Chương 9: Bãi nam

Thuộc tiểu thuyết Đế Chế Bắt Đầu Từ Hoang Đảo

Tác giả: · Thể loại: Khoa Huyễn · Đăng ngày · 2231 từ · khoảng 11 phút đọc

Ngày thứ hai mươi lăm, họ đếm lại.

Hai mươi tám người. Mười một người vừa ốm dậy, đi được nhưng chưa vác được. Bốn người còn nằm. Mười ba người lành lặn phải gánh phần của cả trại.

Kho còn: mười cân cá khô, hai cân muối, một chậu xà phòng, và củi đủ cho bốn ngày.

Se-ra ghi những con số đó lên bảng, và cô ghi bằng nét đậm hơn thường lệ.

*

Nam dựng bếp ba nồi trong hai ngày.

Anh xây bằng đá xếp trát đất sét trộn cỏ, dày hai gang, cao ngang hông. Bên trong là một buồng lửa hình lòng máng, thấp dần từ cửa nạp về phía ống khói. Trên mặt bếp khoét ba lỗ tròn, mỗi lỗ vừa khít để một cái nồi lọt xuống tới nửa thân.

Khí nóng đi từ cửa nạp, ôm lấy đáy nồi thứ nhất, luồn qua một khe hẹp sang nồi thứ hai, rồi nồi thứ ba, rồi chui vào ống khói.

Nồi đầu sôi bùng. Nồi hai sôi lăn tăn. Nồi ba chỉ nóng già, và nước trong đó là nước đã hâm sẵn cho mẻ sau.

Chính đứng xem suốt buổi trát cuối cùng.

"Kiểu này là kiểu bếp lò tàu," ông nói. "Trên tàu cũng thế. Hơi thừa của nồi hơi đem hâm nước cấp."

"Vâng."

"Sao không làm từ đầu?"

"Vì từ đầu tôi chỉ có ba hòn đá kê." Nam miết mối trát cuối. "Có nồi rồi mới nghĩ tới bếp. Có bếp rồi mới nghĩ tới cái sau nữa."

Mẻ đầu tiên chạy chiều ngày thứ hai mươi sáu.

Cùng lượng củi của một ngày cũ, bếp cho ra chín mươi lăm lít nước sôi.

Se-ra đo bằng bát gốm, đếm to từng bát, và khi tới bát cuối cùng, cô đặt nó xuống mạnh hơn cần thiết.

"Chín mươi lăm," cô nói. "Sáu mươi thành chín mươi lăm. Không thêm một cân củi nào."

Bà Tư nhìn ba cái nồi nằm lọt trong mặt bếp và không nói gì. Nhưng suốt hai ngày sau đó, bà không cho ai lại gần cái bếp trừ người trực.

*

Lộc đòi họp vào tối ngày thứ hai mươi sáu.

Ông ta không nói với riêng Trân. Ông ta nói giữa chỗ ăn, đủ to, lúc mọi người vừa ngồi xuống.

"Tôi đề nghị một cuộc họp toàn trại. Tối nay. Có ba việc cần bàn."

Trân đặt bát xuống. "Anh nói luôn đi."

"Việc thứ nhất: giờ lao động. Hiện nay chúng ta làm từ sáng tới tối, không có ngày nghỉ. Người vừa ốm dậy đã phải ra bãi. Tôi đề nghị mỗi bảy ngày nghỉ một ngày, và người ốm dậy được miễn lao động nặng mười ngày."

Có tiếng đồng tình.

"Việc thứ hai: kho. Hiện nay kho do chị Trân giữ và chia. Tôi đề nghị chia theo nhu cầu, do một người khác giữ, và công khai từng ngày."

"Việc thứ ba?"

"Việc thứ ba là cách chúng ta quyết định." Lộc đứng lên. "Hiện nay chị Trân quyết. Anh Nam đề xuất, chị Trân ký. Tôi đề nghị lập hội đồng ba người, biểu quyết theo đa số."

Cả thềm im.

Trân gấp sổ.

"Được," cô nói. "Họp."

*

Lộc nói trước, và ông ta nói giỏi.

Ông ta không công kích ai. Ông ta kể chuyện.

Ông kể về ông Hoà, về mười chín ngày ông ấy nằm nhìn trần lán, và về việc không ai đủ thì giờ ngồi với ông ấy quá mười lăm phút một ngày.

Ông kể về bàn tay Vy, và về việc một cô gái hai mươi tư tuổi bị bỏng vì đứng nấu một thứ mà không ai ở đây thật sự biết cách nấu.

Ông kể về mười bốn người ốm cùng một lúc, vì một cái hố vệ sinh đặt cách trại năm chục bước trên dốc đá trơn.

"Và tôi xin nhắc lại," Lộc nói, "chính anh Nam đã tự nhận đó là lỗi của anh ấy. Tôi rất trọng điều đó. Tôi trọng thật lòng."

Ông ta ngừng một nhịp.

"Nhưng một người tự nhận lỗi rồi vẫn tiếp tục quyết một mình thì lần sau vẫn thế thôi. Không phải vì anh ấy xấu. Vì anh ấy chỉ có một cái đầu."

Ai đó gật.

"Chúng ta có hai mươi tám cái đầu," Lộc nói. "Tôi chỉ nghĩ là nên dùng cả hai mươi tám."

*

Nam nói sau, và anh nói dở.

Anh bắt đầu bằng con số. Anh nói về chín mươi lăm lít nước sôi, về mười cân cá khô, về bốn ngày củi còn lại trong kho, về việc nghỉ một ngày trong bảy nghĩa là mất mười bốn phần trăm sản lượng khi kho chỉ còn đủ bốn ngày.

Anh nói đúng. Anh nói rành mạch. Và anh thấy rõ, khi đang nói, rằng anh đang thua.

Người ta nghe con số của anh bằng vẻ mặt lịch sự.

Đến giữa chừng, anh dừng lại.

"Tôi nói thêm một câu," anh nói. "Không phải con số."

Cả thềm chờ.

"Chuyện cái hố vệ sinh là lỗi của tôi. Tôi vẫn nhận. Nhưng tôi muốn mọi người biết chính xác lỗi đó là gì." Anh nhìn xuống. "Tôi đã đặt cái hố ở chỗ đúng về mặt vệ sinh và sai về mặt con người. Tôi tính khoảng cách, tính hướng gió, tính độ dốc thoát nước. Tôi không tính chuyện ba giờ sáng người ta sợ đi xuống dốc trong bóng tối."

Anh ngẩng lên.

"Đấy là thứ tôi không giỏi. Tôi biết. Và tôi không giả vờ là tôi giỏi. Nếu có hội đồng thì tôi cũng bỏ phiếu cho một người giỏi chuyện đó ngồi vào."

Anh ngồi xuống.

Đó là câu đúng nhất anh nói trong cả buổi tối, và anh nói nó muộn hơn đáng lẽ khoảng mười phút.

*

Trân cho bỏ phiếu từng việc một.

Việc thứ nhất, nghỉ một ngày trong bảy: mười hai thuận, mười bốn chống, hai không giơ tay. Thua sát.

Trân đề nghị sửa: nghỉ nửa ngày trong bảy, và người ốm dậy được miễn việc nặng bảy ngày. Bản sửa được thông qua với hai mươi mốt phiếu.

Việc thứ hai, chia kho theo nhu cầu: chín thuận, mười bảy chống. Thua rõ.

Việc thứ ba, lập hội đồng ba người: mười ba thuận, mười ba chống.

Trân đếm lại hai lần.

"Hoà," cô nói. "Theo luật thứ nhất mà chính chúng ta đã đồng ý ở buổi họp ngày thứ hai, hoà thì giữ nguyên cách cũ."

Lộc đứng dậy.

"Tôi ghi nhận kết quả," ông ta nói, và giọng ông ta vẫn ôn hoà. "Nhưng mười ba người ở đây vừa nói rằng họ muốn một cách khác. Tôi không thể ngồi im và coi như họ không nói gì."

"Anh định làm gì?"

"Chúng tôi xuống bãi nam."

Không ai nói gì trong khoảng năm giây.

"Chúng tôi vẫn là người của trại này," Lộc nói. "Chúng tôi chỉ ở chỗ khác, làm theo cách của chúng tôi. Chúng tôi lấy phần kho đúng bằng số người, không hơn một hạt muối. Chị Trân cứ cân."

Trân cân.

Bảy người đi theo ông ta. Trong bảy người đó có hai người vừa ốm dậy, một chị làm hành chính, và người thợ điện của tàu — người duy nhất biết đấu dây.

Họ mang theo hai cân rưỡi cá khô, năm lạng muối, một cái nồi, một cái chậu, và một phần ba chỗ xà phòng.

Họ đi xuống bằng lối dốc, mỗi người ôm một bọc, và không ai quay lại.

*

Trân ngồi trên phiến đá rất lâu sau khi họ đi.

Nam mang cho cô một bát nước.

"Tôi thua," cô nói.

"Chị không thua. Mười ba mười ba."

"Tôi có hai mươi tám người, và tôi để mất tám." Cô cầm bát nhưng không uống. "Anh biết chỗ sai của tôi ở đâu không?"

"Chị nói đi."

"Tôi đối xử với họ như nhân viên. Nhân viên không đồng ý thì họ nghỉ việc, tìm chỗ khác." Cô nhìn xuống bãi nam, chỗ đã có ánh lửa nhỏ. "Ở đây không có chỗ khác. Nên tôi phải đối xử kiểu khác, mà tôi thì không biết kiểu nào."

Nam ngồi xuống cách cô một quãng.

"Chị Trân."

"Gì."

"Người đẩy họ đi là tôi, không phải chị." Anh chống tay ra sau. "Ông Lộc nói đúng một điều. Tôi quyết một mình rồi mới giải thích sau. Tôi làm thế vì giải thích trước thì lâu, mà tôi thì lúc nào cũng thấy có việc gấp hơn."

"Anh định sửa không?"

"Định."

"Bằng cách nào?"

"Chưa biết." Anh nhìn ánh lửa dưới bãi. "Nhưng mai tôi sẽ xuống dưới đó."

*

Việc chia lại công mất trọn buổi sáng hôm sau.

Hai mươi người ở lại, trong đó bốn người còn nằm và chín người mới dậy. Mỗi đầu việc trước đây có ba người thì nay còn hai, và có việc chỉ còn một.

Trân trải tấm vỏ cây danh sách ra trên phiến đá, gạch tên bảy người đã đi, và ngồi im mười phút trước những khoảng trống.

Bà Tư mất người phụ bếp. Se-ra mất người ghi bảng buổi tối. Đội củi mất hai người khoẻ nhất trong ba. Và không ai thay được người thợ điện, vì chưa có gì để đấu, nhưng ai cũng biết rồi sẽ có.

Khang tới trước tiên. Cậu ta đã gánh nước xong sáu ngày phạt từ lâu, và cậu ta vẫn gánh.

"Cho em nhận thêm đội củi," cậu ta nói.

"Cậu đang gánh nước cả buổi sáng."

"Sáng gánh nước, chiều đi củi."

Trân nhìn cậu ta. "Cậu ăn thêm một phần."

"Không cần đâu chị."

"Cậu ăn thêm một phần." Cô ghi vào sổ. "Đây không phải thưởng. Đây là bù nhiên liệu."

Tuấn xin đi cùng đội củi. Hai chị hành chính xin học đứng bếp. Bùi Văn Chính nhận thêm phần đục đá, dù tay ông đã tướp từ tuần trước.

Đến trưa, các khoảng trống trên tấm vỏ cây đã được lấp gần hết bằng những nét than mới, chồng lên nét cũ, và tấm danh sách trông bẩn hơn nhưng đầy hơn.

Vy đứng đọc nó khá lâu.

"Bọn họ đi rồi thì mình lại làm nhiều hơn," cô nói.

"Ừ."

"Mà không ai kêu."

"Có kêu chứ." Thuỳ Dương đi ngang, tay bê chậu. "Kêu trong bụng. Kêu trong bụng thì vẫn làm được việc."

Chị đặt chậu xuống, đứng thẳng lưng, và nhìn xuống bãi nam.

"Tôi lo bốn người kia," chị nói. "Trong bảy người đi có hai người vừa hết tiêu chảy ba hôm. Ruột họ chưa lại. Xuống dưới đó thì họ uống nước gì?"

"Họ có nồi," Nam nói. "Một cái."

"Một cái nồi cho tám người."

Không ai nói thêm gì về chuyện đó.

*

Sáng ngày thứ hai mươi bảy, Mai đi trinh sát về.

"Họ dựng lán trên cát," cô nói. "Cách mép nước bốn chục bước. Ngay chỗ mình ở tuần đầu."

Nam đứng dậy ngay.

"Dưới vạch."

"Dưới vạch," Mai xác nhận.

"Anh định xuống à?" Trân hỏi.

"Vâng."

"Anh xuống bảo họ dời lên, họ sẽ nghe thấy một câu khác." Cô đứng chắn ở đầu dốc. "Họ sẽ nghe thành: chúng tôi biết các anh sai rồi, quay về đi. Ông Lộc sẽ dùng đúng câu đó tối nay, trước mặt bảy người kia."

"Vậy chị bảo tôi để mặc?"

"Tôi bảo anh nghĩ xem nói thế nào."

Nam đứng ở đầu dốc một lúc.

Rồi anh quay vào, lấy một cây cọc gỗ dài bằng cánh tay, và bắt đầu đẽo nhọn một đầu.

*

Anh xuống bãi nam lúc gần trưa.

Bảy người đang dựng mái. Lộc ngồi trên một khúc gỗ, chỉ trỏ, và ông ta đứng dậy khi thấy Nam.

"Anh Nam." Ông ta cười. "Nhanh thế."

Nam không đáp.

Anh đi thẳng qua chỗ họ, xuống phía dưới lán chừng mười lăm bước, tới đúng chỗ có một vệt rong khô nằm vắt ngang cát thành một đường dài — dấu của con nước lớn tuần trước.

Anh đóng cây cọc xuống đó. Đóng bằng một hòn đá, năm nhát, cho tới khi nó cắm chặt.

Rồi anh khắc lên đầu cọc một vạch ngang, và bên dưới vạch, hai chữ số.

Anh làm việc đó lặng lẽ, không nhanh không chậm, và không nhìn về phía lán một lần nào.

Xong, anh đứng dậy, phủi tay, và đi ngược lên dốc.

"Cái cọc gì thế?" một người hỏi với theo.

Nam không quay lại.

"Anh ta cắm cọc gì đấy?" người đó hỏi lại, lần này hỏi Lộc.

Lộc nhìn cây cọc khá lâu.

Rồi ông ta bước tới, nắm lấy nó bằng cả hai tay, lắc mấy cái, và nhổ lên.

"Trò trẻ con," ông ta nói, và ném cây cọc vào bụi cây.

Trên đường về, Nam dừng lại ở khúc dốc và nhìn ra biển phía tây nam.

Ở đó, sát đường chân trời, mây đã bắt đầu chồng lên nhau thành từng khối cao, đáy phẳng và xám, đỉnh trắng trồi lên như bọt.

Khối mây ấy giữ chân anh một lúc. Rồi anh đi tiếp.