Chương 4: Băng keo đứt
Thuộc tiểu thuyết Căn Phòng Sạch Quá
Tác giả: Đỗ Hải Yến · Thể loại: Trinh Thám · Đăng ngày · 2145 từ · khoảng 11 phút đọc
Băng keo đứt làm hai, mép đứt thẳng, đúng khe cửa. Ngân ngồi xổm ngắm nó trong khi Cò đứng cách ba bước, hai tay ôm ổ bánh mì sáng như ôm bùa. 7 giờ 10 sáng thứ Ba. Hành lang có mùi cà phê phin và ai đó đang giặt tay. Cô đưa móng tay vuốt dọc hai đầu băng keo. Vẫn dính chặt. Không ai bóc, không ai dán lại. Cánh cửa chỉ đơn giản đã mở ra, từ phía ngoài, giật mẩu băng ra làm đôi, rồi đóng lại. Ổ khoá không có vết, cô soi đèn vào lỗ khoá cũng không thấy một đường xước. Đây là chìa thật. "Em nói thiệt nha chị Hai," Cò nói. "Em có thể đứng đây ghi. Mình đọc to, em ghi. Em ghi đẹp lắm." "Vô." Tiếng tích tắc đón họ ở cửa. Cô rút điện thoại, nhìn bức vách, đi dọc từng chiếc: 7 giờ 12, chiếc lệch nhiều nhất giờ là 4 phút, hôm qua là 3. Cô đi thẳng tới cuốn lịch. Thứ Ba, 20 tháng 5. Tối qua cô đứng trước tờ này, và lúc đó nó ghi thứ Hai. Cô tìm trong thùng rác. Bao rác mới vẫn trống. Bên cạnh ê tô trên bàn thợ, tờ thứ Hai được gấp làm đôi, ép dưới một cái nhíp, ngay ngắn, cạnh một xấp nhỏ các tờ khác, bằng đúng độ dày của mấy tuần. Cô vào gian trong, biết sẵn mình sẽ thấy gì, và vẫn phải đứng lại một lúc mới đi tiếp được. Tối qua cô úp cái nồi lên kệ. Giờ nó nằm trong lồng, cắm điện, đèn vàng. Cô không cần sờ. Hai cái chén đã đổi chỗ. Trên kệ, cái cũ bên trái giờ nằm bên phải, và cái muỗng cà phê nhỏ còn một vệt nước khô trên cán, kiểu vừa rửa đêm qua. "Chị Hai?" Cò đã vào tới cửa gian trong, nhìn thấy cái đèn vàng, và nó nói một câu dài bằng tiếng miền Tây mà Ngân sẽ không viết vào sổ. Rồi nó lùi ra, đi ngược ra cửa, không quay lưng lại với căn phòng, đứng ngoài hành lang, và đọc tên bà nội. Ngân đeo găng, đổ cháo đi lần thứ hai, và cảm thấy mình như một người đang cãi nhau với ai đó bằng chén bát. Mười giờ thiêu. Khoa gọi lúc 7 giờ 40, gào giữa tiếng xe: ảnh thờ, ông già có cái ảnh nào không, thằng chụp ảnh đòi 500 ngàn phóng cái ảnh căn cước, em coi trong nhà có ảnh đem lên đài giùm anh, anh trả tiền xăng. Cô mở tủ. Không cần tìm. Ở buồng giữa, ngăn trên, một vật dẹt gói giấy báo buộc dây, băng giấy kẹp vào nút dây, chữ bút máy nghiêng: *Ảnh thờ. Chụp năm ngoái, đừng in to.* Cô đứng cầm nó trong tay. Băng giấy thứ hai. Lần này cô đi dọc từng ngăn tủ, chậm, như lẽ ra phải làm từ hôm qua. Một bì thư ghi *Tiền điện nước đã trả đến hết tháng 6*. Một hộp giấy ghi *Răng dự phòng, cho tiệm, bỏ đi cũng được*. Một túi vải ghi *Trả Thầy Ba, 3 cuốn*. Sách đã buộc. Thuốc cũ đã gom. Áo sơ mi trên mắc có bốn cái mắc, ba cái có áo, cái thứ tư trống trơn, một băng giấy ghim vào vai mắc: *Áo mặc khi đi*. Ngân đọc tờ giấy ấy hai lần. Cô chưa từng thấy người đàn ông nào ở một mình mà làm việc này. Đàn bà thì có, vài bà, thường là bà có con ở xa. Đây không phải nhà của một người bị cái chết bắt gặp. Ông thợ đồng hồ đã biết. Ông đã dọn phần của mình từ lâu rồi, từng ngăn một, và dọn cho người sẽ đứng đúng chỗ cô đang đứng. Sạch theo cách thứ ba. Cô ghi vào sổ, thêm một dòng dưới hàng sả và hàng Javel. Xuống tới sân, cô dừng ở xe bánh mì, vì câu hỏi tích tắc trong đầu đã to hơn cả cái sợ làm phiền người ta. Bà Út đang gói cho một ông chạy xích lô. Cô đợi ông đi. "Bà Út. Mấy cái đồng hồ trên tường ông Tư, lên dây bao lâu một lần?" Tay bà ngừng. Lần đầu tiên từ hôm qua, tay bà ngừng. "Con nghe gì rồi?" bà hỏi. "Con chưa nghe gì. Con hỏi." Bà nhìn lên lầu ba, rồi ngoắc cô lại gần, hơi pa tê và nước tương phả vào mặt. "Mỗi tối. 9 giờ. Hồi nào tới giờ, phải tới sáu bảy năm nay. Trước thì ổng lên tuần một lần, sau không biết sao đổi. Tối nào đúng 9 giờ cũng nghe rè rè rè qua vách, mười hai cái, xong thì đèn tắt. Cả lầu ba lấy tiếng đó canh giờ cho con nít đi ngủ. Bà Bảy dưới 204 thì tối nào cũng lên ngồi coi ổng làm, bả lẫn rồi mà thích tiếng đó, ổng cho ngồi để con Diễm yên tâm đi làm. Thầy Ba nói ổng là cái đồng hồ thứ mười ba. Ổng mà bỏ một tối là tới sáng hôm sau đứng hết, ổng nói với bà vậy, chạy được hơn một ngày chút xíu thôi." "Hơn một ngày." "Ừ." Người ta nói ông Tư chết tối thứ Tư. Hôm nay thứ Ba. Mười hai cái đồng hồ, mỗi cái hơn một ngày. "Rồi sao bà hỏi con nghe gì?" Bà Út kéo cái khăn lau tay, lau tay, không còn gì để lau. "Con đừng nói lại với ai nghe. Tối thứ Sáu tuần trước bà lên đưa cơm Thầy Ba, nghe rè rè qua vách, bà hổng để ý, tối nào chẳng vậy. Tới Chủ nhật thì người ta nói ổng nằm từ tối thứ Tư. Vậy thứ Sáu ai lên dây? Bà nói thầm trong bụng, chắc mình nhớ lộn ngày. Rồi tối qua, ổng đã nằm nhà đòn rồi đó con. Con Tám ở 303 nó qua nói với bà, mặt cắt không còn hột máu, 9 giờ nó nghe. Bà nói mày nghe lộn tiếng quạt. Bà hỏi con Diễm, nó nói nó dán giấy dặn bà Bảy đừng lên nữa rồi, mà bả tên mình còn quên, lên dây cái gì. Nhưng mà bà đâu có ngủ được." Bà ngừng lại, nhìn Ngân, và giọng rớt xuống hẳn. "Ổng tới giờ thì ổng về lên dây. Người gì mà chết rồi còn đúng giờ." Ở quãng xa, cái bệ nước khô, thằng Cò đang đứng làm bộ coi điện thoại. Ngân cảm ơn bà, rồi đi ra xe tải. Đài hoả táng nằm ở rìa thành phố, xa hơn 1 giờ chạy. Cô ôm cái ảnh để trên ghế phụ, dây an toàn cài qua. Cò ngồi giữa, im lặng hết 10 phút, một kỷ lục. "Chị Hai có tin ma hông?" "Ma không biết nấu cháo." Nó nghĩ một lúc. "Dạ, câu đó đáng lẽ làm em yên tâm mà sao em thấy tệ hơn." Đám tang của một ông già không con cái có hai loại: loại hiu hắt và loại đông tới mức bất ngờ. Ông Tư Lễ thuộc loại thứ hai. Ngân thấy người của dãy B đi trên hai chiếc xe đò thuê, chen chúc dưới mái tôn nhà chờ: bà Năm tạp dề đã thay bằng áo dài đen cũ, người đàn ông cởi trần hôm qua nay có áo, mấy cô mấy chị "hỏi giùm". Thầy Ba ngồi xe lăn mượn, cầm gậy nhôm dựng thẳng như cái cờ, Hoà đứng sau đẩy. Anh mặc sơ mi trắng cũ, mắt sưng, cúi xuống nghe ông già nói gì đó rồi gật, rồi đi lấy nước, rồi đỡ một bà cụ lên bậc, rồi lại về đứng sau xe lăn. Không ai sai mà anh làm đủ cả. Hòm đã đậy từ Chủ nhật, đinh sẵn, cái nắp đó Ngân biết. Cô đưa ảnh cho Khoa, hắn nhìn ảnh, nhíu mày, có vẻ ngạc nhiên rằng chú mình có gương mặt. Ông già trong ảnh nhỏ thó, áo cài kín cổ, miệng ngậm lại vì hàm răng giả, hai mắt nhìn thẳng ống kính kiên nhẫn như đang chờ máy chạy lại. Ngân nhìn ảnh lâu hơn cô định. "Cái ảnh đó tôi đi chụp với ổng," Thầy Ba nói, không hướng vào ai, cái đầu gầy nghiêng về phía tiếng giấy sột soạt. Ông không thấy ảnh, ông chỉ nghe người ta đang đưa nó qua tay. "Tiệm đầu chợ, tháng 3 năm ngoái. Ổng bắt người ta chụp lại ba lần vì cổ áo lệch. Tôi hỏi ông chụp làm gì, ông đâu có đi xin việc. Ổng nói ảnh này phải dùng lâu." Hoà cúi xuống chỉnh lại cái mền mỏng trên đầu gối ông giáo. Không ai cười. Một cục khói thuốc rê bay qua vai cô. Chú Chín Thành đứng đó trong chiếc sơ mi đen bạc màu, vừa từ dưới tỉnh chạy thẳng lên, hai con mắt đỏ như người ngồi tàu đêm. "Con ơi, con ăn gì chưa? Mặt như giấy." "Dạ con ăn rồi." Cô nói nhỏ. "Ca này tụi nhỏ bên chú lấy xác, tụi nó có nói gì không chú?" "Nói gì? Chú đi đám suốt từ thứ Sáu, giấy tờ thằng Khoa nó ký với tụi nhỏ, chú còn chưa ngó. Tụi nó nói nhẹ hều, con ơi, ông già có 46 ký, hai đứa khiêng như khiêng cái chiếu. Hòm đóng sớm là thằng cháu nó kêu. Nó nói nằm bốn ngày để đậy cho đỡ, ai dám cãi người nhà." Ông rít thuốc, liếc nhìn cái hòm, và ánh mắt ông có cái gì đó cô không đọc được, giữa thương và mắc nợ. "Con làm tới đâu rồi? Con dọn cho ổng kỹ giùm chú. Ca này chú..." "Chú giữ cho con. Dạ, con biết." Ông nhìn cô, gật đầu, rồi nhả khói, rồi không nói gì thêm. Lửa không có gì để xem. Người ta đẩy hòm qua một cánh cửa sắt, bà Năm khóc to một tiếng rồi tự bịt miệng, cái cửa đóng. Ngân đứng phía sau cùng với thằng Cò, tay chắp trước bụng. Mười năm nay cô đi hơi nhiều đám, và nguyên tắc của cô là đứng ở sau, không đi tới gần. Cô đang lẩm nhẩm tính: 46 ký, 1 mét 58 là khoảng trống, người thật chắc thấp hơn chút xíu. Hòm đậy rồi, thiêu xong là hết mọi thứ một cơ thể có thể kể. Từ hôm nay chỉ còn căn phòng. "Em Ngân." Khoa vừa đi vừa nói, mỗi tay một việc, đưa ra một túi ni lông buộc miệng. "Của công an trả, đồ trên người ổng. Em bỏ vô đống đồ giùm anh, cái gì bán được thì bán, anh đi lo cái hộp tro." Cô mở túi ngay trên yên xe tải, găng mới. Một xâu chìa nhỏ. Một cái lược. Một cặp kính. Và một chiếc đồng hồ đeo tay nam, mặt tròn, vỏ thép xỉn, dây da nâu sậm đã mềm. Mặt kính nứt một đường từ góc số 2 tới giữa. Cô nghiêng nó lên ánh sáng. Kim giờ gần số 10, kim phút trên số 9 một chút. 9 giờ 47. Ô lịch nhỏ bên phải ghi WED 14. Thứ Tư, 14. Như anh Hoà nói. Cô lắc nhẹ. Không có gì nhúc nhích. "Máy hổng chạy nữa hả chị?" "Va đập. Kính nứt, máy đứng. Khi ông ngã xuống." Cô xoay dây đồng hồ lại, vì đó là chỗ tay cô muốn nhìn, chỗ da chịu lực. Có năm lỗ khoá. Lỗ thứ năm, lỗ trong cùng dành cho cổ tay nhỏ nhất, méo đi và bóng lên vì cái chốt ngày nào cũng cài vào. Đúng rồi, ông nhỏ thó. Lỗ thứ ba thì rách dài ra, đã giãn thành một cái khe, và da quanh đó mòn tới gãy nếp, sâu hơn lỗ thứ năm nhiều. Lỗ thứ ba mòn hơn lỗ ông đang đeo. Cò đã ngồi lên xe, hỏi cô về nhà hay về cư xá. Cô ghi vào sổ: *ĐH đeo tay: 9:47 WED 14, kính nứt. Dây: lỗ 5 đang dùng, lỗ 3 mòn hơn.* Viết xong cô không biết mình viết dòng cuối để làm gì. Cô chỉ ghi những gì trông thấy. Gió từ đài hoả táng thổi về phía xe, có mùi cỏ khô và dầu đốt. Ngân gói chiếc đồng hồ lại, cột miệng túi. "Cư xá," cô nói. "Rồi em đi mua cho chị cái ghế nhựa thấp. Tối nay mình ở lại." Cò nhìn cô rất lâu, nhai rất chậm. "Mình," nó nói, "là ai với ai, chị Hai?"