Chương 20: Thuyền hai buồm
Thuộc tiểu thuyết Đế Chế Bắt Đầu Từ Hoang Đảo
Tác giả: Hà Tinh Vân · Thể loại: Khoa Huyễn · Đăng ngày · 2191 từ · khoảng 11 phút đọc
Ngày thứ chín mươi bảy, lúc chín giờ hai mươi sáng, người trực chòi canh gõ đá.
Ba tiếng gõ, ngừng, ba tiếng gõ. Đó là hiệu Mai đặt ra và bắt cả trại thuộc từ hai tuần trước.
Nam đang ở lò rèn. Anh bỏ kìm xuống và chạy.
*
Cánh buồm ở cách bờ chừng bốn cây số, phía tây bắc, và nó đang đi vào.
Nó màu nâu sẫm, hình chữ nhật, căng trên một cột buồm nghiêng về trước. Sau nó có thêm một cánh nhỏ hơn.
"Hai buồm," Chính nói. Ông đứng trên sàn chòi canh, tay che mắt. "Thân dài. Mười lăm mét là ít. Có chèo nữa, tôi thấy nước bắn hai bên mạn."
"Bao lâu thì tới?"
"Gió này thì một tiếng. Có chèo thì nhanh hơn."
Nam quay xuống.
Trân đã đứng ở chân chòi canh với cuốn sổ.
"Dập bếp," anh nói. "Dập hết. Bếp ba nồi, lò rèn, lò gốm. Rải cát lên than."
"Khói đã bốc từ sáng rồi."
"Tôi biết. Dập thì nó vẫn thấy khói cũ, nhưng nó không biết mình đang có bao nhiêu bếp." Anh chỉ về phía rừng. "Gọi hết người về. Đội củi, đội cát, đội bẫy cá. Tất cả về sau tường."
*
Đội lấy củi hôm ấy có ba người, và họ ở xa nhất.
Khang, Tuấn, và chị Hạnh — người từng theo Lộc xuống bãi nam, người đã lên xin nước sôi hôm ấy.
Họ đi từ bảy giờ, lên hướng tây bắc, và họ không nghe thấy tiếng gõ đá vì gió thổi ngược.
Người chạy đi gọi họ là Mai.
Cô chạy hết ba cây số trong mười lăm phút, tìm thấy họ ở bìa rừng phía tây, và đến lúc bốn người quay xuống thì chiếc thuyền đã vào tới sát bờ.
Nó không cập ở bãi cát đen. Nó cập ở bờ tây, chỗ có một vụng nhỏ khuất gió, và đó là chỗ nằm đúng giữa đội củi và đường về thềm đá.
*
Tám người xuống thuyền.
Mai nằm sấp trên gờ đá cùng ba người kia và đếm.
"Tám. Có bốn cầm cung." Cô nói rất khẽ. "Trên thuyền còn nữa. Ít nhất hai chục."
"Giờ làm sao chị?" Tuấn thì thào.
"Nằm im. Chờ nó đi lên phía trên, mình vòng dưới bãi."
Họ nằm im hai mươi phút.
Nhóm tám người kia không đi lên phía trên. Họ tản ra thành hàng ngang và bắt đầu đi dọc bờ, về đúng hướng có bốn người đang nằm.
Mai đợi tới lúc khoảng cách còn hai trăm bước.
"Chạy," cô nói. "Theo tôi. Không quay lại."
Họ chạy.
Có tiếng hô phía sau. Rồi tiếng chân. Rồi tiếng gì đó rít qua không khí, và một mũi tên cắm vào thân cây bên trái Nam ba bước — nếu Nam có ở đó, nhưng anh không ở đó, anh đang ở trên thềm.
Người ngã đầu tiên là Hạnh.
Chị chạy chậm nhất vì chị bốn mươi bảy tuổi và vì chị đang vác một bó củi mà chị không chịu bỏ. Mũi tên vào giữa lưng.
Chị ngã sấp, và bó củi bung ra lăn xuống dốc.
Tuấn quay lại.
"Đừng!" Mai hét.
Tuấn không nghe. Cậu ta quay lại, chạy ngược lên bốn bước, cúi xuống nắm lấy tay chị Hạnh.
Cậu ta kéo được chị lên nửa người thì hai người kia tới nơi.
Khang lao vào. Cậu ta không có vũ khí. Cậu ta đấm được một người, và người thứ hai đập cán cung vào gáy cậu ta.
Mai đứng lại ở lưng chừng dốc, cây giáo sắt trong tay, cách đó bốn chục bước.
Bốn người cầm cung đã lên tới hàng đầu và đang giương.
Cô đứng đó ba giây.
Rồi cô quay đi và chạy.
*
Cô về tới thềm đá lúc gần trưa, và cô không nói được câu nào trong hai phút đầu.
Rồi cô nói, và cô nói hết, không bỏ chi tiết nào, kể cả ba giây cô đứng nhìn.
Nam nghe xong thì quay sang Trân.
"Đóng lối lên. Xếp đá. Tất cả vào sau tường."
"Còn hai đứa nó?" bà Tư hỏi. Giọng bà vỡ ra. "Còn thằng Tuấn với thằng Khang?"
"Chúng nó bị bắt sống, không bị giết," Mai nói. "Bị trói, lôi xuống thuyền. Tôi thấy tận mắt."
"Thế thì mình xuống lấy về!"
"Bằng gì?" Mai hỏi.
Không ai trả lời.
"Tôi có ba mũi giáo sắt và năm người tập được sáu tuần," cô nói. "Bên kia ba mươi người, có cung, có giáp, có đao. Tôi xuống thì tôi chết, và chết xong thì trại này không còn ai biết đánh nhau nữa."
Bà Tư ngồi xuống đất.
Nam đứng im.
"Anh nói gì đi chứ," Vy nói.
Anh không nói gì trong mười giây.
"Tôi sai," anh nói.
"Anh sai cái gì?"
"Tôi biết có thuyền từ ngày thứ tám mươi hai. Tôi biết cái thuyền đó bị bắn. Tôi biết trên đảo này có hai mươi chín người và ba mũi giáo." Anh nhìn xuống bàn tay mình. "Và tôi dành mười lăm ngày qua để làm sổ trời, làm vườn, và bàn xem đặt tên đảo là gì."
Trân bước tới đứng cạnh anh.
"Anh sai một mình à?" cô hỏi.
"Chị Trân—"
"Hội đồng có tám ghế. Tôi ngồi ghế thứ nhất." Cô quay sang mọi người. "Sai thì sai cả tám. Bây giờ thì im, và nghe anh ấy nói phải làm gì."
*
Họ xuống lấy xác chị Hạnh lúc trời tối hẳn.
Bốn người đi: Mai, Nam, Chính và Dương. Không đuốc. Mai dẫn đường bằng trí nhớ, và họ mất bốn mươi phút cho quãng đường ban ngày đi mười lăm phút.
Chị nằm ở chỗ chị ngã, trên dốc, mặt úp xuống. Bó củi vẫn nằm rải quanh chị.
Dương quỳ xuống kiểm tra trước, dù ai cũng biết rồi.
"Mũi tên vào phổi phải," chị nói. "Nếu tôi có mặt ở đây lúc ấy thì tôi cũng không làm gì được."
Chính cởi áo ngoài trải xuống đất. Bốn người khiêng chị lên áo, buộc bốn góc vào hai đòn tre, và khiêng lên.
Trên đường về, không ai nói gì cho tới khi qua khỏi khúc dốc.
"Ba giây," Mai nói.
Không ai hỏi lại.
"Tôi đứng ba giây," cô nói tiếp. "Nếu tôi lao xuống ngay từ giây thứ nhất thì tôi tới chỗ thằng Tuấn trước bọn nó. Tôi tính rồi. Bốn chục bước, tôi chạy hết sáu giây."
"Rồi bốn cái cung bắn cô," Chính nói.
"Vâng."
"Rồi trên này còn hai mươi sáu người không ai biết dùng giáo."
"Vâng." Mai đổi vai khiêng. "Tôi biết là tôi tính đúng, bác Chính ạ. Tôi chỉ không biết phải làm gì với ba giây ấy."
Dương đi phía sau, và chị lên tiếng sau một quãng dài.
"Cô Mai, tôi mổ hai mươi năm rồi," chị nói. "Có ca tôi chọn cứu người này thay vì người kia, vì tôi chỉ có hai bàn tay. Tôi chưa quen được lần nào cả."
"Vậy chị làm sao?"
"Tôi ghi lại. Tên, ngày, và tôi đã chọn gì." Dương im một lúc. "Không phải để dằn vặt. Để lần sau chọn nhanh hơn."
*
Chị Hạnh được chôn sáng hôm sau, cạnh mộ ông Hoà.
Trân đọc tên chị, tuổi, và công ty cũ. Rồi cô đọc thêm một dòng nữa mà cô không đọc cho ông Hoà.
"Bốn mươi bảy tuổi. Ba tháng trước xuống bãi nam. Hai tháng trước quay lên. Chết ngày thứ chín mươi bảy, khi đang vác củi về cho bếp."
Nam khắc lên phiến đá tên chị và hai chữ số: chín bảy.
Rồi anh khắc thêm hai chữ nữa ở dưới, hai chữ mà anh nghĩ ra lúc đang khắc.
Bà Tư đọc chúng, rồi quay đi.
Trên đá viết: chưa xong.
*
Hội đồng họp lúc mười giờ sáng ngày thứ chín mươi tám, và cuộc họp ấy chỉ có một câu hỏi.
"Ba đường," Nam nói. Anh vạch ba vạch lên tấm ván. "Trốn. Chạy. Đánh."
"Trốn thế nào?" Trân hỏi.
"Dập hết lửa, dỡ hết dấu vết, cả trại rút vào hang trên núi, sống trong đó tới khi nó đi." Anh gạch chéo vạch thứ nhất. "Không được. Nó đã thấy khói, thấy củi cưa, và nó bắt được hai người của mình. Hai người đó biết mọi thứ trên thềm đá này. Không ai chịu được đòn tra."
"Chạy?"
"Chạy đi đâu? Ta có một cái bè cũng không." Anh gạch chéo vạch thứ hai.
Không ai nói gì.
"Đánh," Lộc nói. "Ba mươi thằng có cung có đao, đánh bằng cái gì?"
Nam không trả lời ngay.
Anh đứng dậy, đi tới chỗ ba cái chậu gốm vẫn nằm trong hốc đá từ ngày thứ hai mươi tám, và bê cả ba ra đặt lên bàn đá.
Anh mở nắp từng cái.
Chậu thứ nhất: bột đá bọt xám.
Chậu thứ hai: tinh thể lưu huỳnh vàng chanh.
Chậu thứ ba: thứ bột trắng cạo từ vách Hang Dơi Máu, đã khô lại thành từng mảng cứng.
"Bằng cái này," anh nói.
Se-ra nhìn ba cái chậu, rồi nhìn mặt Nam, rồi cô ngồi thẳng dậy rất nhanh.
"Anh biết cái chậu thứ ba là gì," cô nói. "Anh biết từ hôm anh mang nó về."
"Tôi ngờ."
"Bảy mươi ngày nay anh không nói."
"Bảy mươi ngày nay chúng ta không có ai để dùng nó." Nam đậy nắp chậu thứ ba lại. "Bây giờ thì có."
*
Kình Hoành đứng ở mũi thuyền và nhìn lên vách đá.
Hắn nhìn khói.
Khói đã tắt được nửa canh giờ, nhưng cột khói cũ vẫn còn vương trên đỉnh vách thành một vệt mờ, và hắn đã nhìn nó từ lúc còn cách bờ hai dặm.
Khói không phải khói củi.
Hắn biết khói củi. Khói củi đục, tãi ra, tan nhanh. Cái này mảnh hơn, thẳng hơn, và bốc lên cao hơn nhiều trước khi nghiêng theo gió.
Đó là khói của một cái lò có ống.
"Bẩm," một tên tới đứng sau lưng hắn. "Hai thằng, một con mẹ. Con mẹ chết rồi."
"Hai thằng còn sống?"
"Còn. Đang trói dưới khoang."
"Chúng nó mặc gì?"
Tên kia ngẩn ra.
"Bẩm, mặc... áo lạ. Vải mỏng. Có cái hình vẽ trước ngực."
Kình Hoành gật đầu chậm.
Hắn đã đi tuyến này mười một năm. Hắn biết mọi hòn đảo trong vùng Trảo Long, biết hòn nào có nước, hòn nào có người, hòn nào chỉ có chim. Hòn này là hòn không có gì.
Hắn cúi xuống bó củi bung ra trên dốc, nhặt một thanh lên, và nhìn mặt cắt.
Mặt cắt phẳng. Nhẵn. Không phải vết rìu đá đẽo nham nhở, không phải vết cưa gãy răng.
Hắn xoay thanh củi trong tay hai vòng.
"Về," hắn nói.
"Bẩm, không lên xem à? Trên kia có nước ngọt, có—"
"Về." Kình Hoành ném thanh củi xuống. "Gọi cả ba thuyền. Bảo lão Cửu là ta tìm được chỗ đặt trạm."
*
Chiếc thuyền rời bờ tây lúc gần tối, và nó đi về hướng tây bắc.
Trên thềm đá, hai mươi bảy người đứng nhìn theo nó cho tới khi cánh buồm nâu chỉ còn bằng đầu ngón tay.
Nam đợi tới lúc không còn nhìn thấy gì nữa mới nói.
"Nó sẽ quay lại," anh nói.
"Sao anh chắc?" Lộc hỏi.
"Vì nó không lên đây. Nó thấy khói, nó bắt được hai người, và nó vẫn không lên." Nam quay lại phía mọi người. "Nếu nó nghĩ trên này là một bộ tộc đói rách thì nó đã lên rồi. Nó về là vì nó thấy cái gì đó khiến nó muốn về gọi thêm người."
"Bao lâu?"
"Không biết. A Xuyến bảo đất lớn cách đây ba đêm thuyền. Nếu chỗ nó ở gần hơn thì ít hơn."
Se-ra đã ngồi xuống với tấm vỏ cây.
"Gió mùa này thổi hướng đông bắc," cô nói. "Nó đi ngược gió, về xuôi gió. Đi bốn ngày, quay lại ba. Cộng thời gian gọi người."
"Chín ngày," Nam nói. "Ta tính chín ngày. Nếu nó tới sớm hơn thì ta chết."
*
A Xuyến đứng ở mép thềm, và cô đã đứng đó từ lúc chiếc thuyền còn ở trong tầm mắt.
Vy tới đứng cạnh cô.
"Chị biết thuyền đó," Vy nói. Không phải câu hỏi.
A Xuyến gật.
Cô nói một câu bằng tiếng của cô, dài, và Vy chỉ hiểu được ba từ.
Rồi cô nói lại, bằng tiếng Việt, chậm rãi, từng chữ một, và cô nói to đủ cho cả những người đứng sau nghe thấy.
"Hắc Kình," cô nói. "Thuyền Hắc Kình. Người đầu tên Kình Hoành."
Cô đưa tay chỉ về phía tây bắc, về cái chấm đã biến mất.
"Nó bắt mẹ tôi," cô nói. "Bắt em tôi. Bắt tôi."
Cô hạ tay xuống.
"Nó sẽ về," cô nói. "Nó luôn về."