Chương 10: Hang Dơi Máu
Thuộc tiểu thuyết Đế Chế Bắt Đầu Từ Hoang Đảo
Tác giả: Hà Tinh Vân · Thể loại: Khoa Huyễn · Đăng ngày · 2289 từ · khoảng 11 phút đọc
Ngày thứ hai mươi tám mở ra bằng một bãi biển còn nguyên vẹn.
Cơn dông đêm qua chỉ đổ mưa hai tiếng rồi tan.
Sáng ra, bãi nam ướt sũng nhưng còn nguyên. Lán của phe Lộc đứng vững. Khói bếp của họ bốc lên đều đặn, và có tiếng người gọi nhau vọng lên tới thềm đá.
Nam đứng ở đầu dốc nhìn xuống một lúc lâu.
"Anh mong nó đổ à?" Vy hỏi.
"Không."
"Nhìn mặt anh thì như là có."
"Tôi mong nó đổ vào tuần này." Nam quay vào. "Chứ không phải vào lúc gió mạnh gấp ba."
*
Đội thăm dò núi lửa đi lúc sáu giờ.
Năm người: Nam, Mai, Chính, Khang, Vy.
Mỗi người một cây giáo tre, đầu vót nhọn rồi hơ lửa cho khô cứng. Hai bó đuốc bằng vỏ cây tẩm mỡ cá. Một cuộn dây leo. Ba cái chậu gốm nhỏ đeo sau lưng bằng dây quàng vai.
Mai đi đầu. Cô đi khác mọi hôm: chậm hơn, dừng nhiều hơn, và cứ mười lăm phút lại ngồi xuống xem mặt đất.
Đường lên sườn núi thoải ở đoạn đầu, rồi dốc gắt từ khi hết rừng.
Ở chỗ hết rừng, mặt đất đổi hẳn.
Đá ở đây xốp, xám nhạt, đầy lỗ nhỏ li ti, và nhẹ tới mức Khang nhặt một tảng to bằng cái mâm mà vẫn nâng được bằng một tay.
"Cái gì thế này?" cậu ta hỏi.
"Đá bọt." Nam gõ vào tảng đá, nghe tiếng đục. "Dung nham có nhiều khí hoà tan. Lúc phun ra, áp suất tụt đột ngột, khí trong đá nở bung ra hết cùng lúc, rồi đá nguội ngay tại đó. Kết quả là một khối đá đầy bọt khí đông cứng."
"Nó dùng làm gì được?"
"Nhiều thứ." Nam bẻ một góc, xoa mặt vỡ. "Nhẹ nên xây tường cao không nặng móng. Nhiều lỗ khí nên giữ nhiệt, làm thành lò tốt. Nghiền ra thì làm được vật liệu mài. Và nếu tôi đoán đúng thì tro của nó còn làm được thứ tôi cần hơn cả."
Mai bắt Nam đi sau cô suốt đoạn dốc, và cứ vài trăm bước cô lại chỉ xuống đất.
"Đây," cô nói ở chỗ đất mềm cạnh một tảng đá. "Nhìn đi."
Nam nhìn. Anh chỉ thấy đất.
"Cỏ bị gãy gập về một phía. Gãy chứ không phải héo. Gãy tối qua." Cô đưa ngón tay men theo một đường mờ. "Thân nặng kéo lê qua đây. Vết bụng."
"Cô học cái này ở đâu?"
"Trong quân đội. Mà học ở đó thì học để tìm người." Mai đứng lên. "Tìm thú thì tôi tự mò."
Cách đó vài trăm bước, họ tìm thấy chỗ ở của con vật.
Đó là một hốc đá nông, nền phủ cỏ khô nát bét, và trong hốc có ba mảnh vỏ trứng to bằng nắm tay, màu trắng ngà, dày như vỏ sò.
Vy nhặt một mảnh lên, xoay trong tay.
"Vỏ dày. Trứng bò sát cỡ lớn." Cô cạo mặt trong bằng móng tay. "Cái này nở lâu rồi. Ít nhất một mùa."
"Nghĩa là có con non ở đâu đó," Mai nói.
"Nghĩa là có một cặp bố mẹ." Nam nhìn quanh lòng chảo phía trên. "Và cặp đó coi cả sườn núi này là đất của chúng."
Không ai nhặt thêm mảnh vỏ nào. Họ đi tiếp, và từ đó Khang thôi kể chuyện.
*
Miệng phun phụ nằm ở lưng chừng, trong một lòng chảo rộng bằng cái sân đình.
Không có lửa. Không có dung nham. Chỉ có một chục khe nứt trên nền đá, và từ những khe đó bốc lên hơi trắng mỏng, đều, không ngớt.
Mùi xộc vào mũi từ cách ba chục bước. Mùi trứng thối, gắt, làm cay mắt.
"Đứng ngược gió," Nam nói. "Ai thấy nhức đầu thì lùi ngay, đừng cố."
Quanh mép các khe nứt, đá phủ một lớp tinh thể màu vàng chanh, sắc cạnh, kết thành từng chùm như hoa.
Nam cạo một mảng bằng mũi dao, hứng vào chậu gốm.
"Lưu huỳnh," anh nói. "Diêm sinh. Đây là thứ nguyên chất tự kết tinh từ hơi, không lẫn quặng."
"Để làm gì ạ?" Khang hỏi.
"Trước mắt là thuốc trị ghẻ và nấm da. Trộn với mỡ, bôi. Chị Dương sẽ cần." Nam cạo tiếp. "Về sau thì nhiều việc hơn."
"Việc gì?"
"Về sau." Nam đậy chậu bằng lá.
Vy ngồi xổm bên một khe nhỏ, đưa tay hứng hơi nóng.
"Anh ơi, chỗ này nóng đều quanh năm không?"
"Chắc là có. Sao?"
"Vì cái gì cần nhiệt ổn định ba mươi tới bốn mươi độ thì mang lên đây." Cô đếm ngón tay. "Ủ mắm. Ủ men. Sấy cá lúc trời mưa. Ấp trứng, nếu sau này mình có gà."
Nam nhìn quanh lòng chảo.
"Ghi lại," anh nói. "Chỗ này là một cái bếp không tốn củi."
*
Cửa hang nằm thấp hơn lòng chảo chừng năm chục bước, khuất sau một mỏm đá.
Nó không giống hang đá vôi. Nó là một cái ống, tròn, trơn ở thành, chạy chếch xuống lòng núi.
"Ống dung nham," Nam nói. "Dòng dung nham chảy trong lớp vỏ đã nguội. Chảy hết thì để lại cái ống rỗng."
Chính giơ đuốc lên soi vào.
Từ trong bốc ra một luồng khí ấm, và cùng với nó là mùi.
Mùi khai. Nồng tới mức Vy phải quay mặt đi.
"Có cái gì sống trong đấy," Mai nói.
Nam ném một hòn đá vào.
Tiếng động đầu tiên là tiếng đá lăn. Tiếng thứ hai là một tiếng rít chói, rồi hàng nghìn tiếng rít cùng lúc, rồi cả cái ống phun ra một dòng đen.
Dơi.
Chúng tràn qua đầu năm người thành một dải, ồn tới mức không nghe thấy nhau nói, và phải mất gần hai phút chúng mới thưa dần.
Khang ngồi bệt xuống đất.
"Thề với anh là em tưởng có ma."
Họ vào hang sau khi đàn dơi ra hết.
Nền hang phủ một lớp dày mềm, lún tới mắt cá chân, màu nâu sẫm. Mùi khai đặc tới mức Nam thấy rát trong mũi.
Nhưng ở chỗ khô nhất, sát vách, lớp nền có màu khác. Ở đó nó đóng thành từng mảng cứng, và bề mặt phủ một lớp bột trắng lấm tấm, ánh lên khi đuốc soi vào.
Nam quỳ xuống. Anh gạt lớp bột trắng ấy bằng lưỡi dao, gom lại, và trút vào cái chậu gốm thứ ba.
"Cái gì thế anh?" Vy hỏi.
"Chưa chắc."
"Anh chưa chắc mà anh hót cả chậu."
"Ừ." Nam đậy chậu. "Ra ngoài đã. Ở trong này lâu là hỏng phổi."
*
Con thằn lằn đứng chắn giữa lối ra, cách cửa hang mười lăm bước.
Nó cao tới ngực Nam khi bốn chân chống thẳng. Thân dài hơn hai mét kể cả đuôi. Da xám xanh, sần, và dọc sống lưng chạy một hàng gai dựng lên thành mào, đang giương hết cỡ.
Nó không lao tới. Nó hạ thấp đầu, dạng chân trước, và bắt đầu đi ngang.
"Lùi vào hang." Mai nói rất khẽ. "Từ từ."
"Trong hang không có lối khác," Chính nói.
"Vậy thì đừng lùi."
Nam đưa bó đuốc thứ hai cho Khang. "Châm."
Khang châm. Tay cậu ta run làm bó đuốc bén chậm.
Con thằn lằn lao vào lúc bó đuốc thứ hai vừa bùng lên.
Nó nhanh hơn Nam tưởng rất nhiều. Ba bước là hết mười lăm bước.
Mai đón nó bằng mũi giáo.
Cô không đâm. Cô chống cán giáo xuống khe đá, ghì bằng cả người, và để con vật tự lao vào mũi nhọn. Mũi tre xuyên qua lớp da ở vai trước, gãy đánh rắc, và con thằn lằn quật đầu sang ngang.
Cả người Mai bị hất bay ba bước.
Chính lao vào chọc giáo vào sườn nó. Khang dí đuốc vào mặt nó. Vy hét.
Con vật quay ngoắt lại, đuôi quét ngang, và Chính ngã.
Nam nhặt một tảng đá bọt to bằng cái nồi, nâng bằng cả hai tay, và đập xuống ngay sau hộp sọ con vật.
Đá bọt nhẹ. Nó vỡ tan, gần như không gây thương tích.
Nhưng con thằn lằn giật mình, quay đầu lại phía anh, và trong nửa giây đó Mai đã đứng dậy.
Cô nhặt cây giáo gãy, cầm ngược, và đâm mũi tre gãy vào cổ nó từ bên hông, ngay chỗ mềm dưới hàm.
Cô đẩy sâu tới khi cán giáo chạm da.
Con vật giãy bốn lần. Lần cuối yếu hơn ba lần trước. Rồi nó nằm xuống, và một dòng máu đen chảy loang trên nền đá xốp, thấm vào các lỗ khí, biến mất rất nhanh.
Không ai nói gì trong khoảng mười giây.
Rồi Vy chỉ vào cánh tay Mai.
Từ khuỷu tay xuống cổ tay có ba đường rách song song, sâu, và máu đang chảy thành dòng chứ không thành giọt.
*
Họ xuống núi trong hai tiếng.
Chính đi tập tễnh, xương chậu bầm nhưng không gãy. Khang khiêng hai cái chậu gốm. Vy giữ tay Mai giơ cao suốt đường đi, và Nam băng bằng vạt áo, thắt trên chỗ rách một nắm tay, nới ra mỗi mười phút.
Mai không kêu một tiếng. Đến nửa đường cô còn bảo Vy bỏ tay ra vì mỏi.
Thuỳ Dương đón họ ở đầu dốc.
Chị nhìn cánh tay hai giây, rồi quay đi lấy đồ.
"Nước sôi để nguội, nước muối, kim, chỉ," chị đọc. "Vy, đun lại bộ kẹp. Bà Tư cho tôi cái đèn mỡ."
"Kim đâu ra?" Nam hỏi.
"Tôi có hai cái. Cong. Dùng được ba lần nữa là hết." Dương đã quỳ xuống bên Mai. "Chỉ thì tôi dùng sợi gân cá bà Tư phơi. Nó không tan trong người, nên bảy ngày phải cắt ra."
Chị khâu mười bảy mũi dưới ánh đèn mỡ cá.
Mai nhìn thẳng lên trần lán suốt thời gian đó. Đến mũi thứ chín cô bắt đầu đếm to, và cô đếm đủ tới mười bảy.
*
Con thằn lằn được kéo về vào chiều hôm sau bằng tám người và hai cái đòn tre.
Nó nặng chừng hơn tạ. Bà Tư lột da, và da nó dày, dai, có vảy nhỏ như hạt tấm.
"Cái này thuộc được không bà?" Nam hỏi.
"Được. Nhưng phải ngâm nước vôi cho sạch lông với thịt bám, rồi phơi, rồi bóp cho mềm. Nhà tôi hồi xưa thuộc da trâu." Bà Tư lật miếng da lên xem mặt trong. "Mà tôi chưa có vôi, cậu ạ."
"Mai tôi có."
Thịt con vật dai và tanh. Bà Tư ninh nó với muối suốt bốn tiếng trong cái nồi lớn nhất, và cả trại ăn thịt lần đầu tiên sau hai mươi tám ngày.
Vy ngồi cạnh nồi, gắp một miếng, nhai rất lâu.
"Bò sát," cô nói. "Nhưng cấu trúc cơ giống chim hơn. Với lại nó có mào."
"Nghĩa là gì?"
"Nghĩa là em không biết nó là con gì." Cô nuốt. "Và em học sáu năm sinh học, ông anh ạ."
*
Trân đợi tới khi Dương khâu xong mới nói chuyện.
Cô ngồi trên phiến đá đầu dốc, sổ da đặt trên đầu gối, và cô không mở nó ra.
"Tôi duyệt chuyến đó," cô nói. "Tôi duyệt năm người lên núi với năm cây gậy tre."
"Giáo tre."
"Gậy tre vót nhọn." Cô nhìn xuống bàn tay mình. "Nếu con vật đó lao vào Vy thay vì lao vào Mai thì bây giờ tôi đang ngồi viết thêm một cái tên lên đá."
Nam không cãi.
"Chị muốn cấm lên núi?"
"Không. Trên núi có thứ chúng ta cần, tôi hiểu." Trân ngẩng lên. "Tôi muốn biết bao giờ thì chúng ta có thứ để đánh lại nó. Không phải chạy. Đánh lại."
"Cần kim loại."
"Bao giờ có kim loại?"
"Tôi không biết." Nam ngồi xuống cách cô một quãng. "Trên đảo này tôi chưa thấy quặng. Không thấy mạch màu đỏ, không thấy đá nặng bất thường, không thấy chỗ nào đất đổi màu kiểu có kim loại. Núi lửa thì thường không cho quặng sắt kiểu dễ lấy."
"Vậy là không có."
"Vậy là tôi chưa tìm ra." Anh nhìn xuống bãi cát đen phía đông, chỗ sóng đang đánh vào bờ thành một đường trắng dài. "Có khác nhau đấy, chị Trân."
Trân mở sổ, khắc một dòng.
"Tôi ghi là: chưa tìm ra," cô nói. "Anh có bao lâu?"
"Chị cho tôi bao lâu?"
"Tôi không cho ai cái gì cả. Tôi hỏi thật." Cô gấp sổ lại. "Vì Mai nằm mười ngày. Trong mười ngày đó, đêm nào cũng có người phải ngồi ở đầu dốc, và người đó không phải Mai."
*
Đêm đó Nam đặt ba cái chậu gốm thành hàng trên phiến đá cạnh bếp.
Chậu thứ nhất đựng đá bọt nghiền. Chậu thứ hai đựng tinh thể lưu huỳnh vàng chanh. Chậu thứ ba đựng thứ bột trắng cạo từ vách hang.
Se-ra tới, ngồi xuống, và nhìn ba cái chậu.
"Cái thứ ba là gì?"
"Chưa chắc." Nam nhúng đầu ngón út vào chậu, chấm lên đầu lưỡi, rồi nhổ ngay.
Vị mặn. Mặn kiểu khác muối. Mặn rồi hơi mát ở cuống lưỡi.
Anh ngồi im một lúc.
"Số đâu?" Se-ra hỏi.
"Chưa có số. Chỉ có vị."
"Vậy anh định làm gì với nó?"
Nam đậy cái chậu thứ ba lại bằng một miếng vỏ cây, và đặt một hòn đá lên trên nắp.
"Để dành," anh nói. "Cất chỗ khô. Đừng cho ai đụng vào."