Chương 5: Chín giờ tối
Thuộc tiểu thuyết Căn Phòng Sạch Quá
Tác giả: Đỗ Hải Yến · Thể loại: Trinh Thám · Đăng ngày · 2123 từ · khoảng 11 phút đọc
Bốn thứ trong căn phòng biết đếm giùm người ta, và chiều thứ Ba Ngân đặt cả bốn lên miếng nỉ xanh của bàn thợ, xếp hàng, như bác sĩ xếp phim. Thứ nhất là hộp thuốc. Một hộp nhựa bảy ngăn đề từ thứ Hai tới Chủ nhật, cô tìm thấy trong cái rổ nhỏ cạnh giường. Ba ngăn đầu trống. Thứ Năm, thứ Sáu, thứ Bảy, Chủ nhật mỗi ngăn hai viên trắng một viên hồng, đậy kín. Thuốc huyết áp. Người cẩn thận này uống đủ tới sáng thứ Tư, rồi thôi. Khớp với chiếc đồng hồ đeo tay. Thứ hai là cái điện thoại. Nokia đời cũ, bàn phím mòn mất số 5, nằm trong ngăn kéo trên của bàn thợ, dưới một xấp phiếu. Tắt nguồn. Cô giữ nút. Màn hình sáng, chạy logo, hiện ba vạch pin. Ba vạch trên bốn. Cô tắt lại ngay, vì máy này không phải của cô, và ngồi nhìn nó. Người già không tắt điện thoại. Cô đã cầm hàng chục cái máy của người chết, cái nào cũng hoặc hết sạch pin, hoặc còn cắm sạc bên giường với 40 cuộc gọi nhỡ của một đứa con. Ông già này có cái máy mà cả đời chắc chưa từng biết nút tắt nằm đâu, và ai đó đã bỏ nó vào ngăn kéo, dưới một xấp phiếu. Thứ ba là tấm bìa NGHỈ TỚI CHỦ NHẬT, cô lấy trong bao đồ giữ lại ra. Bìa cạc tông nâu, loại thùng hàng, cắt bằng dao rọc giấy, một cạnh có dính nửa con tem in mã vạch. Bút lông đen. Chữ in hoa, ngay ngắn, không ra dáng ai. Cô đặt nó cạnh một mảnh giấy khách trên kệ: bút máy nghiêng, chữ thường. Ông Tư cả đời viết kiểu đó, ngay cả cái băng giấy cho người dọn nhà. Trong căn phòng này cô chưa tìm thấy cây bút lông nào. Thứ tư cô phải quỳ xuống mới lấy được. Dưới bồn rửa, phía sau chai nước rửa chén, có một chai Javel 1 lít còn một nửa. Cô mở nắp, đưa cách mũi một gang tay, và cái mùi mỏng lạnh của khoảng sàn cạnh bàn thợ bay lên chào cô. Trên vai chai dán một mẩu giấy trắng cắt tay, băng keo trong đè lên, chữ bút bi: *18k*. Chai này không có bụi. Những chai khác dưới bồn đều có. Cô cũng xếp một cái ống tre vào hàng, vì cô đã nhìn thấy nó từ sáng. Đó là ống đựng muỗng đũa cạnh kệ chén, và nó thơm mùi tre, không có gì để nói về nó. Cô chỉ muốn có năm thứ thay vì bốn. Năm nghe đầy đủ hơn. Rồi cô thấy mình đang làm gì, và cất cái ống tre đi. Về chìa thì cô đã thử từ lúc về tới: xâu chìa trong túi di vật là chìa tủ, chìa hộc, chìa một chiếc xe đạp nào đó, không cái nào vừa ổ cửa. Cái móc gỗ cạnh tủ lịch thì trống, chìa của ông đang ở trong túi cô. Hàng đồ vật trước mặt cô ăn khớp, và chính điều đó làm cô không yên. Ông ngã tối thứ Tư. Máy đứng 9 giờ 47. Thuốc ngừng sáng thứ Tư. Sau đó có một người vào, tắt điện thoại, treo bảng nghỉ cho khách đừng gõ cửa, mua Javel, cọ sàn. Một người biết việc. Còn người lau số tám thì sao? Người đó lau quanh ông, lần này qua lần khác, và nấu cháo. Người đó hoặc độc ác theo cách cô chưa gặp, hoặc là một thứ gì đó khác. Cô có nghĩ tới bà cụ áo cánh sen, tối nào cũng lên ngồi. Nhưng bà Út đã nói rồi: người không nhớ tên mình thì trèo ghế lên dây 12 chiếc đồng hồ thế nào được. Cô gạt đi, không hỏi thêm ai. "Ba mươi giờ," cô nói thành tiếng. Cò đang ngồi trên bậu cửa, chân ngoài hành lang, quay lưng vào phòng, đếm bao rác. Nó không quay lại. "Dạ?" "Bà Út nói đồng hồ chạy hơn một ngày, tức là ba chục tiếng, nhiều lắm. Mỗi tối phải có người lên dây, không thì sáng hôm sau là đứng. Tức là tối qua có người lên. Sáng nay chị thấy còn đúng giờ. Có người lên dây đúng 9 giờ tối nay nữa." "Dạ, cái đó thì em biết chị đang đi tới đâu rồi." Chiều muộn cô sắp xếp để việc đó trông như chưa từng định xảy ra. 17 giờ 30, cô và Cò khiêng hai bao đồ xuống xe, ồn ào hơn cần thiết. Hoà vừa về, đang dắt xe vào gầm cầu thang, chào chị Ngân xong chưa chị, cô nói nay làm tới đây thôi, mai xong sớm. Anh nói vậy tốt, nghỉ sớm đi chị, mặt chị xanh lắm. Hai người ra xe, cô lái vòng qua hai ngã tư, gửi xe ở cổng chợ, mua hai hộp cơm và cái ghế nhựa thấp, rồi đi bộ về bằng con hẻm phía kênh. Dãy B có một cầu thang sau mà người ta chỉ dùng để đổ rác. Cô đã đếm nó từ hôm qua. 54 bậc giống cầu thang trước. 18 giờ 40 họ vào lại 304, không bật đèn. Cô đặt ghế trong gian trong, sát chân tủ, chỗ nhìn được qua khung cửa ra gần hết gian ngoài. Thằng Cò từ chối ngồi ghế. Nó ngồi bệt ngay sát chân cô, lưng dựa vào đầu gối cô, trong tay một xâu chuỗi gỗ bà nội cho mà nó thề nó quên chưa bỏ ra khỏi túi. Bóng tối đi vào căn phòng từ phía sàn, lên dần. Đèn hành lang bật, một vệt sáng vàng lọt qua khe cửa chớp, nằm ngang trên bức vách. Mười hai quả lắc thỉnh thoảng lóe lên trong vệt đó như mắt cá. Ngồi trong tối với tiếng tích tắc thì không có gì để làm ngoài nghe. Nghe được nhiều thứ không ngờ. Bức vách này mỏng. Bên 305 có tiếng chảo, tiếng ti vi, tiếng Hoà dạy một đứa bé làm toán, kiên nhẫn tới mức cô đếm được anh giải thích phép chia cho 3 tới năm lần. Có lần con bé ho, một tràng dài, và cả nhà bên đó im lại nghe cho hết. "Chị Hai," Cò thở ra, nhỏ tới mức chỉ là một luồng hơi nóng trên đầu gối cô. "Sao chị làm nghề này?" "Nhỏ tiếng." "Dạ, em nhỏ nè. Em hỏi để em khỏi nghĩ tới chuyện kia. Chị kể cái gì cũng được. Em ở với chị một năm mà em hổng biết chị ở quê nào, ăn gì, chị hổng ăn bánh mì mà sao chị hổng ăn." Cô nhìn cái vệt sáng trên tường. Một lúc lâu cô tưởng mình sẽ không nói gì, và thật ra cô cũng không định nói. "Có một căn phòng đầu tiên," cô nói. "Không ai dọn nên chị dọn." Cò đợi. Nó học được một điều gì đó trong năm vừa rồi, vì nó không hỏi nữa. Nó chỉ dựa thêm một chút vào đầu gối cô, và vì không ai nói gì, nó tự nói, thì thầm liền một hơi như xả nước. "Bà nội em nói ma sợ người có chuyện để làm. Hồi nhỏ em sợ đi đái đêm, nội kêu vừa đi vừa đếm cục gạch, ma nó thấy mình bận nó đi chỗ khác. Em đếm tới giờ luôn đó chị. Cầu thang này 54 bậc, em biết, tại em đếm trước chị. Em lên thành phố năm 17 tuổi, nội nợ người ta 30 triệu tiền thuốc của ông nội, em nghĩ lên trển chạy giao hàng một năm là xong. Mà chiếc xe bị giựt hồi tháng thứ ba. Rồi em gặp chị. Em đang đứng coi người ta khiêng cái nệm xuống, chị hỏi em có sợ hôi hông, em nói có, chị nói vậy tốt, người hổng sợ hôi hay làm ẩu. Em nhớ câu đó hoài. Nên chị Hai, nói thiệt, em sợ gần chết, mà em ngồi đây là vì em đang đếm. Em đếm tiếng đồng hồ. Tới bây giờ là bốn ngàn mấy." Cô không nói gì. Cô đưa tay xuống, gỡ một sợi chỉ dính trên vai áo khoác của nó, và để tay lại đó thêm một lúc. Tiếng gõ cửa đến lúc 20 giờ 38. Hai cái, nhẹ, kiểu xin phép. Cò đông cứng. Ngân đặt tay lên vai nó, ấn xuống. Ngoài khe cửa có bóng hai bàn chân cắt ngang vệt sáng. "Chị Ngân?" Giọng Hoà, rất khẽ, sát cánh cửa. "Chị về chưa? Em nghe như có tiếng." Tích tắc. Tích tắc. Bóng chân đứng đó thêm một lúc rồi đi. Cửa 305 mở, đóng. Cô thả tay khỏi vai Cò, thấy tay mình ướt. Hai mươi phút sau đó là hai mươi phút dài nhất mà cô từng ngồi yên trong một căn phòng, và cô đã từng ngồi yên trong nhiều căn. Rồi có một tiếng cách rất nhỏ trong bức vách, một chiếc đồng hồ hít hơi. Chiếc thứ nhất đánh tiếng chuông đầu tiên. Chiếc thứ hai vào sau. Chiếc thứ ba. Chín tiếng, chín tiếng, chín tiếng, lệch nhau một chút, rè và mỏng, loang ra trong bóng tối. Tiếng thứ chín chưa tắt thì ổ khoá kêu. Cò ngừng thở. Cô cảm thấy nó ngừng, cảm thấy cả cái lưng của nó thành gỗ. Khoá xoay rất chậm, không vội, một tay quen với ổ khoá này đến mức không cần nhìn. Cánh cửa mở ra một khoảng. Một bóng đi vào, không cao hơn cái tủ gỗ cạnh cửa, rồi cửa đóng lại, và bóng ấy đứng yên trong bóng tối, không bật đèn, như đang nghe. Rồi nó bắt đầu đi. Không tiếng giày. Tiếng da chân trần, hay dép vải, chạm gạch, nhẹ. Nó đi thẳng tới bàn thợ không vấp, không sờ soạng. Một tiếng lách cách của sợi xích nhỏ, và cái đèn bàn của ông thợ đồng hồ sáng lên, vàng, chụp kim loại úp xuống, chỉ đủ một vũng sáng trên miếng nỉ xanh. Ngân nhìn thấy một bàn tay. Nhỏ, xương xẩu, có đốm đồi mồi. Nó thò vào cái hộp gỗ cuối bàn, lấy ra một chiếc chìa lên dây có cán hình bướm. Rồi nó kéo cái ghế đẩu tới sát bức vách, cái ghế cô đã đo từ hôm qua, đặt đúng vào mấy vết chân ghế mòn trên gạch. Bóng ấy trèo lên ghế, chậm, hai chân, từng chân một, người đã trèo cái ghế này nhiều năm. Trong rìa ánh đèn hiện ra một cái áo bà ba màu cánh sen đã bạc, một mái tóc kẹp gọn, một sợi chỉ đỏ. Cái kính ở chiếc đồng hồ thứ nhất được mở ra. Chìa tra vào. Rè. Rè. Rè. "Một," một giọng rất nhỏ, rất già, rất vui vẻ nói trong căn phòng của người chết. "Hai. Ba. Bốn." Xâu chuỗi trong tay Cò rớt xuống sàn. Tiếng hạt gỗ nảy trên gạch nghe như một tràng đạn. Bàn tay trên đồng hồ ngừng lại. Mái đầu nhỏ quay về phía gian trong, không sợ hãi, chỉ hơi nghiêng, như người ta nghiêng đầu khi nghe con mèo nhà mình làm rơi gì đó. Ngân đứng dậy. Đầu gối cô kêu một tiếng. Cô bước ra khỏi cửa gian trong, hai tay để thấy được, đi vào rìa vũng sáng, và cô tìm trong mười năm những lời người ta nói với nhau ở chỗ có người chết, không tìm thấy lời nào cả. "Bà Bảy," cô nói. "Con chào bà." Bà cụ nhìn cô từ trên cái ghế đẩu. Khuôn mặt nhỏ, hiền, lịch sự. Rồi nó sáng lên, nhẹ nhõm, mừng rỡ, như thấy ai đó về muộn. "Ủa, về hồi nào đó? Nhỏ tiếng nghen." Bà đưa một ngón tay lên môi, cái chìa cánh bướm vẫn cầm ở tay kia. Bà nhìn qua vai Ngân, nhìn xuống khoảng sàn giữa bàn thợ và bức vách, nơi không có gì ngoài những viên gạch trắng hơn các viên khác. Vẻ mặt bà đổi đi. Bà cau mày, không buồn, chỉ ngạc nhiên, như người đi lạc khỏi một câu nói. "Ổng đâu rồi?" "Dạ, ai vậy bà?" "Ông Tư. Mới đây ổng còn nằm đó mà." Bà nhìn Ngân, chờ được giải thích, và giọng bà nhỏ lại, có chút tủi thân của người bị oan. "Tui đâu có bỏ ổng đói đâu. Tui đút nước, ổng uống được mà."