nói một câu:
"Dẫn đường."
"Nghi! Con đi đâu đấy?" Tiếng ông Đoàn Bỉnh đập xuống bàn gỗ.
Nghi không quay đầu lại. Nàng theo chân Cả Vạc rẽ vào ngõ Hàng Gánh ngay sau lưng dãy hiệu thuốc. Đi qua ba nóc nhà lụp xụp, tới chỗ có cây vối già đổ nghiêng thì rẽ trái vào sâu trong cùng. Nhà Cả Vạc nằm hút sâu trong bóng tối của những bức tường rêu mốc.
Trong nhà, vợ Cả Vạc đang gào khóc. Chị ta lấy một chiếc thìa đồng, cố hết sức cậy miệng đứa nhỏ đang co quắp trên chõng tre để đổ nước gừng. Đứa bé khoảng hai tuổi, hai tay nắm chặt, mắt trợn ngược, hơi thở rít lên từng hồi cực nhọc.
"Buông ra!"
Nghi quát lớn, bàn tay nàng gạt phắt tay người đàn bà. Chiếc thìa đồng rơi keng xuống đất.
"Đừng cậy miệng nó. Gãy răng, rách lưỡi bây giờ. Để nó nằm nghiêng ra."
Vợ Cả Vạc ngớ người, nhưng cái uy trong giọng nói của cô gái trẻ làm chị ta run rẩy làm theo. Nghi đặt đứa nhỏ nằm nghiêng trên gối vải, nới lỏng cái yếm và sợi dây buộc bụng của nó. Nàng đưa tay lên trán đứa bé. Nóng như hòn than sắp tàn.
Nghi nhìn sắc mặt đứa nhỏ: môi tím bầm, cánh mũi phập phồng, da bụng khi véo lên thì một lúc lâu sau mới phẳng lại.
"Sốt từ lúc nào?"
"Thưa... thưa cô, từ đêm qua ạ."
"Hôm nay nó đi tiểu mấy lần? Nước màu gì?"
"Có một lần thôi, vàng đặc như nước vối cô ơi."
"Có ăn uống được gì không?"
"Chả ăn được gì, cứ uống vào là nôn."
Nghi gật đầu. Nàng quay sang Cả Vạc: "Lấy chậu nước giếng, thay khăn liên tục, lau kĩ hai nách và bẹn cho nó. Đừng có đắp chăn."
Nàng đứng dậy, lao ra cửa. Từ đây quay ngược lại cửa sau hiệu thuốc chỉ mất một quãng ngắn, nàng chạy thẳng tới bờ ao hoang cách đó đúng mười lăm bước chân. Mưa ngâu rây rắc làm mặt đất trơn như đổ mỡ. Bùn nhão bám lấy kẽ chân, trượt đi từng nhịp. Đám cỏ bên ao sũng nước, bết lại thành từng mảng khiến việc phân biệt hình dáng lá trở nên khó khăn.
Nghi quỳ xuống ven bờ. Mắt nàng đảo nhanh trên nền đất. Nàng lướt qua những cây nhọ nồi mọc sát miệng cống, thân chúng mọng nước nhưng ám mùi xú uế, tuyệt đối không dùng được. Nàng gạt bỏ những bụi đã già, thân cứng, lá lốm đốm hạt đen vì dược tính đã tản mát hết vào hạt. Một bụi nhọ nồi khác trông rất giống nhưng khi bấm thử, nhựa nó chảy ra màu trong veo chứ không hóa đen ngay lập tức, đó là cỏ dại lẫn vào, nàng ném sang bên.
Tay phải Nghi run bần bật, nàng phải dùng tay trái giữ chặt cẳng tay phải mới bấm nổi những ngọn non xanh đậm, thân đầy lông tơ mịn. Nàng chỉ lấy phần ngọn dài chừng hai đốt ngón tay, nơi nhựa cô đặc nhất. Khi đã hái đủ hai nắm lớn, nàng túm vạt áo lụa lên làm bọc, bọc kỹ đống cỏ sũng nước rồi chạy ngược về nhà Cả Vạc. Mỗi bước chạy là một nhịp thở dồn, nàng biết đứa nhỏ đang chạy đua với tử thần từng giây một.
Về tới nơi, Nghi mượn cái bát sành sứt mẻ và một chiếc gáo dừa. Nàng múc gáo nước giếng, rửa nắm cỏ qua hai lượt cho sạch bùn đất rồi bỏ vào bát. Không có cối, nàng dùng tay không vò nát. Đôi bàn tay tiểu thư vốn chỉ cầm bút, cầm lạt nay vò mạnh vào gốm sành, nhựa cỏ mực đen xỉn ứa ra, thấm sâu vào kẽ móng tay. Nàng vắt kiên trì, từng chút một qua một mảnh vải màn rách vợ Cả Vạc vừa đưa.
Chắt được chừng nửa bát nước cốt đặc quánh, xanh đen, Nghi ngồi xuống cạnh chõng. Nàng dùng ngón tay thọc nhẹ vào khe miệng đứa bé, nhấp từng thìa nhỏ. Cứ ba phút một lần, nàng lại nhỏ một thìa. Vừa cho uống, nàng vừa thúc giục vợ Cả Vạc: "Thay khăn đi! Lau mạnh vào nách cho nó thoát nhiệt."
Vợ Cả Vạc không dám khóc nữa, tay chân cuống quýt nhúng khăn vào chậu nước lạnh, vắt ráo rồi lau liên tục lên làn da nóng rực của con. Cứ thế, sau mười lượt thay khăn và nửa bát nước cốt cỏ, đứa nhỏ bắt đầu rùng mình một cái thật mạnh.
Hơi thở của đứa bé bắt đầu dịu lại. Cơn co giật giãn dần. Đôi bàn tay vốn nắm chặt từ từ mở ra. Màu tím trên môi nhạt bớt, chuyển sang hồng nhạt.
Nghi đứng dậy, lau tay vào vạt áo đã lấm lem bùn đất. Nàng nói với vợ Cả Vạc: "Nó hạ sốt rồi. Chiều nay tiếp tục cho uống nước cỏ này, chia làm ba lần. Nếu mai còn sốt thì lại hái tiếp. Nhưng nhớ lấy, cỏ này chỉ hạ được hỏa trước mắt, sau này mà để nó đói ăn, sài đẹn nặng thêm thì cỏ bờ ao cũng không cứu mãi được."
Nàng bước ra khỏi căn nhà ẩm thấp, để lại sau lưng tiếng dập đầu cảm tạ của vợ chồng Cả Vạc.
Khi Nghi đi ngược về phố Thuốc Bắc, mưa đã tạnh bớt. Vài người buôn chuyến đứng trú mưa dưới hiên nhà đối diện Đoàn Thọ Đường nhìn nàng với ánh mắt lạ lẫm. Họ nhìn vạt áo đen kịt nhựa cỏ, nhìn đôi chân trần lem luốc bùn ao của nàng.
"Kìa, con bé nhà Đoàn Thọ Đường đấy à?" Một người đàn ông gánh sọt quế hỏi nhỏ.
"Chậc, nhà có sổ y, tủ có trăm ngăn thuốc quý mà lại đi bốc cỏ ngoài bãi cứu người. Đúng là hạng mụ vườn." Một người khác bĩu môi, giọng không to nhưng đủ để gió đưa vào tai Nghi.
Ông Đoàn Bỉnh đang đứng trước cửa hiệu, tay chắp sau lưng. Ông nhìn thấy con gái mình đi về trong bộ dạng ấy. Ông nhìn những vết nhựa cỏ trên tay nàng, rồi nhìn sang những người đang xì xào bàn tán.
Nghi dừng lại trước mặt cha. Nàng chờ đợi một trận lôi đình, hoặc ít nhất là một lời trách mắng vì làm nhục gia môn. Nhưng ông Đoàn Bỉnh chỉ im lặng một lúc lâu.
"Vào rửa tay chân đi. Rồi ra làm nốt chỗ lạt ban sáng." Ông nói, giọng khàn đặc, rồi quay lưng đi vào trong. Ông không cãi lại lời thiên hạ, cũng không bênh vực nàng. Đối với một người coi trọng sổ y như mạng sống, hành động của Nghi hôm nay là một vết nhơ mà ông chỉ muốn che đậy lại thật nhanh.
Nghi vào gian sau, xối nước lạnh lên tay. Nhựa cỏ mực bám chắc vào móng tay, rửa mãi không sạch. Nàng quay lại góc quầy, ngồi xuống chiếc ghế thấp. Tiếng mưa rơi dột đúng chỗ ngồi cũ làm nàng phải xê dịch ghế sang một bên, tiếng chân ghế gỗ nghiến trên sàn gạch nghe chát chúa.
Cụ Chuẩn đẩy nhẹ một chiếc ghế khác, thấp hơn và có chỗ tựa lưng về phía nàng. Cụ không nhìn Nghi, vẫn tiếp tục công việc sao tẩm, nhưng miệng cụ lầm bầm: "Ngồi xuống đấy cho đỡ mỏi."
Nghi ngồi xuống, tiếp tục đếm lạt. Một, hai, ba... mười lăm. Tay nàng vẫn run, nhưng nhịp tim đã bình ổn lại.
Tối muộn hôm đó, khi tiếng mưa ngâu làm việc đếm lạt trở nên khó khăn vì ẩm ướt, bà Hai Điểm đẩy cửa buồng Nghi bước vào. Bà đặt một bát nước gạo rang có pha chút muối còn nóng lên bàn, gương mặt vẫn giữ nét hiền hậu như mọi khi.
"Nghi này, dì nghe người ta kể chuyện ngoài ngõ sáng nay rồi."
Nghi không ngẩng đầu: "Dì muốn mắng con sao?"
Bà Hai Điểm ngồi xuống mép giường, đưa tay vuốt lại lọn tóc mai của Nghi. "Dì mắng con làm gì. Con cứu người là việc thiện. Chỉ có điều, phố này người ta trọng cái danh, trọng cái sổ. Con gái nhà họ Đoàn mà đi hái cỏ bờ ao thì sau này khó lòng mà nhìn mặt ai. Thầy con buồn lắm."
Bà ngừng một lát, giọng hạ thấp hơn: "Hay là thế này, qua Rằm, con về quê ngoại dưỡng bệnh một thời gian. Dì đã nói với thầy con rồi, ở đấy không khí thoáng đãng, lại chả ai biết chuyện hôm nay. Đám cỏ mực con hái ở bờ ao sau ngõ, gần cái cống đổ ra ấy, dùng nhiều không tốt cho con gái đâu."
Nghi khựng lại. Bà Hai Điểm biết chính xác nàng hái cỏ ở đâu, thậm chí biết rõ bụi cỏ đó nằm gần cái cống. Bà không ra khỏi hiệu một bước suốt cả ngày, vậy mà từng hành động của nàng đều nằm trong tay bà.
"Con biết rồi." Nghi đáp cộc lốc.
Bà Hai Điểm đứng dậy, chỉnh lại vạt áo phẳng phiu. Bà quay lưng đi ra, tiếng bước chân nhẹ bẫng tan vào tiếng mưa.
Nghi ngồi lại trong bóng tối, nhìn đôi bàn tay vẫn còn run nhẹ trong ánh đèn dầu leo lét. Ba ngày nữa là đến Rằm. 100 thang thuốc phát chẩn đang nằm chờ trong kho. Nàng bưng bát nước gạo rang dì Hai vừa mang vào, hớp một ngụm. Nước ấm nóng, trôi qua cuống họng, nhưng tuyệt nhiên không để lại một chút vị mặn nào của muối. Lưỡi nàng vẫn tê dại.
Nàng đưa tay lên, dùng móng tay bấu mạnh vào lòng bàn tay phải.
Vẫn không thấy mặn.