Chương 6: Mười sáu vòng

Thuộc tiểu thuyết Căn Phòng Sạch Quá

Tác giả: · Thể loại: Trinh Thám · Đăng ngày · 2201 từ · khoảng 11 phút đọc

Bà Bảy lên dây xong chiếc thứ nhất trước khi làm bất cứ chuyện gì khác. Bà hỏi ông Tư đâu, không ai trả lời, và câu hỏi rời khỏi mặt bà chậm rãi như mây rời khỏi một vuông sân. Bà quay lại bức vách, đưa chìa vào. "Năm. Sáu. Bảy." Ngân bước tới, không nói gì, đứng sát cái ghế đẩu, hai tay giơ sẵn ở hai bên hông bà cụ mà không chạm vào. Người 76 tuổi đứng trên ghế 45 phân trong bóng tối. Cô đã khiêng đủ giường bệnh để biết cái xương hông nặng chừng nào khi nó rớt. "Mười bốn. Mười lăm. Mười sáu." Bà dừng. Đóng mặt kính, cái móc nhỏ khít lại bằng một tiếng tách. Bà leo xuống, Ngân kéo ghế sang chiếc thứ hai, đặt chân ghế vào đúng hai vết mòn tiếp theo trên gạch. Bà gật đầu cảm ơn như cảm ơn đứa cháu ngoan. Rồi bà trèo lên. Cò đã lượm xong xâu chuỗi, từng hạt, bò dưới đất. Nó đứng ở cửa gian trong, nhìn cảnh một bà cụ áo bà ba được một người đeo găng cao su đỡ leo lên leo xuống dưới 12 chiếc quả lắc, và mặt nó không còn sợ nữa. Nó có vẻ như sắp khóc và không hiểu vì sao. "Bà ơi." Nó đi tới, hai tay chùi vào áo khoác. "Để con cầm đèn cho bà." "Thằng nhỏ này ở đâu vậy?" "Dạ con ở với chị Hai." "Ừ, ngoan." Bà đưa tay vỗ vỗ cái má cao tít của nó, phải nhón chân trên ghế. "Tóc gì mà vàng dữ. Mười sáu, mười sáu nghen, đừng có hơn. Hơn là hư." Chiếc thứ bảy, bàn tay già hơi chậm lại ở vòng thứ mười. Ngân nói để con làm thử một cái, bà cụ không phản đối, đưa chìa. Hàng dưới, chiếc số 9, hộp gỗ gụ có quả lắc to bằng cái đĩa, phía trong mặt kính dán một mảnh giấy nhỏ ố vàng ghi tên ai đó. Cô chẳng biết gì về đồng hồ, nhưng tay cô biết cái gì ngừng theo kiểu gì. Cô xoay. Rè. Rè. Lò xo căng dần, nặng dần, đều, tới vòng thứ mười sáu thì cái chìa ngừng phắt. Nó không chậm lại trước. Nó đụng một cái gì đó cứng, gọn, như chạm tường. Cô xoay thử thêm một chút, rồi thôi. Một cái máy lớn cỡ này mà sao lò xo ngắn vậy. Hơn là hư. Cô đưa chìa lại cho bà và nhớ sẽ ghi vào sổ. Xong chiếc thứ mười hai, bà Bảy thả cái chìa cánh bướm về đúng hộp, phủi tay, đi tới cuốn lịch. Tờ thứ Ba bị bóc ra, gấp đôi, ép dưới cái nhíp. Tờ thứ Tư lộ ra dưới ánh đèn. Bà không đọc nó. Bà vỗ nhẹ lên mặt lịch như vỗ đầu một con vật, rồi đi vào gian trong, lần tay theo tường, và Ngân nghe tiếng hũ gạo mở nắp. Cô đi theo. Cò đi theo cô, cầm đèn pin chĩa xuống đất. Trong ánh đèn pin bà cụ đong một nắm gạo bằng lòng bàn tay, vo hai nước, đổ vào nồi, thêm nước nhiều hơn người ta nấu cơm rất xa, cắm điện, gạt cần. Bà lấy khăn lau mặt bếp không có gì để lau. Bà nhấc hai cái chén xuống khỏi kệ, đặt lên bàn, ngắm một lúc, rồi đổi chỗ nhau, úp lại. "Bà nấu cháo cho ai vậy bà?" Ngân hỏi. Giọng cô ra thấp và lạ, cô không dùng giọng này với ai. "Ổng đâu có nhai được. Răng ổng tháo ra rồi, tui để đâu rồi không biết." Bà nhìn quanh, rồi quên việc đang tìm. "Nhai không được thì phải cháo. Phải loãng. Đút từng chút, đút nhanh là sặc. Hồi ba thằng nhỏ nằm tui làm hoài." Ngân nhìn cái muỗng cà phê trên kệ. "Mấy bữa trước bà đút cho ổng ăn hả bà? Hồi nào?" "Hồi nãy." "Dạ. Ổng có nói gì không bà?" "Ổng đâu có nói." Bà cười, bàn tay vẽ một vòng trong không khí, phía bên phải mặt mình. "Miệng ổng méo xẹo vầy nè, ổng giỡn hoài. Ổng ngó tui. Ổng khóc, tui lau. Tui nói ông già rồi mà khóc cái gì, dậy lên giường nằm đi, ổng không chịu, tui đâu có kéo nổi. Dơ thì tui lau. Sàn phải lau, nhà có người bệnh mà dơ là sao được." Bà nghiêm mặt nhìn Ngân, người chủ nhà có trách nhiệm. "Cô coi, sạch hông?" Ngân mở miệng, và mất một lúc mới tìm được giọng. "Dạ. Sạch lắm bà ơi. Con đi nhiều nhà, chưa thấy nhà nào sạch vậy." Mặt bà cụ dãn ra hết. Dẫn bà về là việc dễ nhất buổi tối hôm đó. Bà cứ thế đi, tắt đèn bàn, ra cửa, khoá lại bằng cái chìa đeo ở sợi chỉ đỏ, kéo sợi chỉ thả chìa vào trong áo, như đã làm hai ngàn lần. Xuống đúng một tầng cầu thang, căn 204 nằm ngay dưới 304, cửa không khoá. Cò mở đèn. Ngân đã vào nhiều căn phòng của người sống như vậy, chỉ là thường muộn hơn vài năm. Căn phòng dán đầy giấy. Bìa cạc tông cắt từ thùng mì, viết bút lông to, nét vội của người viết trong lúc đứng. Trên bếp: *CÔ ĐỪNG BẬT BẾP, CƠM TRONG TỦ LẠNH*. Trên cửa tủ lạnh: *ĂN CƠM NGĂN TRÊN*. Trên cửa toilet một mũi tên. Trên gối: *CON ĐI LÀM, 6 GIỜ SÁNG VỀ. CÔ NGỦ ĐI.* Trên bàn một cái đồng hồ điện tử số to, thứ ngày tháng, chạy đúng từng giây, không ai nhìn nó. Và ở mặt trong cánh cửa ra vào, ngang tầm mắt người thấp, một tờ mới hơn hẳn, băng keo còn sáng: *CÔ ƠI, ÔNG TƯ MẤT RỒI. CÔ ĐỪNG LÊN LẦU BA NỮA.* Bà Bảy đi ngang tờ giấy, không quay đầu, đặt dép ngay ngắn, leo lên giường, kéo mền đắp tới ngực, nhìn lên trần. Trên trần là sàn nhà của ông Tư. Một lát sau hơi thở của bà đã đều. Cò đứng ở ngưỡng cửa, cố gắng kéo khoá áo lên. Họ ngồi trên bậc thang giữa lầu hai và lầu ba, không ai có ý định đứng dậy. Đèn hành lang đã tắt bớt. Dưới sân có người xách nước. "Vậy là hổng có ma," Cò nói. Nó ngừng một lúc. "Chị Hai, em thà có ma." Ngân mở sổ, viết bằng ánh sáng điện thoại. *Sả: bà Bảy. Số tám, tay phải, sải ngắn. Chìa riêng. 21 giờ. Chén, cháo, lịch. Bà lau quanh ông. Bà không kéo nổi ông.* "Em hỏi cái này, chị đừng la." Nó quay qua nhìn cô, hai đầu gối cao gần bằng tai. "Bà nói ổng uống được. Ổng khóc. Miệng méo xẹo. Chị Hai, hay là bữa đó ổng chưa chết?" Câu hỏi nằm giữa hai người trên bậc thang. Cô đã nghe nó trước Cò mấy giây, ở trong đầu mình, ngay cạnh cái bồn rửa. Và cô đã làm với nó việc cô làm với mọi thứ: đem đặt lên cân. "Đồng hồ đeo tay dừng 9 giờ 47 tối thứ Tư. Thuốc ngừng thứ Tư. Bốn ngày, ai cũng nói vậy, người mở cửa cũng nói vậy." Cô đếm trên đầu ngón tay găng. "Còn một bên là một bà cụ đang tin chồng mình mới đi Mỹ về. Ở tuổi đó, trí nhớ không còn xếp theo ngày, em. Hôm qua với 30 năm trước nằm chung một ngăn. Bà nói hồi ba thằng nhỏ nằm bà đút cháo hoài, em nghe rồi đó. Chồng bà bị liệt, miệng méo, bà chăm. Bà thấy ông Tư nằm dưới đất, bà lấy cái ngăn đó ra xài." "Dạ." "Bà ấy cho một người đã mất uống nước. Ba ngày. Bà không biết. Bà đút, nước chảy ra, bà lau. Đó là chuyện đã xảy ra." Giọng cô đều, và đó là phần cô tự hào nhất ở mình. Cò nhìn cô thêm một lát, rồi quay đi, nhìn cái sân tối. "Dạ," nó nói. "Chắc vậy." 6 giờ 20 sáng thứ Tư, cô ngồi lại đúng bậc thang đó, đã thức cả đêm trong ca bin xe tải, tay cầm hai ly cà phê đá mua ở đầu hẻm. Người đàn bà áo đồng phục dắt xe số vào gầm cầu thang, tháo nón, đi lên hai bậc thì thấy cô, và đứng lại. Dưới ánh sáng ban ngày chị ta trẻ hơn Ngân tưởng, và mệt hơn. Mắt thâm tới gò má. "Em là Ngân, bên dọn nhà. Chị là cháu bà Bảy?" "Dạ, Diễm. Có chuyện gì hả chị? Cô em làm gì hả chị? Em xin lỗi. Hồi hôm cô em có làm phiền gì không, em..." "Bà có chìa 304." Diễm đứng yên. Cái ly cô đưa ra chị ta cầm lấy như cầm một vật phải trả lại. Rồi chị ta ngồi xuống bậc thang, cẩn thận, kiểu người đứng tám tiếng trên xưởng, nói rất nhanh về phía đầu gối mình. "Em chạy ca đêm. Tám năm nay cô em bắt đầu quên, sáu năm nay thì nặng. Viện dưỡng lão tháng mấy chục triệu chị. Ông Tư nói gửi lên cho ổng. 9 giờ tối em dắt bà lên. Cả dãy tưởng bà ngồi chơi, chớ sáu năm nay là tay bà lên dây hết, ổng ngồi đếm với bà. Ổng nói bà có việc thì bà đỡ, bà đỡ thiệt, chiều tối là bà hay đi lung tung, chớ có cái đó là bà yên. Xong ổng đưa bà xuống, chờ bà ngủ, khép cửa giùm. Sáu năm ổng làm vậy, không lấy của em đồng nào. Ổng đưa cho bà một cái chìa để bà thấy mình là người có chìa." Chị dừng để thở. "Ông Tư mất rồi em đã dán giấy. Em nói mà bà đâu có nhớ. Em có ca, em có ca chị ơi, em đâu có ở nhà tối được. Có phải bà còn lên không?" "Mỗi tối. Lên dây, bóc lịch, nấu cháo. Bà lau nhà quanh chỗ ông nằm." Cái ly trong tay Diễm hơi nghiêng. Chị nhìn nó, dựng nó lại. "Tối thứ Năm tuần trước chị có đưa bà lên không?" Ngân hỏi. "Có. Tới chân cầu thang lầu ba thôi. Bữa đó em trễ xe đưa rước. Có cái bảng nghỉ gì đó ở cửa. Cô em tự có chìa. Em tưởng..." Môi chị mím lại, rồi mở. "Em đâu có biết." "Bà nói bà đút nước cho ông, ông uống được." Lần này Diễm không làm gì cả, không chớp mắt, không đổi tay cầm ly. Ngân đang mệt, và cô thấy một người đàn bà kiệt sức nhìn chằm chằm vào không khí. "Cô em nói vậy hoài," Diễm nói. "Nói chú dượng em đi Mỹ. Cô còn nói gì với chị nữa không?" "Không." "Chị đừng nói với ai được không chị." Lúc này chị mới nhìn thẳng vào cô. Hai đầu ngón tay dán băng siết lấy ly nhựa. "Cháu ông Tư mà biết, họ nói cô em phá nhà họ, họ thưa thì em chịu. Người ta nói nhà có bà già lẫn đi lung tung, đưa vô viện đi. Em xin chị. Em lấy chìa lại. Hôm nay em lấy. Tối em khoá cửa ngoài, em chưa khoá bà bao giờ, mà hết cách rồi. Bà sẽ không lên nữa." Ngân nghĩ tới bức vách. Nghĩ tới hai cái chén. Nghĩ tới việc cô không có gì để nói với ai, và cô chưa từng thích nói. "Tôi không nói." Diễm gật, gật nữa, đứng dậy. Ngân theo chị xuống căn 204, không ai mời. Bà Bảy đang ngồi ở mép giường, áo cài lệch một nút, nhìn cái đồng hồ số. Diễm quỳ xuống, cài lại nút áo, luồn tay vào cổ áo kéo sợi chỉ đỏ ra. Bà cụ cười với chị, ngoan ngoãn cúi đầu như cúi đầu cho người ta đeo cái gì vào. Diễm cầm cây kéo cắt chỉ trên bàn. Sợi chỉ đứt không có tiếng. Cái chìa nằm trong lòng bàn tay dán băng của chị, nhỏ, đồng, mòn nhẵn cạnh. Bà Bảy sờ lên cổ, sờ một lúc, nhìn xuống ngực mình, rồi ngơ ngác nhìn Ngân, như muốn hỏi có ai vừa nói gì không. Cô đi ra hành lang, đứng tựa lan can. Một bàn tay đã có tên. Còn bàn tay kia, cái bàn tay cọ Javel, cắt bìa cạc tông, tắt điện thoại, bàn tay nhấc được một người lên giường. Bà Bảy không làm nổi chuyện đó. Điện thoại cô rung trong túi quần. Trời đã sáng hẳn, nắng lên tới lầu hai. Cô bắt máy, và Khoa không chào. "Em Ngân. Em ở đâu đó? Ở đây có mấy chục người đang hỏi anh cái hộp bánh quy màu đỏ, trong đó có 33 triệu. Cái hộp hôm thứ Hai em nói với anh đó. Em thấy nó hồi nào vậy em?"