Chương 23: Bốn mươi tám

Thuộc tiểu thuyết Đế Chế Bắt Đầu Từ Hoang Đảo

Tác giả: · Thể loại: Khoa Huyễn · Đăng ngày · 2668 từ · khoảng 13 phút đọc

Ba chiếc thuyền cập vụng bờ tây lúc sáu giờ mười.

Se-ra đếm người xuống, đếm hai lượt, rồi đếm lại lượt thứ ba vì cô không tin lượt thứ nhất.

"Bốn mươi tám," cô gọi xuống. "Có thể năm mươi. Còn người trên thuyền."

Nam đứng ở chân chòi canh và nghe con số ấy.

Anh đã nói ba mươi. Anh đã nói với hội đồng, nói với mười ba người sau tường, nói với chính mình suốt chín ngày.

"Anh Nam?" Trân hỏi.

"Tôi sai," anh nói. "Truyền xuống: sai. Bảo mọi người biết là năm chục, đừng để ai nhìn thấy rồi mới biết."

*

Kình Hoành chia quân ở chân dốc.

Hắn đứng đó chừng mười phút, ngẩng lên nhìn vách đá, nhìn cái tường vữa mới trên đỉnh dốc, nhìn ba khe hở hẹp trên tường.

Rồi hắn chỉ tay về phía bắc, và mười hai người tách ra đi vòng.

"Nó chia quân," Mai nói.

"Ừ."

"Anh bảo nó sẽ không chia."

"Tôi bảo tôi nghĩ nó sẽ không chia." Nam nhìn nhóm mười hai người biến vào rừng. "Bây giờ thì nó chia rồi."

*

Ba mươi sáu người còn lại lên bằng lối chính lúc bảy giờ.

Họ lên chậm, thành hàng đôi, và người đi đầu cầm một tấm ván lớn giơ chéo trước mặt.

Ở bậc thứ mười hai, người thứ ba ngã.

Chân anh ta sụt xuống chỗ lõm phủ cát, cả người đổ về trước, và anh ta lăn xuống bốn bậc, kéo theo hai người phía sau.

Hàng ngũ dồn lại.

"Bây giờ," Mai nói.

Bốn cây nỏ bắn cùng lúc qua ba khe hở.

Ở khoảng cách bốn mươi bước, dốc lên, hàng ngũ chen nhau, bốn mũi tên không thể trượt cả bốn.

Hai người đổ xuống. Tấm ván che rơi. Có tiếng hô, rồi tiếng hô ấy đổi thành tiếng gào, và cả hàng dồn lùi hai bậc.

"Nạp," Mai nói. "Không bắn."

Họ nạp. Hai mươi hai nhịp cho cả bốn cây.

Bên dưới, hàng ngũ dựng lại tấm ván, và lần này có ba tấm.

"Bắn."

*

Loạt thứ ba không dừng được họ.

Đến bậc thứ hai mươi, ba tấm ván đã lên tới khoảng giữa dốc, và sau ba tấm ván ấy là hai chục người.

Chính đứng ở chỗ chồng đá bên trái, tay đặt trên cây cọc, và ông nhìn xuống.

Ông đợi tới khi tấm ván đầu tiên đi qua khỏi chỗ hẹp.

Rồi ông rút cọc.

Chồng đá tảng đổ xuống lối dốc. Nó không lăn nhanh. Nó đổ ập, chèn lên nhau, và nó nghiến qua chỗ hẹp trong ba giây.

Tiếng người bị đá đè khác tiếng người bị bắn. Chính nghe thấy nó, và ông ngồi thụp xuống sau gờ đá, hai tay bịt lấy tai, và ông ngồi như thế mười lăm giây trước khi đứng dậy đi sang chồng đá thứ hai.

*

Ở khúc hẹp phía dưới, chỗ hai vách đá gần nhau nhất, có một thứ được chôn từ ba ngày trước.

Nam đã đặt nó ở đó, một mình, và anh là người duy nhất biết chính xác nó nằm ở đâu.

Anh đứng sau tường, tay cầm sợi dây dẫn lửa kéo dài lên tới chân tường, và anh đợi.

Anh đợi tới khi số người dồn ở khúc hẹp ấy nhiều nhất.

Rồi anh châm.

Anh đếm tới bảy thì không có gì. Anh đếm tới mười một.

Tiếng nổ đập vào ngực tất cả những người đứng sau tường, và bụi cùng mảnh tre bốc lên khỏi miệng dốc thành một đám xám.

Nam không nhìn.

Anh quay mặt vào trong tường, hai tay bám lấy mép đá, và anh ở tư thế ấy trong bốn giây trước khi quay lại.

Dưới dốc, không còn ai đứng ở khúc hẹp.

Những người phía sau khúc hẹp thì đang chạy xuống.

*

Giữa hai lần đá lăn có một khoảng lặng dài chừng một khắc, và khoảng lặng ấy khó chịu hơn cả lúc đánh.

Bên dưới, quân Hắc Kình rút xuống chân dốc, tản ra sau các mỏm đá, và ngồi. Chúng không rút hẳn. Chúng chờ.

Trên tường, tám người không ai nói gì. Có tiếng nạp dây nỏ. Có tiếng ai đó nôn ở phía sau, rồi tiếng nước dội.

Lộc lên tới nơi đúng lúc ấy, một tay xách giỏ cá, một tay bám vách.

"Nước tới đâu?" Mai hỏi mà không quay đầu.

"Bể còn ba phần tư. Nồi trên bếp đủ hai lượt nữa." Ông ta đặt giỏ xuống, và ông ta bắt đầu đọc, giọng đều như đọc sổ. "Mũi tên: khe trái mười một, khe giữa chín, khe phải mười bốn. Dây nỏ: bốn cây còn tốt, cây thứ hai giãn, tôi đã bảo thay. Người: hai mươi bảy, không ai bị thương. Đá lăn: còn một chồng."

"Ông đếm cả lúc nãy à?"

"Tôi đếm suốt." Lộc lau mặt bằng vạt áo. "Cô Mai, tôi hỏi một câu ngoài sổ được không?"

"Hỏi."

"Nó ngồi dưới đó chờ cái gì?"

Mai nhìn xuống dốc một lúc.

"Chờ chúng ta bắn hết tên," cô nói.

Lộc đứng im hai giây. Rồi ông ta xách giỏ không, quay xuống, và Nam nghe ông ta hét với xuống phía nhóm hậu cần: "Thu tên! Xuống dốc thu tên! Ai xuống được thì xuống ngay bây giờ!"

Bốn người của ông ta bò xuống bậc thứ mười, nhặt được hai mươi hai mũi tên gãy và lành lẫn lộn, và bò lên khi tiếng tù và bên dưới nổi lên lần thứ hai.

*

Người canh đường bắc chạy về lúc bảy giờ bốn mươi.

Cậu ta chạy tới nơi thì ngã, và cậu ta chỉ nói được ba chữ.

"Lên rồi. Đông."

Nam quay sang Mai.

"Mấy?"

"Mười hai." Cô đã tính điều này từ đêm qua. "Tường bắc có ba người và hai giáo tre."

"Bỏ tường bắc."

"Bỏ thì nó vào thẳng khu chị Dương."

"Bỏ tường bắc, dồn hết về sân giữa. Chị Dương lùi vào sau tường vữa cũ, ông Lộc đưa người không đánh được lên núi ngay bây giờ, không đợi khói vàng." Nam nói nhanh, không dừng. "Cô lấy hai nỏ, tôi lấy ba giáo, chúng ta chặn nó ở chỗ hẹp giữa bể nước và vách."

"Còn dốc chính?"

"Bác Chính giữ với hai nỏ. Nó vừa mất hơn hai chục người, nó không lên ngay đâu."

Mai nhìn anh một giây.

"Anh đi giữa," cô nói. "Không đi đầu."

*

Chỗ hẹp giữa bể nước và vách rộng bằng ba người đi ngang.

Mười hai người tới đó lúc tám giờ kém mười, và họ tới với vũ khí nhẹ vì họ đã leo hai tiếng.

Trận đó kéo dài chín phút.

Nam không nhớ được thứ tự. Về sau anh cố nhớ và chỉ nhớ được từng mảnh rời.

Anh nhớ hai loạt nỏ đầu tiên bắn ở khoảng cách mười lăm bước. Anh nhớ một người cầm đao lao qua khoảng trống giữa hai loạt và Mai đón anh ta bằng cán nỏ vào mặt. Anh nhớ mình đâm một cây giáo sắt vào một cái gì đó mềm và nặng, và cán giáo giật ngược lại làm anh trẹo cổ tay.

Anh nhớ mình bị đẩy ngã ngửa vào thành bể nước.

Anh nhớ nhìn lên thấy một lưỡi đao đang xuống.

Anh nhớ nó không xuống tới nơi.

Mai đỡ nhát ấy bằng thân cây nỏ. Cây nỏ vỡ. Cánh nỏ bật ra, dây đứt quất ngang mặt cô một vệt, và cô lấy cái thân nỏ gãy ấy đập vào thái dương người kia hai lần.

Sau đó anh nhớ bà Tư.

Bà chạy tới từ phía bếp, hai tay bê một cái nồi gốm lớn đang bốc hơi, và bà hắt cả nồi nước sôi vào ba người đang dồn ở chỗ hẹp.

Tiếng ba người ấy làm những người phía sau lùi lại.

Bà Tư đứng đó, cái nồi rỗng trong tay, thở dốc.

"Còn nữa!" bà hét về phía bếp. "Con Xoan ơi, bắc nồi nữa!"

*

Kình Hoành rút lúc chín giờ mười.

Hắn không rút vì thua ở lối chính. Hắn rút vì nhóm mười hai người của hắn ở mặt bắc còn lại bốn, và bốn người ấy chạy xuống dốc bắc kêu một tiếng gì đó mà cả trại không hiểu nhưng ai cũng hiểu.

Ba chiếc thuyền rời vụng bờ tây lúc mười giờ.

Chỉ hai chiếc ra khỏi vụng.

Chiếc thứ ba, chiếc nhỏ nhất, mắc cạn ở mép đá ngầm khi nước rút, và đám người trên đó bỏ nó lại, lội sang hai chiếc kia.

Se-ra đứng trên chòi canh nhìn theo hai cánh buồm nâu cho tới khi chúng chỉ còn bằng đầu ngón tay.

Rồi cô ngồi xuống sàn chòi và cô ngồi đó rất lâu.

*

Họ xuống chiếc thuyền mắc cạn lúc mười một giờ.

Nó nằm nghiêng trên đá ngầm, đáy thủng một mảng, khoang ngập tới nửa.

Trong khoang sau, dưới một tấm ván, có hai người bị trói bằng dây gai, cổ chân xâu chung một sợi xích sắt.

Khang còn sống.

Cậu ta bất tỉnh, mất nước nặng, mặt sưng một bên, hai bàn tay tím vì bị trói quá chặt quá lâu. Nhưng cậu ta thở.

Tuấn thì không.

Dương xuống khoang, kiểm tra, và chị mất chưa tới một phút.

"Ba ngày rồi," chị nói khi lên. "Có thể bốn."

Không ai hỏi vì sao.

Chính chặt sợi xích bằng đục sắt và búa, đúng cái đục ông làm hồi tháng thứ hai, và ông phải đánh hai mươi ba nhát mới đứt.

*

Cái yên lặng sau đó không giống bất cứ cái yên lặng nào trước nó.

Không có reo hò. Có mấy người ngồi thụp xuống ngay tại chỗ mình đứng, tay vẫn cầm giáo, và ngồi như thế rất lâu. Có người đi vòng quanh thềm đá gọi tên từng người một, không phải để kiểm đếm mà chỉ để nghe tiếng đáp.

Bà Tư đứng giữa sân, cái nồi rỗng vẫn trên tay, và bà không nhớ đặt nó xuống. Vy phải gỡ từng ngón tay bà ra khỏi quai nồi.

Mùi thì ở lại lâu nhất. Khói, máu, nước tiểu, và cái mùi khét của tóc cháy ở chỗ hoả công — cả bốn thứ trộn vào nhau và bám trên thềm đá suốt ba ngày sau đó, dù trời có gió.

Nam ngồi xuống bậc đá đầu dốc và nhìn xuống.

Trên bốn mươi bậc ấy có mười chín cái xác nằm ở những tư thế mà không ai chọn. Ở khúc hẹp, chỗ ống tre nổ, đá vỡ trắng ra và có những thứ anh không nhìn kỹ.

Anh làm cái việc mà anh vẫn làm khi không biết làm gì khác: anh đếm.

Mười chín dưới dốc. Bốn ở mặt bắc. Bảy người bị thương của mình. Bốn người của mình không dậy nữa.

Rồi anh nhận ra mình đang đếm người chết như đếm bao cát, và anh dừng lại giữa chừng.

Anh ngồi đó cho tới khi Dương gọi anh xuống giữ chân cho một ca nắn xương.

*

Bốn người chết.

Tuấn, hai mươi ba tuổi, thuỷ thủ.

Định, ba mươi mốt tuổi, người gãy chân trong bão, người chống nạng ra tiếp mũi tên cho tường chính và ngã ở bậc thứ hai vì một mũi tên bắn lên.

Anh Bảy, năm mươi tuổi, bếp phó.

Chị Loan, ba mươi tám tuổi, người của nhóm hậu cần, chết ở chỗ hẹp giữa bể nước và vách khi đang khiêng cáng.

Bảy người bị thương. Ba người nặng.

Dương làm việc từ mười giờ sáng tới bốn giờ chiều không nghỉ, và chị dùng hết bốn mươi mốt cuộn băng trong sáu mươi cuộn đã chuẩn bị.

Cánh tay phải của Mai không nhấc lên quá vai được nữa. Dương nắn, băng, treo, và cấm cô chạm vào nỏ trong ba tuần.

Mai không cãi. Đó là điều làm Dương lo nhất.

*

Lộc về từ hang trên núi lúc gần tối, dẫn mười một người xuống.

Ông ta đi thẳng tới chỗ Trân, mở sổ ra, và đọc.

"Mười một người lên, mười một người xuống. Không ai lạc, không ai bị thương." Ông ta lật trang. "Nước còn trong bể: hai phần ba. Cá khô còn hai mươi phần. Mũi tên thu lại được ở dốc chính: bốn mươi bảy cái, gãy mười một. Nỏ: hỏng hai, còn hai."

Ông ta lật thêm một trang, chậm hơn.

"Thuốc nổ: một quả, dùng ở khúc hẹp. Cô Se-ra bảo tôi ghi là còn mười một, và ghi thêm là mười một đó tính trên chỗ dễ cạo, không tính chỗ còn kẹt trong đá." Lộc ngước lên. "Một trận đánh tiêu một phần mười hai cái kho đó, chị Trân ạ. Tôi không biết trận sau chúng ta còn được mấy phần mười hai."

Trân không nói gì một lúc.

"Ghi vào bảng chung," chị nói. "Ai cũng nên biết con số đó, không chỉ bốn người."

Ông ta gấp sổ.

"Và bốn người," ông ta nói.

"Anh biết rồi?"

"Tôi thấy từ trên núi." Lộc ngồi xuống bậc đá. "Tôi đứng ở cửa hang, tôi nhìn xuống được cả thềm."

Ông ta ngồi im một lúc.

"Chị Trân này."

"Sao?"

"Ba tháng trước tôi kéo bảy người xuống bãi nam." Ông ta nói với hai bàn tay mình. "Sáng nay tôi dẫn mười một người lên núi, và suốt hai tiếng đứng trên đó tôi chỉ nghĩ đúng một câu."

"Câu gì?"

"Đừng để cái tường vỡ."

*

Họ đào bốn cái huyệt trước khi trời tối.

Đất sau vách gió cứng, và với bốn cái cuốc sắt thì việc ấy mất hai tiếng thay vì cả ngày.

Trân đọc bốn cái tên, tuổi, và nghề cũ. Rồi cô đọc thêm một dòng cho mỗi người, dòng do chính cô nghĩ ra và ghi vào sổ trước khi đọc.

Với Tuấn, cô đọc: người quay lại.

Bà Tư thắp bốn bó cỏ khô.

Nam khắc bốn phiến đá. Anh khắc tên, khắc số ngày, và ở phiến của Tuấn anh dừng lại rất lâu trước khi khắc thêm.

Cuối cùng anh khắc một dòng ngắn.

Trên đá viết: đã đọc to bảng quy trình nung gốm, chương một, ngày thứ mười hai.

Vy đọc dòng ấy, và cô phải bỏ đi chỗ khác.

*

Đêm ấy Nam ngồi một mình ở chỗ cột lịch.

Anh không khắc vạch. Người trực đã khắc rồi: một trăm lẻ bảy vạch, chia thành từng cụm năm, gạch chéo mỗi bảy vạch.

Anh ngồi đó, hai tay đặt trên đầu gối, và cổ tay trẹo của anh đã bắt đầu sưng lên.

Thuỳ Dương tới, ngồi xuống, cầm lấy cổ tay ấy mà không hỏi, và bắt đầu nắn.

"Bốn," anh nói.

"Bốn." Chị nắn tiếp. "Anh định nói gì nữa?"

"Tôi tính ba mươi. Nó tới năm chục."

"Ừ."

"Nếu tôi tính đúng thì Tuấn với chị Loan còn sống."

Dương buộc một dải vải quanh cổ tay anh, buộc chặt, thắt nút.

"Anh Nam," chị nói. "Tôi nói cái này một lần thôi, rồi anh muốn nghĩ thế nào thì nghĩ."

"Chị nói đi."

"Sáng nay có bốn mươi tám người lên cái dốc kia. Bây giờ ở đây còn hai mươi lăm người của mình." Chị buông tay anh ra. "Ba tháng trước, hai mươi chín người chúng ta không đun nổi một nồi nước. Nếu sáng nay là ba tháng trước thì bây giờ ngoài kia không còn ai cả."

Nam nhìn xuống cái cổ tay đã băng.

"Tôi vẫn tính sai."

"Vâng. Anh tính sai." Dương đứng dậy, xách túi. "Lần sau anh cứ tính, rồi cộng thêm một nửa vào, như tôi vẫn làm với số băng."