Chương 7: Hộp bánh quy màu đỏ
Thuộc tiểu thuyết Căn Phòng Sạch Quá
Tác giả: Đỗ Hải Yến · Thể loại: Trinh Thám · Đăng ngày · 2109 từ · khoảng 11 phút đọc
"Em mở ngăn tủ đó lúc mấy giờ?" "Trưa thứ Hai, 13 giờ 30." "Rồi em gọi anh lúc mấy giờ?" "13 giờ 30." "Anh tới lúc mấy giờ?" Khoa quay ra sau, nói với cả sân, hai tay xoè rộng, cái điện thoại ở tay trái loé nắng. "13 giờ 50. Vị chi 20 phút. Hai chục phút đó ai đứng với cái ngăn tủ? Tui hỏi vậy thôi, tui không buộc tội ai hết. Nói chuyện cho nó nhanh nghen." Sân chung dãy B lúc 8 giờ 15 sáng thứ Tư có khoảng 30 người, và đây là lần đầu tiên Ngân thấy họ đứng cùng nhau mà không ai nói mình hỏi giùm. Cuốn sổ đen đang mở trên yên một chiếc xe máy. Mười phút trước Khoa đã đè ngón tay to lên tờ lót đầu tập cuối, đọc to một dòng bút máy nghiêng như đọc giá nhà: *Kỳ 15. Đã nhận 11 chân, 33 triệu, để hộp đỏ.* Hắn không biết đọc hụi, nhưng hắn biết đọc số. Hắn ngẩng lên hỏi hộp đỏ là hộp gì, và 11 người có tiền trong đó đã phải tự bước ra khỏi cái câu "tôi hỏi giùm". Cô Hường. Ông bảo vệ. Cô gái ôm con. Mấy người đứng chung lại thành một nhóm nhỏ dưới bóng bàng, không nhìn nhau, mặt đỏ, ngượng ngập như vừa bị bắt gặp đang làm một chuyện rất riêng tư. "Tôi chụp ảnh ngăn tủ trước khi anh tới," Ngân nói. "Giờ trên ảnh ghi rõ. Lúc đó hộp đã không còn. Tôi đưa ảnh cho anh xem ngay, anh nói hộp bánh quy người già nào cũng có vàng." "Em chụp cái ngăn trống. Đúng. Rồi sao? Cái ngăn trống thì nó trống từ lúc nào, ảnh có nói hông?" Hắn nhìn quanh, tìm sự đồng ý, và tìm được một ít. "Em Ngân, anh thuê em dọn nhà. Em vô đó hai ngày rưỡi, một mình với thằng nhỏ. Em dọn tới cái sổ hụi, em đếm trang, em chụp hình gáy sổ. Hồi nào tới giờ thợ dọn nhà có đếm trang sổ hụi không bà con? Làm nghề gì mà kỹ dữ vậy?" Tiếng xì xào đi một vòng rồi quay về. Cò đứng sau cô, nói "Trời đất ơi" rất nhỏ, và bàn tay nó nắm chặt quai xô. Cô đã từng bị nghi rồi. Nghề của cô là ở một mình với đồ của người chết, nên ca nào cũng có một người con dâu đếm lại muỗng. Cô có sẵn một câu cho những lúc đó: *Tôi lập danh sách từng món, anh chị đối chiếu.* Câu đó chưa bao giờ làm ai thích cô, nhưng nó đứng được. Hôm nay cô mở miệng định nói nó, và nhìn thấy 11 con người dưới gốc bàng. Một trong số đó, cô gái ôm con, vừa hỏi người bên cạnh rất khẽ: "3 triệu đó của em, rồi kỳ sau em đóng sao?" Cô ngậm miệng lại. "Làm ăn sòng phẳng nghen," Khoa nói, dịu hẳn lại, như sắp chốt một căn nhà. "Tối nay 7 giờ giao chìa như đã nói, họp luôn ở sân này, anh mời anh Phước công an khu vực tới cho rõ ràng. Tiền công anh giữ lại. Cái hộp mà có mặt thì anh trả đủ mười sáu, anh không tiếc. Không có thì anh nhờ công an coi giùm cái nghề của em có giấy phép gì không. Vậy nghen em." Công an. Ngân giữ mặt mình không đổi, đó là chỗ cô giỏi. Mười năm không bảng hiệu, không đăng ký, xe tải biển số tư nhân chở rác của người chết. Anh Phước biết. Anh là người đã gửi cho cô ít nhất năm ca, không nói ra thành lời, kiểu "bên đó có căn cần dọn, chị coi coi". Việc anh biết và việc anh phải ghi vào biên bản là hai chuyện khác xa nhau. Từ khi nhận ca này tới giờ, cô chưa hề bén mảng tới trụ sở phường, và cô định giữ nguyên như vậy. "Để con nhỏ nó làm việc đi." Giọng khàn vọng ra từ bậc cửa tiệm tạp hoá ở đầu sân. Bà Năm đứng đó, một tay vịn khung cửa cuốn. Bà chưa nói gì từ đầu buổi. Cặp kính lão thòng trên ngực, và trông bà già đi nhiều so với hôm thứ Hai. "Ai thấy nó lấy? Ai thấy? Mấy người ở đây cả đời, cái hộp đó ai biết ổng để đâu? Con nhỏ này mới tới mà biết hả? Cái thằng Khoa, con nói chuyện vừa thôi, ổng mới thiêu hôm qua." Khoa mỉm cười, nói dạ dì Năm, tối mình nói tiếp, rồi điện thoại reo. Đám đông thưa ra. Ngân nhìn người đàn bà đang quay vào tiệm, chậm, vịn. Trong 11 năm không có mấy ai đứng ra nói đỡ cho cô, nên khi một người làm thế, phản xạ đầu tiên của cô là tự hỏi vì sao. Cái hộp đó ai biết ổng để đâu. Câu đó nằm lại trong đầu cô, nhỏ và nhọn. Cô lên lầu, làm việc. Đó là việc của cô, và còn hơn mười tiếng trả tiền chưa biết có ai trả không. Cô và Cò khiêng thêm ba bao đồ, dọn tủ, cọ bồn, xịt men vi sinh vào những chỗ không cần xịt. Hai người không nói chuyện. Lúc này là 10 giờ. Mười hai quả lắc vẫn đưa, tròn nhịp, chúng được lên dây lần cuối cách đây 13 tiếng và chưa biết gì. Cô quỳ trước bồn rửa, rút chai Javel từ phía sau chai nước rửa chén, cẩn thận bóc lớp băng keo trong, lấy mẩu giấy *18k* kẹp vào sổ dọn. Gần 11 giờ có người đứng ở bậu cửa mà không gõ. Cô gái ôm con ở sân sáng nay, chừng hai mươi lăm, đứa nhỏ ngủ gục trên vai, bàn chân bé xíu đong đưa theo nhịp thở của mẹ. Cô ta không nhìn vào phòng. Cô ta nhìn Ngân, rồi nhìn lên 12 chiếc đồng hồ, rồi nhìn xuống mũi dép của mình. "Dạ, em tên Thuỷ, em ở 212. Em biết chị đang bị người ta nói. Em không tin đâu. Em lên hỏi chị một chuyện thôi, chị đừng nói ai. Chị có đọc mấy trang sổ đó hông? Tại em không biết em là trang mấy. Em không dám hỏi ổng Khoa. Em chơi một chân từ đầu dây, tháng nào em cũng đem phong bì lên, 3 triệu, em bán cà phê đá ở cổng khu chế xuất. Ổng ghi vô, ổng nói Thuỷ ơi con cứ để đó, tới kỳ cần thì nói với chú một tiếng. Em chưa hốt. Em đợi tới cuối dây mới hốt để có đủ tiền thuê cái mặt bằng nhỏ, em tính hết rồi. Mười bốn kỳ là 42 triệu. Giờ mà trang của em là trang bị mất thì lấy gì nói em có đóng? Em đâu có giấy. Có ai có giấy đâu chị." Đứa bé động đậy. Cô gái vỗ lưng nó bằng ba ngón tay, không nhìn. Ngân đứng đó, tay cầm cái bàn chải cọ bồn. Cô mở điện thoại, tìm tấm ảnh chụp số trang, phóng to chỗ cô đã che tên bằng tay. Tên nằm khuất dưới ngón tay cô. Cô lật sang một tấm khác, chụp hơi lệch, thấy được trọn dòng. "Ổng có nói em chân mấy hông?" "Dạ không, ổng kêu tên thôi." "Trang 5," Ngân nói, sau một lúc. "Vũ Thị Thanh Thuỷ, 212. Còn nguyên. 14 ô tích." Cô gái đứng im. Rồi cô ta gật đầu liên tục, không dừng được. Cô ta không cảm ơn được. Cô ta cúi xuống, áp mặt vào cái đầu của đứa bé, và cứ đứng như vậy. Khi cô ta đi rồi, Ngân cất điện thoại. Mười chân hụi sống như thế. Những người đó đang ngồi trong các căn nhà thơm mùi mắm và bột giặt, tính trên ngón tay, và không một ai có một tờ giấy nào. Rồi cô xuống tiệm bà Năm. Tiệm là căn 101, sâu, tối, thơm mùi gạo và xà phòng và nước mắm, thứ gì cũng treo, thứ gì cũng có giá. Một cái cân đồng hồ. Mấy bao gạo 25 ký chất sát vách cao tới ngực. Trên quầy gỗ mòn lõm là cuốn sổ nợ bìa da rắn giả, cột sợi dây cột cây bút bi. Bà Năm đang ngồi trên ghế nhựa sau quầy, tay cầm xâu chìa nhưng không làm gì với nó, và khi thấy Ngân thì bà đặt xâu chìa xuống, hơi nhanh. "Con ăn gì chưa? Mặt mày xanh lè. Đừng để ý thằng Khoa, nó chó sủa." Bà ngừng. "Con cần gì?" "Dì Năm có Javel không?" "Có chớ." Bà chống gối đứng dậy, đi ra phía kệ cuối, mỗi bước là một bước tính toán, rồi quay lại với chai 1 lít cùng hiệu. Trên vai chai, một mẩu giấy trắng cắt tay, băng keo trong đè lên, chữ bút bi: *18k*. Ngân không cần lấy sổ ra. Nét số 8 mở miệng ở đỉnh, chữ k có cái đuôi cụt. Khắp tiệm có hàng trăm mẩu giấy như vậy. "18 ngàn. Ghi hay trả?" "Dạ con trả." Cô để tiền lên quầy và nhìn sang bức vách cạnh cửa sau. Trên một tấm ván sơn xanh có hai hàng đinh, treo mấy chục cái chìa, mỗi chìa cột một nắp chai nhựa viết số căn. 102, 107, 201, 206. Cô tìm mà không để lộ. 304 nằm ở hàng trên, đinh thứ ba. "Dì giữ chìa cả dãy hả?" "Nửa dãy." Bà Năm thở ra, nhìn tấm ván như nhìn một con vật già. "Từ hồi còn xưởng chỉ, ai đi làm ca, gửi chìa ở tiệm cho con cái đi học về lấy. Riết thành lệ. Bà già lẫn, con nít, đi quên. Có gì là xuống đây." Bà vuốt tờ tiền của Ngân cho phẳng, bỏ vào túi tạp dề, không đếm. Rồi bà nói, nhìn xuống cái quầy: "Con dọn chỗ ổng nằm chưa? Chỗ đó mới là cực, phải hông. Con... con cọ giùm dì cho sạch, tội ổng." Ngân cầm chai Javel lên. Vỏ chai mát. "Chỗ nào dì?" Bà Năm ngẩng lên. Một giây. Có thể ít hơn. Trong một giây đó cô thấy bà cụ nhìn cô, và cô thấy phía sau mắt bà có một thứ gì đó đang đứng lên. Rồi tay bà đưa lên kéo cặp kính, đeo vào, và mắt bà lùi ra sau hai lớp thuỷ tinh. "Thì cái giường," bà nói. "Cái giường chớ chỗ nào." Có một người mua nước mắm vừa vào. Bà quay sang người đó, khàn giọng hỏi thăm bà già nhà họ. Ngân cảm ơn, đi ra. Ở chỗ bậc cửa, cô đứng lại, vì đôi mắt cần chút thời gian để làm quen với nắng. Rồi cô thấy mình đang làm việc mà mình vẫn làm trong những căn phòng. Cô đặt chúng lên cạnh nhau. Một chai Javel mua ở tiệm này. Một cái chìa cột nắp chai trong tiệm này. Một người đàn bà nhấc nổi 25 ký gạo, biết chỗ để cái hộp bánh quy, đứng ra nói đỡ cho cô đúng lúc mọi ánh mắt cần được đẩy đi hướng khác, và lỡ miệng nói về một chỗ nằm không phải cái giường. Trong các đồ vật trên miếng nỉ xanh, không cái nào có nhiều hơn một cách đọc. Chúng cứ thế tự sắp lại, kêu tách một tiếng, gọn gàng, đúng tiếng mặt kính đồng hồ khít móc. Cò đang chờ ở xe bánh mì. Nó có vẻ đã khóc hoặc đã ăn ớt. Cô đưa nó xem mẩu giấy trong sổ và mẩu giấy trên chai mới. Nó nhìn, nhìn lại, nhìn về phía tiệm. "Mà tiệm bán cho cả dãy mà chị Hai. Ai cũng có thể mua." "Ừ." "Hay mình hỏi bả. Hỏi coi tuần trước ai mua Javel. Bả có cuốn sổ nợ, em thấy rồi. Mình hỏi thẳng luôn, bả là người nói đỡ cho chị mà." Ngân cất sổ, nhìn về phía tấm ván sơn xanh mà từ đây không nhìn thấy. "Người ta không khai với mình, Cò. Căn phòng thì khai." Cò mở miệng. Nó nhìn mặt cô, rồi nó chậm rãi cắn một miếng bánh mì. Nó nhai lâu lắm, trong khi bà Út rút một tờ lịch từ xấp giấy, gập góc, cuốn tròn, gài vào.