Chương 18: A Xuyến
Thuộc tiểu thuyết Đế Chế Bắt Đầu Từ Hoang Đảo
Tác giả: Hà Tinh Vân · Thể loại: Khoa Huyễn · Đăng ngày · 2509 từ · khoảng 13 phút đọc
Chòi canh dựng xong ngày thứ tám mươi lăm.
Nó nằm trên mỏm đá cao nhất phía tây bắc thềm, sàn ghép từ ván lấy ở xác thuyền, mái lá, và bốn cột chôn chèn vữa. Từ đó nhìn ra biển tây được mười lăm cây số trong ngày quang.
Tuấn trực ca đầu tiên. Cậu ta ngồi trên đó suốt bốn tiếng và không thấy gì ngoài nước.
Đến ca thứ hai, Khang thấy một vệt trắng.
*
Vệt trắng ấy là một tấm ván trôi, và trên tấm ván có buộc một sợi dây.
Mai vớt nó lên ở bờ bắc, xem chỗ buộc, rồi ngồi xuống rất lâu.
"Nút này thắt bằng tay người," cô nói. "Thắt gấp. Thắt bằng một tay."
Nam nhìn quanh bãi đá.
"Nếu tấm ván này trôi vào đây thì người bám vào nó cũng trôi vào đây."
"Không chắc." Mai đứng dậy. "Nhưng dòng nước ở khúc này chỉ chảy một chiều."
Họ tìm suốt buổi chiều dọc bờ bắc, và ở khúc đá ngầm cách chỗ vớt tấm ván chừng nửa cây số, Mai dừng lại trước một vũng bùn nhỏ giữa hai tảng đá.
Trong bùn có một dấu chân.
Chân trần. Nhỏ. Ngón chân bấm xuống.
*
Họ tìm thấy cô trong một hốc đá lúc trời gần tối.
Hốc nông, cao ngang đầu gối, khuất sau một bụi cây mọc chìa ra. Nếu Mai không nhìn thấy vệt cỏ bị vò nát ở lối vào thì họ đã đi qua.
Bên trong có một người co người nằm nghiêng.
Nam cúi xuống.
Người ấy bật dậy.
Cú bật nhanh tới mức Nam không kịp lùi. Một bàn tay chộp lấy cổ áo anh, và một thứ gì nhọn dí vào ngay dưới xương quai xanh.
Nam đứng im.
Thứ nhọn ấy là một lưỡi câu làm bằng xương, dài bằng ngón tay, mài sắc ở đầu.
Người cầm nó là một cô gái. Trẻ, gầy tới mức thấy rõ xương đòn, tóc bết muối, môi nứt toác. Mắt cô mở to và không chớp.
Mai bước tới từ bên hông với cây giáo.
"Đừng." Nam giơ tay ngăn cô lại, tay còn lại vẫn buông thõng. "Bỏ giáo xuống."
"Anh Nam—"
"Bỏ xuống. Đặt xuống đất."
Mai đặt cây giáo xuống đất.
Nam vẫn không cử động. Anh nhìn thẳng vào mắt cô gái, và anh từ từ mở lòng bàn tay phải ra, chìa về phía cô.
Trong lòng bàn tay có một mẩu cá khô.
Cô gái nhìn mẩu cá. Rồi nhìn mặt anh. Rồi nhìn mẩu cá.
Tay cầm lưỡi câu của cô bắt đầu run.
Cô cầm lấy mẩu cá, lùi lại một bước, và ăn nó bằng cả hai tay, nhanh tới mức bị sặc.
Rồi cô ngã.
*
Thuỳ Dương làm việc với cô suốt đêm.
"Mất nước nặng. Sốt bốn mươi. Ba ngày chưa ăn, có khi hơn," chị đọc trong lúc lau người cho cô bằng nước ấm. "Vết thương ở sườn phải, dài bằng gang tay, mưng mủ. Vết này không phải do đá cứa."
"Do gì?" Trân hỏi.
"Roi. Hoặc dây thừng quật." Dương vén tay áo rách của cô gái lên. "Còn cái này thì tôi biết chắc."
Quanh cổ tay trái cô gái có một vòng hằn. Da chỗ đó chai lại thành một vòng liên tục, nhẵn, và trên nền chai có những vết trầy mới chồng lên.
Trên cổ chân phải cũng có một vòng như thế.
"Vòng sắt," Mai nói. Cô đứng ở cửa lán, và cô nói câu đó rất khẽ. "Đeo lâu ngày."
Không ai hỏi thêm.
*
Cô gái tỉnh vào sáng ngày thứ tám mươi bảy.
Việc đầu tiên cô làm là ngồi bật dậy và tìm cái gì đó quanh chỗ nằm.
Vy đưa cho cô cái vòng vỏ ốc mà Dương đã tháo ra lúc lau người.
Cô gái giật lấy, đeo vào cổ tay phải, và ôm cổ tay ấy vào ngực.
Việc thứ hai cô làm là nhìn quanh và đếm người.
Việc thứ ba là nhìn xuống chân mình, thấy chân không bị buộc, và sau đó vai cô hạ xuống chừng một đốt ngón tay.
Trong lán lúc đó có bốn người: Dương, Vy, Trân, và bà Tư. Nam đứng ngoài cửa. Mai đứng xa hơn, không cầm gì.
Nam đã cho cất hết giáo từ đêm trước.
*
Vy bắt đầu vào buổi chiều.
Cô ngồi cách cô gái một quãng, đặt giữa hai người một cái bát gốm đựng nước, và chỉ vào nó.
"Nước."
Cô gái nhìn cái bát.
"Nước," Vy nói lại. Rồi cô uống một ngụm, đặt bát xuống, đẩy về phía cô gái.
Cô gái uống. Rồi cô đặt bát xuống, chỉ vào nó, và nói một từ.
Âm ấy có hai tiếng, tiếng sau cao hơn tiếng trước.
Vy lặp lại. Sai. Cô gái sửa. Vy lặp lại lần nữa, và lần này cô gái gật đầu.
Vy khắc lên tấm vỏ cây: bát nước, và bên cạnh, cách cô ghi âm ấy bằng chữ Việt.
Trong hai tiếng, họ có mười bảy từ.
Trong hai ngày, họ có gần hai trăm.
*
Cô gái học nhanh hơn Vy nhiều.
Đến ngày thứ tám mươi tám, cô đã gọi đúng tên tám người trong trại. Đến ngày thứ tám mươi chín, cô ghép được câu ba từ.
"Cô ấy học tiếng mình gấp bốn lần mình học tiếng cô ấy," Vy nói trong hội đồng.
"Vì sao?" Trân hỏi.
"Em nghĩ vì cô ấy đã từng phải học tiếng của người khác một lần rồi." Vy nhìn xuống tấm vỏ cây đầy chữ. "Người đã học một ngoại ngữ trong hoàn cảnh bắt buộc thì học ngôn ngữ thứ hai nhanh hơn nhiều."
Không ai nói gì.
Tên cô là hai âm tiết, và Vy chép lại thành hai chữ.
A Xuyến.
*
Ngày thứ tám mươi chín, A Xuyến xuống nước.
Không ai bảo cô làm thế. Cô đi theo nhóm ra bẫy cá lúc con nước rút, đứng nhìn họ vớt trong ao đá chừng mười phút, rồi cởi cái áo ngoài, đưa cho Vy, và lội xuống.
"Ơ chị ơi—" Tuấn gọi với.
Cô đã lặn xuống.
Cô ở dưới nước lâu tới mức Vy đứng lên. Rồi lâu hơn nữa, tới mức Khang lội xuống hai bước.
Cô nổi lên ở cách đó hai chục mét, thở ra một hơi dài, và trong tay cô có ba con ốc to bằng nắm tay, vỏ tía.
Cô lặn thêm bốn lần nữa. Lần nào lên cũng có.
Đến lần thứ năm, cô không lấy ốc. Cô nổi lên, vẫy tay gọi, rồi chỉ xuống một chỗ nước sẫm màu cách bờ chừng trăm mét.
Vy dịch bằng cách đoán.
"Chỗ kia có gì đó."
Mai bơi ra cùng cô.
Hai người lặn xuống một lượt. Khi lên, Mai bám vào một mỏm đá thở dốc, và mất một lúc cô mới nói được.
"Hõm đá," cô nói. "Sâu chừng bốn mét. Ở dưới đầy cá. Đầy tới mức tôi không nhìn thấy đáy."
Nam ngồi xuống bên mép nước.
"Bao giờ thì cá vào đó?"
Vy hỏi. A Xuyến trả lời bằng ba từ và một cử chỉ vòng tay.
"Nước lớn," Vy dịch. "Trăng tròn. Cô ấy nói khi trăng tròn thì cá về hõm đá, nhiều."
"Cô ấy biết bằng cách nào?"
Vy hỏi lại. A Xuyến nhìn Nam một lúc, rồi trả lời một câu ngắn.
Vy bật cười.
"Cô ấy bảo: ai cũng biết."
*
Cái mà cả trại tranh cãi tối hôm ấy không phải là hõm cá.
"Tôi hỏi thẳng," Lộc nói. "Cô ấy ở đây với tư cách gì?"
"Ông muốn tư cách gì?" Trân hỏi lại.
"Tôi không muốn gì cả. Tôi giữ kho, tôi phải ghi sổ. Trong sổ của tôi có hai mươi tám cái tên và hai mươi tám suất ăn." Lộc gõ ngón tay lên bìa sổ. "Giờ là hai mươi chín. Tôi ghi cô ấy vào cột nào?"
"Ghi vào cột người," Dương nói.
"Chị Dương, tôi không đùa."
"Tôi cũng không." Dương ngồi thẳng lên. "Cô ấy hai mươi tuổi, nặng ba mươi tám cân, sốt bốn mươi độ ba ngày trước. Ông muốn tôi ghi cô ấy vào cột gì?"
"Tôi chỉ muốn hội đồng nói rõ ra." Lộc không lùi. "Vì nếu cô ấy là khách thì khách có quyền đi. Nếu cô ấy là người của trại thì phải theo luật của trại. Còn nếu cô ấy là thứ gì ở giữa thì ba tháng nữa sẽ có người hỏi tôi tại sao có kẻ ăn mà không làm, và lúc đó tôi phải trả lời."
Trân im một lúc.
"Ông nói đúng," cô nói.
"Cảm ơn chị."
"Ghi cô ấy vào sổ như mọi người. Suất ăn như mọi người, việc như mọi người, quyền như mọi người." Trân mở sổ luật ra. "Và thêm một dòng: A Xuyến được đi bất cứ lúc nào cô ấy muốn, và không ai được giữ. Tôi ký."
"Sao lại phải ghi cái đó vào?"
Trân ngẩng lên nhìn ông ta.
"Vì trên cổ chân cô ấy có một vòng hằn," cô nói. "Và tôi muốn có một dòng trong sổ này nói rằng ở đây thì không."
*
Chiều ngày thứ chín mươi, A Xuyến vẽ trên cát.
Cô làm việc đó không ai bảo. Cô ngồi xuống chỗ bãi phẳng gần bếp, nhặt một que, và bắt đầu.
Đầu tiên cô vẽ một hình bầu dục dài, và cắm cái que xuống giữa nó, rồi chỉ vào chỗ họ đang đứng.
"Đảo," Vy nói. "Đảo mình."
A Xuyến gật.
Rồi cô vẽ một đường cong lớn ở mép trái tấm cát, dài, chạy suốt từ trên xuống dưới, và cô vẽ nó rất chắc tay.
Cô chỉ vào đường cong đó, rồi chỉ về phía tây, rồi nói một từ.
"Đất," Vy dịch. "Đất lớn."
Trân bước lại gần hơn.
"Hỏi cô ấy xa bao nhiêu."
Vy hỏi bằng ba từ và hai cử chỉ.
A Xuyến giơ ba ngón tay, rồi khum tay làm hình mái nhà và úp xuống đất ba lần.
"Ba đêm," Vy nói. "Ba đêm thuyền."
A Xuyến chưa vẽ tiếp ngay.
Cô hạ đầu que xuống giữa dải đất lớn, và vẽ vào đó mấy hình thú bốn chân. Cô vẽ chúng to gấp ba những hình người đứng bên cạnh, và cô vẽ cái đầu chúng cúi xuống về phía hình người.
Rồi cô gạch chéo cả vùng giữa của dải đất. Gạch mạnh, nhiều nét chồng lên nhau, tới khi que cùn.
"Không đi giữa," cô nói. "Đi mép. Đi nước."
"Giữa có gì?" Vy hỏi.
A Xuyến nghĩ một lúc lâu, tìm chữ trong cái vốn hai trăm từ của mình.
"Rừng ăn người," cô nói. "Tộc tôi không vào. Không tộc nào vào. Thuyền lớn cũng không đậu gần."
Cô đặt bàn chân trần lên mấy hình thú, di một cái, xoá sạch, rồi mới nhặt que lên vẽ tiếp — như thể để chúng nằm đó lâu thêm cũng không nên.
Rồi A Xuyến vẽ thứ thứ ba.
Cô vẽ một hình thuyền ở khoảng giữa đảo và đất lớn. Rồi cô vẽ những hình người nhỏ đứng thành hàng trên thuyền, và cô nối tất cả các hình người ấy lại với nhau bằng một đường thẳng chạy ngang qua cổ chân họ.
Cô chỉ vào đường thẳng đó.
Rồi cô chỉ vào cái vòng hằn trên cổ chân mình.
Cả bãi im.
A Xuyến vẽ tiếp. Cô vẽ thêm ba hình người nữa ở cuối hàng, tách riêng, và cô khoanh tròn ba hình đó lại.
Rồi cô đặt bàn tay lên ba hình người ấy, và cô để nguyên bàn tay ở đó rất lâu.
"Hỏi cô ấy ba người kia là ai," Trân nói.
Vy hỏi.
A Xuyến rút tay lại, xoá ba hình người bằng lòng bàn tay, và đứng dậy.
Cô lắc đầu.
Cô nói một câu dài, câu dài nhất từ khi tỉnh dậy, và Vy chỉ nghe ra được hai từ trong đó.
"Cô ấy nói gì?" Trân hỏi.
"Em không hiểu hết." Vy nhìn theo cô gái đang đi về phía mép thềm. "Em chỉ hiểu hai chữ. Một chữ là không. Chữ kia là hỏi."
*
Nam hỏi cô về kim loại vào cuối buổi chiều hôm đó.
Anh mang tới ba thứ đặt xuống trước mặt cô: con dao sắt của trại, con dao đồng lấy từ xác người trên thuyền, và mũi tên sắt.
A Xuyến nhìn ba thứ đó, và cô không chạm vào cái nào.
Cô chỉ vào con dao đồng, rồi nói một từ.
"Từ này em có rồi," Vy nói. "Cô ấy dùng nó khi nói về cái khoá thắt lưng. Chắc là đồng."
Nam chỉ vào con dao sắt của trại.
A Xuyến chỉ vào mũi tên sắt, rồi chỉ vào con dao sắt, rồi lắc đầu và xua tay ngang.
"Cô ấy bảo hai cái không giống nhau," Vy dịch.
"Hỏi cô ấy cái nào tốt hơn."
Vy hỏi.
A Xuyến cầm con dao sắt của trại lên. Cô cầm nó rất cẩn thận, bằng hai tay, và cô đưa lưỡi dao ra ánh sáng, xoay nó.
Rồi cô đặt nó xuống và nói một câu dài.
"Em chỉ hiểu một phần." Vy nhíu mày. "Có chữ tốt. Có chữ nhiều. Có chữ... em nghĩ là quý, hoặc là đắt."
"Hỏi ở chỗ cô ấy ai có dao như thế này."
Vy hỏi. Lần này A Xuyến hiểu ngay.
Cô giơ một ngón tay lên, rồi chỉ về hướng tây, rồi làm động tác đội một cái gì đó lên đầu.
"Người đứng đầu," Vy nói. "Chỉ người đứng đầu."
Nam ngồi im một lúc.
Rồi anh cầm con dao sắt lên, xoay chuôi về phía A Xuyến, và đưa cho cô.
Cô không nhận.
Anh đặt nó xuống trước mặt cô và đứng dậy.
"Nói với cô ấy là ở đây ai cũng có," anh nói.
*
Đêm ấy A Xuyến ngồi ở mép thềm, quay mặt về phía tây.
Cô ngồi ở đó từ lúc trời tối tới quá nửa đêm, hai tay ôm gối, và không nhúc nhích.
Vy mang cho cô một cái áo và ngồi xuống cách một quãng.
Hai người ngồi im chừng nửa tiếng.
Rồi A Xuyến nói, bằng tiếng Việt, chậm, từng chữ một, và cô nói không nhìn Vy.
"Không đi phía đó."
Vy quay sang.
"Phía nào?"
A Xuyến giơ tay chỉ về hướng tây, nơi không có gì ngoài bóng tối và tiếng sóng.
"Phía đó," cô nói. "Có thuyền. Thuyền đến. Không đi."
"Thuyền của ai?"
A Xuyến im.
Cô đưa tay lên cổ tay trái, chỗ có vòng hằn, và cô nắm lấy nó bằng bàn tay phải, chặt, như người ta giữ một cái còng đang không có ở đó nữa.