Chương 19: Hai vầng trăng

Thuộc tiểu thuyết Đế Chế Bắt Đầu Từ Hoang Đảo

Tác giả: · Thể loại: Khoa Huyễn · Đăng ngày · 2415 từ · khoảng 12 phút đọc

Ngày thứ chín mươi mốt, Kwon Se-ra làm một cái thước.

Nó không phải thước. Nó là một tấm ván nhỏ hình chữ nhật, mỗi cạnh bằng bàn tay, và ở giữa có buộc một sợi dây dài bằng cánh tay.

"Cái gì đây?" Nam hỏi.

"Người Ả Rập đi biển ngày xưa dùng cái này." Se-ra cắn một nút thắt trên sợi dây. "Cắn dây bằng răng, kéo căng, giơ tấm ván lên trời. Cạnh dưới đặt vào đường chân trời, cạnh trên chạm vào ngôi sao. Nút thắt nào chạm răng thì đọc ra góc."

"Cô đo được chính xác không?"

"Không. Sai số ba bốn độ." Cô giơ tấm ván lên thử. "Nhưng tôi không cần chính xác. Tôi cần đo cùng một ngôi sao trong ba mươi đêm liền, rồi xem nó có đứng yên không."

*

Ba đêm đầu không thấy gì.

Đêm thứ nhất trời phủ mây thấp. Đêm thứ hai quang nhưng chỉ có một vầng trăng, gần tròn, mọc lúc gần chín giờ. Đêm thứ ba cũng thế.

Se-ra vẫn ra ruộng muối cả ba đêm. Cô ngồi ở đó với tấm ván, sợi dây và một tấm vỏ cây, và cô đo cùng một ngôi sao sáng nhất ở phía nam, ghi lại độ cao của nó vào từng khắc.

Đêm thứ ba, Nam ra ngồi cùng.

"Cô thấy gì rồi?" anh hỏi.

"Tôi thấy một thứ tôi không thích." Cô đưa tấm vỏ cây cho anh. "Ngôi sao này, ba đêm liền, cùng một khắc, cùng một độ cao. Nghĩa là nó gần cực. Nghĩa là trục quay của chỗ này chỉ về khoảng đó."

"Vậy thì sao?"

"Vậy thì nó phải là sao cực. Sao Bắc Đẩu, hoặc thứ tương đương." Se-ra chỉ tay lên. "Nhưng nó ở phía nam, anh Nam. Ở Biển Đông thì sao cực phải ở phía bắc."

"Có thể chúng ta ở nam bán cầu."

"Có thể." Cô hạ tay xuống. "Nhưng chúng ta rơi xuống nước cách Vũng Tàu ba trăm hải lý, và ba trăm hải lý thì không sang được nam bán cầu."

*

Đêm thứ tư, nó lên.

Vầng trăng lớn mọc lúc tám giờ bốn mươi, ngả vàng, thấp trên mặt biển.

Vầng thứ hai lên sau đó bốn mươi phút, ở một chỗ khác trên đường chân trời, lệch về phía nam gần hai bàn tay dang.

Nó nhỏ hơn nhiều. Trắng hơn. Rìa dưới của nó có một mảng tối cong, và mảng tối ấy không phải mây, vì nó đứng yên khi mây trôi qua trước mặt nó.

Se-ra đứng dậy.

Cô đứng nhìn nó chừng ba mươi giây.

Rồi cô chạy.

*

Cả trại lên ruộng muối trong hai mươi phút.

Hai mươi chín người đứng thành một đám trên phiến đá phẳng, và không ai nói gì trong một khoảng thời gian rất dài.

Vầng lớn đã lên cao hơn, sáng hơn, và ánh của nó trải trên sáu ô ruộng muối thành sáu vệt bạc.

Vầng nhỏ nằm chếch phía dưới bên trái, bằng chừng một phần tư vầng lớn, và mảng tối cong ở rìa dưới của nó thấy rõ tới mức đếm được chỗ nó bắt đầu và chỗ nó kết thúc.

Bà Tư ngồi thụp xuống.

Tuấn quay sang Khang, rồi quay lại nhìn lên, rồi lại quay sang Khang.

"Là cái gì?" cậu ta hỏi. "Anh Nam, cái kia là cái gì?"

"Một mặt trăng thứ hai," Nam nói.

"Không có mặt trăng thứ hai."

"Ở chỗ chúng ta thì không."

*

Vũ Đắc Lộc là người phản ứng dữ nhất, và ông ta phản ứng bằng cách cãi.

"Vệ tinh," ông ta nói. "Trạm không gian. Cái gì đó người ta phóng lên."

"Trạm không gian không đứng yên trên trời được, và nó không to bằng một phần tư mặt trăng," Se-ra nói.

"Thì bóng thám không. Khinh khí cầu tầng cao."

"Cách đây bốn mươi ngày tôi cũng nghĩ thế." Se-ra giơ tấm vỏ cây lên, và cô nói to hơn để cả đám nghe. "Nên tôi đi tìm bằng chứng ngược lại. Tôi có bốn thứ, và tất cả đều đo được, không cần tin ai."

Cô đọc.

"Một: bóng mặt trời lệch hai mươi độ so với ngày ba tháng chín ở vĩ độ mình rơi xuống. Anh Nam đo ngày thứ nhất, tôi đo lại ngày thứ tám, sai lệch nhau nửa độ."

"Hai: biên độ triều gần bốn mét ở một hòn đảo giữa biển sâu. Ở Trái Đất chỗ như thế này thì biên độ một mét là nhiều."

"Ba: chu kỳ con nước sáu giờ hai mươi phút, lệch tám phút so với chu kỳ do mặt trăng gây ra. Tôi đo bốn mươi mốt ngày. Lệch đều, không phải sai số."

"Bốn: sao cực ở phía nam. Và tôi không tìm được một chòm sao nào tôi biết. Không có Bắc Đẩu, không có Thợ Săn, không có Nam Thập Tự."

Cô hạ tấm vỏ cây xuống.

"Ba tháng nay tôi cố tìm cách giải thích bốn thứ đó bằng một câu chuyện có Trái Đất trong đó. Tôi không tìm được câu nào."

Chính lên tiếng từ phía sau.

"Tôi đi biển hai mươi năm," ông nói. "Đêm nào tôi cũng nhìn trời. Ba tháng nay tôi tìm sao Bắc Đẩu mỗi đêm. Chín mươi tư đêm."

"Bác không thấy?" Trân hỏi.

"Không thấy." Chính nhìn xuống. "Tôi tưởng mắt tôi kém đi."

*

Lộc ngồi xuống trên mép ruộng muối.

Ông ta ngồi đó, hai tay đặt lên đầu gối, và ông ta không cãi nữa.

"Tôi có hai đứa con," ông ta nói.

Không ai đáp.

"Đứa lớn năm nay vào lớp mười. Con bé hỏi tôi ba lần rồi là bao giờ bố về, mà tôi thì cứ bảo bố bận." Ông ta nói với cái nền đá trước mặt. "Hôm lên tàu tôi có hứa mua cho nó cái máy tính."

Bà Tư ngồi xuống cạnh ông ta.

Bà không nói gì. Bà chỉ ngồi đó, và một lúc sau bà đặt tay lên lưng ông ta.

Có tiếng khóc ở phía sau đám đông. Rồi thêm một tiếng nữa.

Thuỳ Dương đi vòng qua từng người, không nói, chỉ đặt tay lên vai từng người một, và chị đi hết hai mươi tám người.

Đến Nam thì chị dừng lại.

"Anh biết từ ngày thứ nhất," chị nói.

"Tôi ngờ từ ngày thứ nhất. Tôi chắc từ đêm ngày mười chín."

"Bảy mươi hai ngày."

"Vâng."

Dương nhìn anh một lúc lâu.

"Anh vác một mình bảy mươi hai ngày," chị nói. "Lần sau thì đừng."

*

Đặng Bảo Trân để cho mọi người khóc chừng mười lăm phút.

Rồi cô đứng lên trên một tảng đá và nói, và cô nói đủ to.

"Tôi không cho bỏ phiếu về chuyện này," cô nói. "Sự thật thì không bỏ phiếu được. Chúng ta ở đâu thì chúng ta đã ở đấy rồi, từ trước khi ai biết."

Cô đợi cho im.

"Nhưng có ba việc đổi từ đêm nay, và ba việc này thì tôi cho bỏ phiếu."

"Việc thứ nhất: từ nay không ai phải giữ ca canh tàu cứu hộ nữa. Chín mươi bốn ngày qua, đêm nào cũng có một người ngồi nhìn ra biển đợi đèn tàu. Từ mai, người đó chuyển sang canh chuyện khác."

"Việc thứ hai: mọi kế hoạch của chúng ta từ nay tính bằng năm, không tính bằng tuần. Vườn của chị Vy, rừng, đàn cá, mọi thứ."

"Việc thứ ba." Trân dừng lại lâu hơn. "Hòn đảo này phải có một cái tên."

"Sao phải đặt tên?" ai đó hỏi.

"Vì suốt ba tháng nay chúng ta gọi nó là đảo. Cái đảo. Trên đảo, dưới đảo." Trân nhìn quanh. "Người ta không đặt tên một nơi mình sắp đi khỏi."

*

Việc đặt tên không xong đêm đó.

Có bảy cái tên được nêu ra và không cái nào quá năm phiếu. Trân gác lại, ghi cả bảy vào sổ, và nói sẽ bàn lại khi có dịp.

Nhưng có một cái tên được đặt xong ngay đêm ấy, và nó không do người trong trại đặt.

Se-ra quay sang A Xuyến, đang đứng ở rìa đám đông với Vy.

Cô chỉ lên vầng trăng lớn.

A Xuyến nói một từ.

Se-ra chỉ lên vầng nhỏ.

A Xuyến nói một từ khác.

Vy dịch, và giọng cô hơi run.

"Cái lớn cô ấy gọi là Mẹ. Cái nhỏ cô ấy gọi là Con."

Se-ra hỏi tiếp qua Vy: cái nhỏ có phải lúc nào cũng lên không.

A Xuyến lắc đầu, giơ tay ra làm hình vòng cung, và nói.

"Cô ấy bảo Con đi vòng khác Mẹ," Vy dịch. "Có đêm hai mẹ con đi cùng. Có đêm Con đi một mình. Có đêm không thấy Con."

"Hỏi cô ấy bao lâu thì hai cái lên cùng."

Vy hỏi. A Xuyến trả lời ngay, không cần nghĩ.

"Mười một đêm," Vy dịch. "Cứ mười một đêm."

Se-ra khắc con số mười một lên tấm vỏ cây, và cô khắc mạnh tới mức que gãy.

"Cô ấy biết cái này từ bé," cô nói. "Cả tộc cô ấy biết. Bọn trẻ con ở đây lớn lên với hai mặt trăng như mình lớn lên với một."

*

Sáng hôm sau, không ai dậy muộn.

Đó là điều Nam để ý đầu tiên, và anh không đoán trước được.

Bà Tư nhóm bếp đúng giờ. Đội củi đi đúng giờ. Khang gánh nước, Tuấn trực lò, hai chị hành chính vào bếp học nấu. Bảng phân công trên vách được đọc to như mọi buổi sáng khác.

Nhưng có những thứ khác đi.

Người ta làm việc chậm hơn một nhịp và kỹ hơn một bậc. Cái giàn phơi cá hôm ấy được buộc lại toàn bộ dây, dù nó chưa lỏng. Chính bỏ cả buổi sáng ra mài lại mặt đe cho phẳng, việc mà ông đã hoãn ba tuần. Vy cắm lại từng cái que đánh dấu trong vườn, và cô khắc lại ký hiệu trên que nào đã mờ.

Không ai nhìn ra biển tây nữa.

Suốt chín mươi bốn ngày, cứ vài phút lại có một người ngẩng lên nhìn về hướng ấy. Nam đã quen với việc đó tới mức không còn thấy nó. Sáng hôm ấy anh mới thấy — vì nó không còn.

Đến trưa, Trân cho tháo cái ca canh tàu cứu hộ.

Việc tháo mất hai phút: cô gạch một dòng trên bảng phân công và viết một dòng khác đè lên.

Người trực đêm ấy, thay vì ngồi trên mỏm đá nhìn ra biển, chuyển sang ngồi ở chòi canh nhìn xuống lối lên duy nhất của thềm đá.

Cùng một người. Cùng một chỗ ngồi. Quay lưng lại một trăm tám mươi độ.

*

Se-ra mở sổ trời vào tối hôm đó.

Nó là một tập vỏ cây mỏng, cắt đều, xâu bằng dây gai ở một mép, và trên bìa cô khắc ba ký hiệu của riêng cô.

Cô lập ra một cách ghi và bắt cả người trực đêm phải theo.

Mỗi đêm, đúng ba lần: lúc trời vừa tối hẳn, lúc giữa đêm, và lúc trời bắt đầu xám. Mỗi lần ghi bốn thứ: Mẹ có lên không và ở đâu, Con có lên không và ở đâu, ngôi sao chuẩn cao bao nhiêu nút thắt, và mực nước ở cái cọc dưới bãi.

"Bốn thứ, ba lần, mỗi đêm," cô nói với hội đồng. "Người trực nào cũng ghi được. Không cần hiểu gì cả."

"Ghi bao lâu?" Trân hỏi.

"Một năm."

"Một năm?"

"Ít nhất." Se-ra đặt tập vỏ cây xuống bàn đá. "Muốn biết một năm ở đây dài bao nhiêu ngày thì phải ghi trọn một vòng. Muốn biết Con quay quanh mình mất mấy ngày thì phải ghi mấy chục lần nó lên. Muốn biết con nước theo cái nào thì phải có cả ba cột nằm cạnh nhau."

"Cái đó để làm gì?" Lộc hỏi. Ông ta hỏi không gay gắt, chỉ hỏi.

"Để làm lịch." Se-ra nhìn ông ta. "Ông giữ sổ công, ông biết rõ hơn tôi. Không có lịch thì không biết bao giờ gieo, bao giờ gặt, bao giờ có bão, bao giờ con nước lớn. Chúng ta đang đếm ngày bằng vạch trên cột. Đếm vạch thì biết hôm nay là ngày thứ chín mươi lăm, nhưng không biết ba tháng nữa trời thế nào."

Lộc gật đầu chậm.

"Ghi vào sổ công của tôi," ông ta nói. "Một người, một khắc mỗi đêm, cả năm. Cột hoàn vốn tôi để trống, vì tôi chưa tính được."

"Ông cứ để trống," Se-ra nói. "Một năm nữa tôi trả lời ông."

*

Nam về tới thềm đá lúc gần ba giờ sáng.

Anh không ngủ. Anh ngồi xuống cạnh bếp, kéo một tấm vỏ cây sạch về phía mình, và bắt đầu viết.

Anh viết một danh sách.

Sợi và vải. Giấy. Chữ. Thuyền đi biển. Bản đồ. Trường dạy nghề. Kho hạt giống. Nhà ở lâu dài. Bếp lò cho hai trăm người chứ không phải hai chục.

Anh viết tới dòng thứ mười hai thì dừng lại, gạch một đường ngang, và viết dưới đó ba chữ.

Ai dạy ai.

Trân tới ngồi xuống đối diện anh lúc trời bắt đầu xám.

"Anh viết gì thế?"

"Việc phải làm."

"Cho bao lâu?"

Nam đẩy tấm vỏ cây sang phía cô.

"Cho những người sinh ra ở đây," anh nói.

Trân đọc hết danh sách, không bỏ dòng nào, kể cả ba chữ gạch dưới ở cuối.

"Tôi từng quản một phòng hai mươi người," cô nói, không ngẩng lên. "Lịch họp, ngân sách, ai báo cáo ai. Tôi giỏi việc đó. Sáng nay tôi nhận ra là cái phòng đó không còn tồn tại ở đâu cả, kể cả trong đầu tôi."

"Chị đang quản một trại hai mươi tám người."

"Không giống nhau." Trân gấp tấm vỏ cây lại, rất chậm. "Cái phòng cũ, tôi biết chắc là nó vẫn còn đó, chỉ là tôi không ở trong đó nữa. Cái này thì không có gì để so sánh. Không có ngày tôi quay lại."

Cô đứng dậy, gấp tấm vỏ cây lại làm đôi rồi cài vào cuốn sổ da của mình, và không nói thêm gì trước khi đi.