Chương 8: Hai mươi lăm ký gạo

Thuộc tiểu thuyết Căn Phòng Sạch Quá

Tác giả: · Thể loại: Trinh Thám · Đăng ngày · 2027 từ · khoảng 10 phút đọc

Nếu cô đặt mình vào chỗ bà Năm, chuyện đi như sau. Tối thứ Tư ông Tư ngã. Bà có chìa, có việc phải lên, gặp ông đã mất dưới bàn thợ, và trong đầu bà là 33 triệu của 11 người với một thằng cháu tham. Bà tắt điện thoại, lấy hộp, cắt miếng bìa ở thùng hàng trong tiệm, treo bảng nghỉ để có thời gian nghĩ. Thời gian đó kéo dài ba ngày. Sáng Chủ nhật bảng nghỉ hết hạn, khách sẽ lên lấy đồng hồ, nên tối thứ Bảy bà đem Javel lên, nhấc ông lên giường, cọ sạch sàn. Cô đọc lại, ngồi trên thùng đồ nghề trong căn 304, cái sổ để trên đầu gối, 12 giờ trưa. Ba chiếc đồng hồ có chuông lần lượt đánh 12 tiếng. Không có gì hở cả. Trừ hai dòng. Cô lật về trang thứ Hai, tìm thấy chúng trong nét chữ run của thằng Cò: *Không mùi. Ron sạch.* Người nằm dưới sàn ba ngày rưỡi thì hai dòng đó không có lý, và cô biết, tay cô biết. Ông nhỏ, 46 ký, người gầy khô nhanh. Cửa đóng, Javel át, bà Năm bán Javel cả đời, ai biết bà đổ bao nhiêu chai. Cô đứng trước hai dòng đó một lúc, giống như đứng trước một cái nồi chưa muốn mở, rồi cô lật qua. Cò ngồi đối diện, trên một bao rác đã buộc, ăn cơm hộp. Cô đưa nó đọc. Nó đọc rất chậm, môi mấp máy, rồi trả lại sổ. "Bả cao có nhiêu đó," nó đưa tay ngang ngực mình. "Đầu gối hư, chị thấy bả lên cầu thang hôm bữa hông? Mười bậc nghỉ một lần. Mà khiêng ông già lên giường?" "Ông Tư 46 ký. Bao gạo 25. Kéo khỏi sàn, tì lên mép giường, đẩy. Bà ấy làm cả đời." "Rồi cọ cái sàn kiểu đó. Em thấy mấy đường cọ của người đó, chị chỉ em. Dữ lắm. Em cọ còn hổng dữ bằng." "Người đang sợ thì khoẻ." Trong sổ cô đã ghi *cổ tay đàn ông, chưa chắc*. Một người vác gạo suốt 40 năm thì cổ tay ra sao, cô nghĩ, ai mà biết. "Dạ." Nó xúc một muỗng cơm, không đưa lên miệng. "Rồi tại sao bả không báo? Bả đâu có giết ổng. Ổng chết tự nhiên. Bả kêu công an, nói tui giữ tiền giùm người ta, xong. Ở đây ai cũng biết bả. Bả giấu chi, chị Hai?" Cô đã nghĩ tới câu đó. Cô có câu trả lời cho nó, ở trong căn phòng khác, trong một năm khác. Người ta không báo vì người ta sợ. Người ta nhìn một người đang nằm đó, rồi nhìn thứ mình đang cần, rồi nhìn cái cửa. Và người ta đi ra. Không cần phải là người xấu. Chỉ cần đi ra. "Tiền," cô nói. "Giữ tiền thì phải trả lời nhiều câu." "Hay mình hỏi..." "Cò." Thằng nhỏ im, gãi cổ, rồi nói bằng một giọng khác, giọng của đứa bé đã học được rằng hỏi thẳng mấy người lớn thì nên nhắm mắt lại trước. "Em làm cho chị một năm. Chị chưa kêu nhầm cái gì hết. Ca ông giáo sư hồi Tết, chị nhìn cái gối là biết con ổng nói láo. Em phục chị. Em nói thiệt. Nhưng mà nãy giờ em nghe chị nói toàn là đồ vật. Cái chai, cái chìa, cái bìa. Chị chưa hề hỏi người ta một câu nào. Bà Bảy chị còn hỏi. Bà Năm thì chị hổng hỏi. Tại sao vậy?" Cô nhìn nó. Cái tai nghe một bên, chân tóc đen, hột cơm dính cằm. "Vì người ta nói gì cũng được," cô nói. "Một cái sàn thì không." Cò gật đầu từ từ. Nó không có vẻ gì là đã đồng ý. Có tiếng gõ, hai cái. Hoà đứng ở bậu cửa, nón cầm tay, cái áo xanh tối lại vì mồ hôi. Anh về giữa ca, chắc vừa nghe chuyện ở sân. "Em nghe rồi chị. Anh Khoa nói vậy là không được. Chị có cần em nói giùm câu nào tối nay không? Em ở đây lâu, người ta tin em." "Không cần đâu anh. Cảm ơn." "Dạ." Anh xoay xoay cái nón, như định nói thêm gì đó, rồi thôi. Anh đặt lên thùng đồ của cô một quả xoài đã gọt, bọc trong túi ni lông, nói chị ăn cơm đi, nguội hết, rồi đi. Trên hành lang anh chào bà nào đó, hỏi thăm cái chân. Một giờ trưa cô xách cái túi vải có băng giấy *Trả Thầy Ba, 3 cuốn* đi dọc hành lang, vì đồ người chết dặn trả thì phải trả, kể cả khi người ta sắp gọi công an tới với mình. Căn 308 có mùi dầu gió và giấy cũ. Sách chất tới ngang vai dọc ba bức tường, và ở giữa, trên chiếc ghế mây, Thầy Ba Khiêm ngồi thẳng lưng, cặp kính dày như đáy chai quay về hướng cửa. "Ai đó? Bước chân này không phải người ở đây. Cô dọn nhà phải không? Cô là người đã làm cái chuông đó reo hôm thứ Hai." "Dạ không phải con, em con." "Tôi có hỏi đâu mà dạ. Nói cho có đầu có đuôi: thưa thầy, người làm reo là phụ việc của con. Để đó." Ông đưa bàn tay gầy sờ túi vải, sờ nút buộc, và tay ông chậm lại. Ông rút ra ba cuốn sách, đưa từng cuốn lên sát mũi. "Truyện Kiều bản 1951. Thơ Đường. Và cuốn này ổng mượn từ năm 2009, tôi đã đòi mười bảy lần. Nút này là nút ổng buộc. Ổng biết tôi đọc không được nữa, mà ổng vẫn trả cho đúng." Ông để ba cuốn sách lên đùi, hai tay úp lên. "Năm mươi năm đánh cờ với một người không bao giờ nói mình thua. Thắng cũng không nói. Tôi mất ngủ từ năm 70 tuổi, cô có biết không, mắt mù rồi thì đêm với ngày như nhau. Đêm nào tôi cũng nghe ổng lên dây. Tuần rồi ổng còn thử cái đồng hồ báo thức đó giữa khuya, tôi điên tiết, tôi đã ghi lại hẳn hoi từng lần để có sách mà mắng, vậy mà chưa kịp mắng." Ngân đang nhìn giờ trên điện thoại, 13 giờ 20. Bà Năm thường ra chợ lúc 2 giờ, bà Út đã nói vậy. "Dạ. Con chia buồn với thầy." "Chia buồn là chữ của người muốn đi." Ông quay mặt lại phía cửa sổ. "Đi đi. Cảm ơn cô đã đem trả." Buổi chiều cô làm một việc đã mười năm rồi cô không làm với người sống. Cô đậu xe tải ở đầu dãy, khuất sau xe bánh mì, ngồi trong ca bin nhìn qua gương chiếu hậu, và cô bám theo một bà già 63 tuổi. Việc đó không khó. Bà Năm đi rất chậm. 14 giờ bà lên lầu một đưa đồ cho một nhà, 14 giờ 40 bà ra chợ trả nợ tiền đá rồi về. Bà không ngồi yên một chỗ. Bà ra bậc cửa nhìn lên lầu ba, đi vào, lại ra, và hai lần bà đứng trước tấm ván sơn xanh mà không lấy gì. 15 giờ 30, một phụ nữ đến nói gì đó ở quầy rất lâu, tay bà để lên tay chị ta. Rồi 16 giờ, trong một buổi chiều thứ Tư bình thường, khi trường học vừa tan và lũ con nít đang tới mua kẹo, bà Năm ra kéo cửa cuốn xuống. Bà Út từng nói tiệm tạp hoá 101 chưa bao giờ đóng cửa trước khi trời tối, trừ Tết và ngày chồng bà mất. Một đứa nhỏ đứng trước cửa cuốn cầm tờ 5 ngàn, gãi đầu. Ngân ra khỏi xe. Lưng dãy B xây trên bờ kè, phía dưới là con kênh mùi sình nước đang ròng, trơ ra một dải bùn đen và bao ni lông. Mỗi căn tầng trệt có một ô cửa sổ sau nhỏ gắn song sắt. Cô đi dọc theo gờ xi măng rộng hai bàn tay, một tay vịn tường, đếm cửa. 104, 103, 102. Ô cửa của căn 101 có tấm rèm vải hoa đã rách một góc từ đời nào. Bên trong có đèn. Cô đứng sát song sắt, nghe tim mình đập một cách rất không chuyên nghiệp. Bà Năm ngồi ở cái bàn nhỏ sau quầy, quay nghiêng. Đeo kính. Bà đã kéo một bao gạo ra khỏi chồng, trông giống như vừa kéo, hai tay còn dính bụi cám. Trên bàn, dưới bóng đèn tròn, là một cái hộp bánh quy thiếc lớn, góc bo tròn, màu đỏ, nắp in hình một lâu đài châu Âu đã tróc sơn. Bà mở nắp. Bà lấy ra từng phong bì, một, hai, ba, đặt thành hàng trên bàn. Phong bì trắng, loại rẻ, mỗi cái một nét chữ khác nhau. Ngân đếm theo, không cử động môi. Bốn. Năm. Sáu. Mười. Mười một. Bà đeo kính vào rồi lại tháo ra. Bà nhấc từng phong bì lên, không mở, chỉ cầm, chỉ cân trong tay, rồi đặt xuống, rồi lấy cuốn gì đó nhỏ trong túi tạp dề ra đối chiếu. Khi xong, bà ngồi im. Bà cúi đầu xuống, hai bàn tay úp lên hàng phong bì như người ta úp tay lên trán đứa trẻ đang sốt, và vai bà bắt đầu run. Ngân đứng trên gờ xi măng, gió kênh thổi vào gáy. Hộp đỏ. 11 phong bì. Cô rút điện thoại định chụp, và cô thấy cái bóng tay mình trên song sắt, và cô rụt tay lại. Cô không biết vì sao, rồi cô biết: cô không cần ảnh. Ở đó, trong lúc nhìn một bà già khóc trên đống tiền của người khác, cô có một cảm giác mà cô đã chờ từ sáng thứ Hai, một cảm giác rất sạch, giống lúc tháo găng khi ca đã xong. Đúng rồi. Mình đã đúng. Cũng có một cảm giác khác, ở dưới cảm giác ấy, mỏng hơn, như Javel dưới mùi sả. Nhưng cô đã có một danh sách, và trời sắp tối. Trên đường trở lại cô ghé xe tải, mở ngăn đựng đồ. Trong đó có một cái túi ni lông nhỏ đã ngả vàng, vài tờ giấy, một tấm ảnh cô không bao giờ lấy ra. Cái bàn thì ở nhà, căn phòng trọ, cái bàn gỗ tạp thấp mà cha cô đóng từ ván cốp pha dư, cô đã kéo nó theo qua sáu căn trọ. Nó không có gì đặc biệt. Có một ngày trước đây rất lâu, trên mặt bàn ấy, ở giữa, có một thứ mà cô đã nhìn rất kỹ, và không có ai để hỏi. Không ai hỏi giùm. Không một ai đứng lên ở đâu nói rằng đã có người vào đây, đã có người ngồi, đã ăn, đã đi ra. Lần này thì có. Cô có thể nói riêng với Khoa, và hắn sẽ giữ tiền rồi gọi công an như đã nói. Cô có thể tới gặp riêng bà già đó, và tối nay cái hộp sẽ không còn nằm trong bao gạo. Muốn sạch thì phải nói ở chỗ cả sân cùng nghe. Cô đóng ngăn đồ lại. Rồi cô mở sổ, lật tới một trang trắng, và bắt đầu chép lại mọi thứ cho rõ ràng từ đầu. Sàn. Giường. Tủ. Hộp. Chai. Chìa. Bìa. Điện thoại. Cô chép bằng chữ in, như người ta chép biên bản, mỗi dòng một vật, mỗi vật một giờ. Cô biết mình sẽ đứng ở đâu dưới gốc bàng, sẽ nói câu nào trước. Không ai ở đó có quyền nói cô đọc sai, vì tất cả đều nằm trong căn phòng, và căn phòng không nói dối. Khi cô viết xong dòng cuối, nắng trên kênh đã đổ màu cam. Thằng Cò đứng ngoài cửa xe gõ lên kính, chỉ tay về phía sân. Dưới gốc bàng, người ta đang khiêng ghế nhựa ra.